VI | EN
Bài Văn tế Phạm Đình Trọng của Tiến sĩ Trần Danh Lâm (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 51-57).
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 51-57).

BÀI VĂN TẾ PHẠM ĐÌNH TRỌNG CỦA TIẾN SĨ TRẦN DANH LÂM

NGUYỄN MINH TƯỜNG

PGS.TS. Viện Sử học

ĐỖ LAN PHƯƠNG

TS. Viện Nghiên cứu Văn hóa

Tháng Giêng năm Giáp Tuất (1754), Thượng thư Bộ Binh, Thái tử, Thái phó Phạm Đình Trọng (1714-1754) qua đời. Sách Đại Việt sử ký tục biên chép: "Trọng tính khảng khái, có tài lược, đỗ Tiến sĩ, liền tham dự việc quân... Ông là nhà nho mà làm tướng võ, giữ chức trọng có danh vọng, dẫu ra làm quan ở biên trấn, sĩ phu ai cũng đều tưởng trông phong thái. Năm ông mất mới có 41 tuổi, được tặng Thái phó, gia phong Phúc thần, sai quan kính tế"(1).

Danh sĩ Bùi Huy Bích (1744-1802) trong sách Hoàng Việt văn tuyển có tuyển bài Văn tế của Trần Danh Lâm tế Phạm Đình Trọng(2). Nhận thấy đây là một bài văn giầu tính nghệ thuật, ngôn từ được sử dụng tinh xác, nhất là nội dung thể hiện rất rõ sự thương xót, vô hạn của tác giả và người đương thời đối với Phạm Đình Trọng, cho nên, chúng tôi xin phiên âm, dịch nghĩa toàn văn bài Văn tế này, để bạn đọc tham khảo.

Trước khi đi vào bài Văn tế, chúng tôi xin giới thiệu sơ qua về tiểu sử tác giả Trần Danh Lâm. Trần Danh Lâm (陳名林 - 1705-1777), hiệu là Khiêm Trai, quê xã Bảo Triện, huyện Gia Định, nay là thôn Phương Triện, xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Tiến sĩ khoa Tân Hợi, niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Vào đầu đời Cảnh Hưng (1740-1786), ông làm Đốc đồng Cao Bằng, được thăng hàm Hàn lâm viện Hiệu lý, tước Trục Nhạc bá, sau được thăng lên Du Lĩnh hầu.

Năm 1746, ông về Kinh đô Thăng Long giữ chức Hữu Thị lang Bộ Công. Năm 1747, ông được điều đi làm Đốc thị Nghệ An, có công giữ yên trọng trấn, được thăng Thị lang Bộ Binh (1748).

Năm 1759, ông lại về Kinh, được thăng chức Bồi tụng (tức Phó Tể tướng), Phó Đô ngự sử. Năm 1767, thăng Tả Thị lang Bộ Hộ, kiêm chức Ngự sử đài Đô Ngự sử.

Năm 1769, Trần Danh Lâm về trí sĩ, được thăng Thượng thư Bộ Công. Đến năm 1776, chúa Trịnh Sâm lại vời ông ra làm việc ở Bộ Lại.

Trần Danh Lâm là người thanh liêm, khoan hòa, độ lượng. Ông làm quan ở đâu, dân chúng cũng nhớ ơn. Khi vào phủ chúa làm Bồi tụng, khi ở Đài Ngự
sử, khi giữ việc tuyển bổ quan lại, ai cũng suy tôn là người giữ lòng công chính. Ở triều đình, ở phương trấn, ông đều có chính tích tốt.

Ông mất tháng 9 năm 1777, hưởng thọ 73 tuổi. Triều đình Lê - Trịnh truy tặng ông hàm Thái bảo, tên thụy là Trung Lương (tức trung thực và tài giỏi). Ông là thân phụ của danh sĩ Trần Danh Án ( ? - 1794). Tác phẩm của ông, ngoài bài văn tế Phạm Đình Trọng, còn có Hoan Châu phong thổ loại.

Dưới đây là toàn văn bài văn tế Phạm Đình Trọng của Tiến sĩ Trần Danh Lâm.

I. Nguyên văn chữ Hán:

:

:

:

:

:

:

:

豈其:

祿

:

使:

而契針

緒有誰

:

 

II. Phiên âm:

Ô hô! Tướng công hà dĩ tử?

Vi quốc gia ỷ chi!

Vi trụ thạch triều trứ, thị chi,

Vi vũ nghi thương sinh, ngưỡng chi!

Vi vụ vũ phương trấn thị chi,

Vi phiên ly nhất thân du hệ;

Nãi:

Đường Bùi Độ, nhi Tống Hàn Kỳ.

Cái:

Công chi đức độ, túc dĩ trấn phục chúng tâm nhi vi xuất quần chi phượng hạc;

Công chi tài trí, túc dĩ chiết xung vạn lý nhi vi liệu địch chi thi quy.

Kỳ khí vũ như vạn trượng Kim Sơn, mạc năng duyên bộ;

Kỳ hung thứ như thiên tầm Ngọc Hải, nan đắc trắc khuy.

Vân trình phát nhận, tòng sự nha kỳ

Diệu lự thần toán, phu tặc dĩ quy.

Ký nhi:

Điễn thủy côn, tồi thảo khấu;

Bình Nam kiếu, tĩnh Đông duy.

Hoạt cầm thủ ác

Đáo xứ bình Di

Thử giai võ công nhất thí, vị túc dĩ tận, công tháo uẩn chi kỳ.

Cố:

Vị tứ thập nhi Thượng thư, tại nhân vi tảo, tại công tắc vi trì

Dĩ nho quan nhi đốc suất, tại nhân vi dị, tại công tắc vi nghi.

Tức kim:

Danh vọng hiển trứ,

Triều dã hàm suy.

Hoan Diễn chi dân, khủng kỳ tảo ư triều dã, chư Phật dĩ kỳ

Đông Nam chi dân, khủng kỳ cửu ư biên dã, khi túc nhi ti (tư)

Bô khấu vị trừ, nhân vọng công dĩ phác tiễu.

Thời chính hữu khuyết, nhân vọng công dĩ chỉnh ly

Yêm trệ giả ti (tư), đắc công dĩ chấn khởi

Điêu tàn giả ti (tư) đắc công dĩ phong phì.

Tuy kỳ:

Bình định huân danh, ký dĩ kỉ kỳ thường nhi minh đỉnh di.

Nãi ư:

Kinh luân sự nghiệp, do vị lặc kim thạch nhi bá thanh thi.

Thử thần trách vị tận tắc

Tướng công phi khả tử chi.

Thời nại chi hà:

Hoàng lương nhất mộng?

Bệnh bất cập y!

Triều đình vô di biểu, liêu hữu vô di thác, thê tử vô di chúc

Phiêu nhiên viễn thệ, hốt bất tri, kỳ hà chi?

Khởi kỳ:

Hoàn khuê, cổn thường, vinh bất túc mộ?

Cao nha, đại đạo, quý bất túc mi?

Yếm thế hỗn trọc bất phục sự ư khu trì

Tướng dân chi vô lộc nhi thiên mạc khẳng di

Cửu trùng văn chi nhi chấn điệu!

Bách tính văn chi nhi kinh nghi!

Chí như:

Phục công chi uy, há công chi đức, dữ thụ công chi khí.

Sử giả:

Mạc bất chúng tụ, đối Nghi thế, Tứ liên, miện kỳ

Dư lỗ độn, lạm tán nhung cơ, tam niên đồng cán, hữu nhược túy thuần dao nhi khế châm từ;

Phương vọng Kinh nhi đồng bái

Hốt phân duệ dĩ trường từ

Du du tình, tự hữu thùy dữ tri?

Ô hô? Y hy!

Hoành Sơn vân ám!

Áng Hải phong suy!

Tướng công thử khứ

Thảo mộc đồng bi.

Đồ trung nhất điện

Thượng vị thiên hạ đỗng.

Hạ dĩ khốc ngô ti (tư)

Ô hô! Thống tai!

 

III. Dịch nghĩa:

Than ôi!

Tướng công hà cớ gì mà lại chết!?

Ngài là bậc quốc gia dựa cậy:

Như cột trụ, như đá tảng giữa dòng nước xiết, triều đình tưởng trông.

Ngài là bậc văn chương đạo đức, được dân chúng thực sự ngưỡng vọng.

Ngài như cam lộ, mưa lành, phương trấn thảy đều chờ mong.

Một thân ngài làm phên dậu cho triều đình tại chốn địa trọng.

Ngài ví như:

Tướng công Bùi Độ(3) đời Đường, Tể tướng Hàn Kỳ(4) đời Tống.

Bởi vì:

Đức độ của Ngài, đủ để trấn phục lòng người, ví như phượng hạc vượt mọi loài quý.

Tài trí của Ngài, đủ để đánh dẹp muôn nơi, thật là thần toán như bói Thi, Quy(5).

Khí tượng của Ngài như Kim Sơn vạn trượng, chẳng thể vượt qua

Mưu lược của Ngài như Ngọc Hải nghìn tầm, khó lòng đo được.

Đường mây nhẹ bước, cầm cờ đại tướng trấn giữ một phương

Mưu sâu, tính giỏi, bắt luôn giặc mạnh, đưa về phục quy.

Lại như:

Diệt cướp biển, phá giặc dữ

Bình Nam biên, yên Đông xứ

Bắt giặc, tóm ngay đứa cầm đầu

Yên Di, vào tận hang với ổ.

Đó đều là võ công bậc nhất, chẳng thể kể hết, tiết tháo của Ngài thật khác thường!

Cho nên:

Chưa tới bốn mươi, chức Thượng thư, với người là sớm, với Ngài là còn chậm!

Đội mũ nhà Nho mà làm tướng, với người thì lạ, với Ngài đúng sở trường.

Đến nay:

Danh vọng hiển vinh, khắp triều ngoài nội đều suy tôn

Dân miền Hoan Diễn(6) lo sợ Ngài sớm về triều đình, thờ Ngài như thờ Phật

Dân vùng Đông Nam(7) lại lo Ngài lâu ở biên trấn, kiễng chân mà đợi chờ.

Giặc ác chưa bị diệt, dân mong Ngài đến để tiễu trừ.

Chính lệnh nghiêng lệch, dân mong Ngài đến để sang sửa.

Kẻ tài năng bị chìm đắm, có Ngài lại được nhấc lên.

Nơi ruộng nương bị điêu tàn, có Ngài trở nên tốt lạ.

Gặp kỳ:

Bình xét công danh, Ngài thường được khắc vào đỉnh vạc tên đầu.

Nhưng mà:

Kinh luân sự nghiệp của Ngài còn chưa kịp ghi vào bảng vàng, bia đá, sách sử.

Bọn thần trách nhiệm chưa tròn!

Tướng công cớ gì đã tử?!

Làm sao bây giờ:

Thôi cũng một giấc Hoàng lương mộng(8)

Bệnh nặng chẳng gặp được lương y!

Đối với triều đình, không di biểu, với đồng liêu không ủy thác, với vợ con chẳng chút dặn dò.

Bỗng nhiên đi xa, thình lình như vậy, làm sao một lời chẳng ngỏ?

Há rằng:

Ngọc khuê, hoa cổn, niềm vinh quang chưa đủ mộ sao?

Tiết mao, cờ tướng, sự quý trọng vẫn còn đẹp rõ!

Hay chán đời dơ đục, không thể đổi thay, nên nhẹ bước ruổi giong?

Hoặc giúp dân mà không nhận lộc tài, nên trời cũng chẳng thể giữ?

Nơi Triều đình hay tin Ngài mất thảy đều đau xót!

Chốn muôn dân hay tin Ngài quy mà càng kinh sợ!

Đến như:

Tôi vốn phục uy danh của Ngài

Từng nương nhờ đức độ bấy nay

Lại được hưởng khí lượng sáng tỏ!

Khiến cho:

Chẳng thể họp đông người bên sông Nghi, sông Tứ mà khóc thực xót thương.

Tôi vốn kẻ vụng về, lạm giữ việc quân, ba năm bên Ngài, được hưởng những rượu ngon, nào lời khuyên bảo.

Nhớ cái buổi chia tay về Kinh khuyết, được nghe lời từ biệt

Tình cảm dằng dặc, ai hiểu cho lòng này?

Ô hô! Than ôi!

Hoành Sơn mây ám!

Đông Hải gió gào!

Tướng công đi rồi!

Cỏ cây cùng đau

Giữa đường bày điện

Trên vì thiên hạ tỏ nỗi tiếc thương!

Dưới vì tình riêng mà thương khóc!

Ô hô!

Đau đớn thay!

 

IV. Một vài nhận xét:

1. Bài Trần Công tế Phạm Công văn này là một bài văn tế thể phú luật Đường. Vì theo thể phú luật Đường nên khuôn phép chặt chẽ và khá gò bó!

Về vần: bài Văn tế của Trần Danh Lâm theo lối "Độc vận": vần Chi (cả bài chỉ có một vần, như: Chi - Kỳ - Quy - Duy - Suy - Ly - Phi - Bi...).

Về đối: bài này có cả đối thanh và đối ý: thanh đối nhau nằm ở cuối câu, và đối ở chỗ ngắt nhịp, nhiều câu rất chỉnh, thí dụ:

- Kỳ khí vũ như vạn trượng Kim Sơn, mạc năng duyên bộ

Kỳ hung thứ như thiên tầm Ngọc Hải nan đắc trắc khuy.

Hoặc như:

- Bô khấu vị trừ, nhân vọng công dĩ phác tiễu

Thời chính hữu khuyết, nhân vọng công dĩ chỉnh ly.

Về cách đặt câu: toàn bài có xen lẫn câu ngắn: tứ tự, song quan, với những câu dài: cách cú, hạc tất (hay gối hạc).

2. Văn tế lúc đầu có nghĩa rất rộng: đó là bài văn dùng khi tế thần, thánh, tế người sống, tế người chết, cả khi chúc mừng: mừng thọ, mừng lên chức tước... Về sau, văn tế chỉ có nghĩa hẹp: tế người chết.

Mục đích của văn tế là nhằm nêu tính tình, công đức của người chết và bày tỏ lòng thương tiếc của người sống.

Đối tượng mà bài văn tế nhắm tới có thể nói là rất rộng:

Tế Thập nhị lang văn của Hàn Dũ, đời Đường ở Trung Quốc, là văn chú tế cháu.

Tế Lê Quế Đường tiên sinh của Bùi Huy Bích là học trò tế thầy.

Văn tế vua Quang Trung là bề tôi tế vua.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là nhà nho tế các bậc anh hùng nghĩa sĩ.

Bài Trần Công tế Phạm Công văn này là bạn bè tế bằng hữu, đồng liêu tế nhau.

Bài này theo thể phú luật Đường, nên kết cấu gồm bốn đoạn: đoạn mở đầu, đoạn kể đức tính, sự nghiệp người chết, đoạn than tiếc người chết và đoạn tỏ tình thương tiếc của người đứng tế.

3. Về mặt hình thức nghệ thuật, bài Văn tế của Trần Danh Lâm này vào loại bài văn tế hay dưới thời trung đại, vì thế được danh sĩ Bùi Huy Bích tuyển chọn in trong bộ Hoàng Việt văn tuyển của ông.

Trong bài có nhiều câu ý rất mạnh:

- Cửu trùng văn chi nhi chấn điệu!

Bách tính văn chi nhi kinh nghi!

Hoặc như:

- Hoành Sơn vân ám!

Áng Hải phong suy!

Tướng công thử khứ

Thảo mộc đồng bi!

Bài văn tế có tính chất trữ tình khá rõ rệt. Tự sự hay miêu tả đều làm cho tính trữ tình thêm đậm đà, sinh động.

4. Thông qua bài Trần Công tế Phạm Công văn này, chúng ta nhận thấy bên cạnh những câu chữ có tính công thức, ước lệ của một bài văn tế, vẫn thể hiện rõ tình cảm thương tiếc vô bờ bến của tác giả Trần Danh Lâm và của những người đương thời đối với Phạm Đình Trọng. Ngoài ra, ta còn thấy được tài năng lớn, đức độ cao cũng như uy tín, danh vọng của Phạm Đình Trọng trong tâm trí của nhân dân cũng như quan lại thời bấy giờ.

Có lẽ, trong lịch sử thời trung đại của nước ta, ít thấy người nào được cả triều đình, lẫn bạn đồng liêu và toàn dân quý trọng, thương xót như Tiến sĩ Phạm Đình Trọng. Nhà nho xưa theo thuyết "chính danh" của Khổng Tử (551 - 479 TCN): "Danh có chính thì ngôn mới thuận", do đó, đọc bài Văn tế Phạm Đình Trọng của Tiến sĩ Trần Danh Lâm, chúng ta tin rằng tác giả đã viết những gì là sự thực về danh sĩ họ Phạm này. Vả lại, chính Khổng Tử từng căn dặn môn sinh của mình: "Thành giả, Thiên chi đạo dã; Thành chi giả, nhân chi đạo dã" (nghĩa là: Thành thực là đạo của Trời; Làm cho mình trở nên thành thực, đó là đạo của Người).

Chúng tôi thiết nghĩ: Tiến sĩ Trần Danh Lâm luôn luôn ghi nhớ lời dạy ấy khi viết bài văn tế này!

 

Chú thích:

(1) Đại Việt sử ký tục biên. Nxb. KHXH, H. 1991, tr.240.

(2) Bài Văn tế Phạm Đình Trọng của Trần Danh Lâm, không phải bài Văn tế do triều đình Lê - Trịnh "sai quan kính tế" Phạm Đình Trọng. Vì trong bài Văn tế do quan triều đình Lê - Trịnh kính tế, có câu: "Núi Hoành Sơn có thể mài gươm; Sông La Hà có thể rửa áo giáp...". Trong bài Văn tế của Trần Danh Lâm không có câu này.

(3) Bùi Độ: tự Trung Lập, người đời Đường. Dưới thời Đường Hiến Tông (806-820) làm chức Trung thư Thị lang, có công lao dẹp giặc, được phong tước Tấn Quốc công, gia tặng Trung Thư lệnh. Ông cầm quyền trong vòng 30 năm, có chính tích tốt.

(4) Hàn Kỳ: tự Nhã Khuê, người đời Tống, đỗ Tiến sĩ. Dưới thời vua Tống Nhân Tông (1023-1063), ông cùng Phạm Trọng Yêm đánh thắng Tây Hạ. Sau ông giữ chức Tể tướng có nhiều chính tích tốt.

(5) Thi, Quy: Thi: bói bằng cỏ thi; Quy: bói bằng mai rùa.

(6) Hoan Diễn: chỉ vùng Nghệ An - Hà Tĩnh ngày nay. Nơi Phạm Đình Trọng từng giữ chức Trấn thủ.

(7) Đông Nam: chỉ miền Hải Dương, Sơn Nam Hạ (Thái Bình - Nam Định).

(8) Hoàng lương mộng: tức giấc mộng kê vàng. Theo Chẩm trung ký, ngày xưa Lư Sinh đến trú ngụ ở thành Hàm Đan, gặp đạo sĩ là Lữ Ông. Lữ Sinh than vãn về cảnh khốn cùng của mình. Lữ Ông bèn lấy trong túi ra một cái gối và bảo: "Gối đầu lên đây, con sẽ được vinh hiển như ý con muốn". Khi đó, người chủ trọ đang nấu một nồi kê. Lư Sinh gối đầu lên chiếc gối mà ngủ, mộng thấy mình lấy được vợ đẹp, thi đỗ Tiến sĩ, làm quan to, đánh phá được quân giặc, làm tới Tể tướng mười năm, sinh đông con cháu và sống đến 80 tuổi. Chợt tỉnh mộng, thấy nồi kê vẫn chưa chín. Lư Sinh ngạc nhiên nói: "Có lẽ mình nằm mộng chăng?". Lữ Ông cười nói: "Việc đời cũng như mộng vậy thôi!". Chỉ sự vinh hoa phú quý ở đời như một giấc mộng./.

                                                                                   (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 51-57).

Nguyễn Minh Tường - Đỗ Lan Phương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm