VI | EN
Bài thơ khắc đá của vua Lê Lợi ở vùng núi tỉnh Cao Bằng (Tạp chí Hán Nôm, số 1 (110) 2012 (tr.46 - 49)
(Tạp chí Hán Nôm, số 1 (110) 2012 (tr.46 - 49)

BÀI THƠ KHẮC ĐÁ CỦA VUA LÊ LỢI

Ở VÙNG NÚI TỈNH CAO BẰNG

PGS.TS. ĐINH KHẮC THUÂN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Vua Thái Tổ nhà Lê có ba bài thơ trong hai lần Tây chinh, trong đó hai bài đã được giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm. Chúng tôi được biết bài thơ thứ ba này trong chuyến đi khảo sát tư liệu Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm tại tỉnh Cao Bằng năm 2010 và năm 2011(1). Văn bản được sưu tầm và thông tin sơ bộ trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm học năm 2011. Nay xin giới thiệu kỹ hơn về văn bản và tư liệu lịch sử liên quan đến bài thơ này.

1. Văn bản và nội dung bài thơ

Bài thơ được khắc trên vách đá của một ngọn núi nhỏ ở bờ sông Dẻ Rào còn gọi là núi Tiết Điểm, mà người địa phương gọi là Phya Tém. Địa điểm này nay thuộc xã Minh Khai huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng.Bài thơ khắc đá này có niên đại khắc trên bia là năm Thuận Thiên thứ 4 (1431), sớm hơn bài thơ khắc trên vách núi Thác Bờ, Hòa Bình 1 năm.

Về văn bản, bài thơ này bị mất một số dòng ở lời dẫn do nước mưa chảy bào mòn, nhưng vẫn còn lại mấy chữ cuối là "chi cư phiên trấn giả". Phía dưới bài thơ có mấy chữ Hán được viết thêm vào cùng mầu mực được tô trên bia. Có lẽ dòng chữ này là của người đời sau dùng mực tô lại bài thơ, đã viết thêm vào, nên nét chữ rất rõ, dễ đọc. Nội dung bài thơ như sau:

Nguyên văn chữ Hán:(3)

不辭 萬 里 整 師 徒

惟欲 邊 方 赤 子 蘇

天地 不 容 奸 黨 在

古今 誰 赦 叛 臣 誅

忠良 自 可 膺 多 福

暴悖 終 難 保 一 軀

帶礪 不 移 臣 子 節

名垂 萬 世 與 山 俱

順天 四 年 辛 亥 正 月 二 十 日 題 。

Phiên âm:

Bất từ vạn lý chỉnh sư đồ

Duy dục biên phương xích tử tô

Thiên địa bất dung gian đảng tại

Cổ kim thùy xá bạn thần tru

Trung lương tự khả ưng đa phúc

Bạo bột chung nan bảo nhất khu

Đái lệ bất di thần tử tiết

Danh thùy vạn thế dữ sơn câu.

Dịch nghĩa:

Không ngại ngàn dặm, chỉnh đốn quân đội

Chỉ mong biên cương dân chúng được sống yên ổn

Trời đất không dung cho lũ gian đảng

Xưa nay ai tha cho kẻ bề tôi mưu phản

Người trung lương tự khắc được hưởng phúc

Kẻ cường bạo rút cục khó mà toàn thân

Lời thề năm xưa(3) không quên khí tiết của kẻ bề tôi

Tên tuổi sẽ cùng với núi này mà còn mãi.

Ngày 20 tháng Giêng năm Tân Hợi niên hiệu Thuận Thiên thứ 4 (1431) đề.

Dịch thơ:

Nghìn dặm chẳng chùn, chỉnh nhung binh

Mong dân biên ải được an bình

Gian đảng nơi đây trời chu diệt

Phản thần không để được dung tha

Trung lương hẳn được nhiều phúc lộc

Bạo ngược đương nhiên khó dung thân

Giang sơn dầu cải, bền tiết tháo

Mãi mãi danh thơm với núi sông.

(Bản dịch thơ trong Tổng tập Văn học Việt Nam)

2. Sử liệu về cuộc chinh phạt này

Đây là bài thơ làm trong lần Tây chinh thứ nhất của vua Lê Thái Tổ.

Sự kiện này được chính sử cho biết: Năm Thuận Thiên thứ 4 (1431), Lê Thái Tổ tự làm tướng đến bắt thổ tù Bế Khắc Thiệu. Khắc Thiệu vốn là thổ tù có công lao được Lê Lợi cử về chống quân Minh ở Cao Bằng, nhưng sau có ý làm phản, nên Lê Thái Tổ phải thân chinh lên trị tội Khắc Thiệu mà cảm khái làm bài thơ này.

Tài liệu địa chí Cao Bằng thực lục, sách chữ Hán, kí hiệu: A.1129, Phần thứ II: Ghi chép chuyện kỳ lạ (Kỳ sự lục), chép truyện riêng về Bế Khắc Thiệu, có nội dung như sau: Truyện Khắc Thiệu (Khắc Thiệu cố truyện).

"Năm Tân Hợi niên hiệu Thuận Thiên thứ 4 thời Lê Thái Tổ (1431), người ở châu Thái Nguyên phủ Bắc Bình (nay là phủ Cao Bằng) họ Bế tên là Khắc Thiệu theo Thái Tổ bình giặc Minh có công, được sắc ban cho quản lĩnh châu Thái Nguyên làm thực ấp. Bấy giờ có người trong châu là Nông Đắc Thái đem nỏ theo ngầm đi săn. Vào đến trong núi thì gặp mưa, anh ta chạy vội vào hang đá để trú, lát sau mưa tạnh mới đi. Phía trước bỗng thấy một người đi đến, [tr.53] Đắc Thái đón hỏi đi đâu. Người đó nói: “Ngẫu hứng đi săn chơi”, Đắc Thái mừng lắm bèn cùng đi. Đến dưới một cây to cùng ngồi nghỉ nói chuyện về cách bắn. Đắc Thái ngượng nghịu nói: “Nhưng nỏ đã lâu nên kém rồi, bắn không được xa”. Người đó nói: “Ta tặng tương tri một cây nỏ để bắn” rồi trao cho Đắc Thái một cây nỏ bằng đồng và một mũi tên đồng. Đầu mũi tên làm bằng nanh sói, lông mũi tên đều bằng lông chim trĩ. Đắc Thái được nỏ và tên, liền khấu đầu lạy tạ nói: “Đội ơn rất nhiều cảm đức rất lớn”. Người đó nói: “Ngẫu nhiên gặp nhau, trong lòng thấy yêu mến, vật nhỏ này có đáng gì mà tạ ơn”. Đắc Thái hỏi họ tên và quí quán, người đó nói: “Đi đến đấy gần thôi, sau này sẽ có cơ gặp lại, không cần hỏi nhiều”, rồi đứng lên vụt đi. Đắc Thái theo dấu thấy người đó đi vòng theo góc núi rồi không thấy đâu nữa mới biết là thần nhân. Bấy giờ mặt trời đã ngả về tây, Đắc Thái vội trở về [tr.54]. Hôm sau dương nỏ bắn thử, một mũi tên biến thành trăm mũi tên, đã bắn ra rồi lại có thể thu về, quả là thần tiên. Từ đó về sau bách phát bách trúng. Khắc Thiệu biết chuyện Đắc Thái có nỏ thần, đem lễ vật đến phong cho làm Võ kinh tướng quân, rồi mưu phản, ủy binh quyền cho Võ kinh. Mới được hơn một năm, Võ kinh cậy có nỏ thần, bỗng sinh kế gian, ngầm mưu đồ chiếm đoạt. Khắc Thiệu nhòm biết ý bèn ngầm sai em là Cưu giết đi, lấy nỏ đồng và tên để bắn, nhưng tên chỉ bay ngang mà không trúng đích. Năm Nhâm Tý, niên hiệu Thuận Thiên thứ 4 (1432)(4) Thái Tổ Cao hoàng đế tự đem quân lên đánh dẹp, bắt Khắc Thiệu đem về. Nhà cửa lầu điện nền cũ của Khắc Thiệu nay vẫn còn ở địa phận xã Cối Khê châu Thạch Lâm. Bởi vậy mà gọi núi này là núi Khắc Thiệu.

Vua Lê làm một bài thơ ngự chế khắc vào đá núi Ba Điềm để răn bảo, nay chữ còn rõ. Bên cạnh bài thơ có khắc tên phiên thần Thái Nguyên là Ám Quyết vâng lệnh khắc".

Rõ ràng đây là bài thơ được vua Lê Thái Tổ sáng tác trong chuyến chinh phạt Bế Khắc Thiệu năm Thuận Thiên thứ 4 (1431). Bài thơ khắc trên vách đá cũng là để xác định chủ quyền lãnh thổ Đại Việt dưới vương triều nhà Lê vừa giành thắng lợi huy hoàng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

 

Chú thích:

(1)Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gồm: Trịnh Khắc Mạnh, Đinh Khắc Thuân, Trương Đức Quả, Hoàng Văn Nam, Nguyễn Minh Tuân, Vũ Xuân Hiển, Nguyễn Quốc Khánh, Nguyễn Lâm Hiền, Lương Thị Thu.

(2)Toàn Việt thi lục (Toàn Việt) của Lê Quý Đôn sưu tập được bài thơ này, có thêm đầu đề là 親征太原州 (Thân chinh Thái Nguyên châu). Ngoài ra còn có một số chữ khác nhau như Biên phương (câu 2) trong Toàn Việt chép là Biên cương, Tự khả (Câu 5) trong Toàn Việt chép Tự hữu, Bất vong (câu 7) trong Toàn Việt chép là Bất di, Vạn thế (câu 8) trong Toàn Việt chép là Vạn cổ.

(3) Nguyên văn ghi "Đái lệ", là mượn điển trong Sử ký của Tư Mã Thiên nói việc vua Hán Cao Tổ có lời thề rằng dù núi Thái Sơn kia nhỏ bằng hòn đá mài, sông Hoàng Hà kia bé bằng dải áo, thì vẫn không quên công ơn của các công thần. Ý vua Lê Thái Tổ muốn nhắc nhở các bề tôi nên giữ đúng đạo.

(4)Năm Thuận Thiên thứ 4 là năm 1431, ở đây có sự sai khác chút ít với năm Nhâm Tý (1432)./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (110) 2012; Tr.46-49)

Đinh Khắc Thuân
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm