VI | EN
Chữ hội âm chính phụ trong bản Giải âm truyền kỳ mạn lục (Tạp chí Hán Nôm, số 2 (111) 2012 (tr.51 - 62)
(Tạp chí Hán Nôm, số 2 (111) 2012 (tr.51 - 62)

CHỮ HỘI ÂM CHÍNH PHỤ
TRONG BẢN GIẢI ÂM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

NHIẾP TÂN

NCS. Trung Quốc

Chữ hội âm là những chữ Nôm tự tạo ghép hai thành tố biểu âm lại thành một chữ mới. Đây là những chữ Nôm được tạo ra theo phép âm+âm, chưa hề có mặt trong phép tạo chữ theo “Lục thư” Trung Quốc, thể hiện rõ ràng tính sáng tạo của chữ Nôm. Số lượng các chữ Nôm hội âm tuy không nhiều nhưng đã xuất hiện từ rất sớm trong tác phẩm Nôm Việt Nam, và được các học giả thường gọi những chữ này là chữ Nôm ghép hai thành tố âm+âm, hoặc chữ Nôm biểu âm đơn thuần. Mới đây trong cuốn Khái luận văn tự học chữ Nôm (2008), Nguyễn Quang Hồng mới chính thức đặt tên cho loại chữ này là chữ hội âm, và dựa vào vai trò của các thành tố tạo chữ trong chức năng biểu âm, chia chữ hội âm thành hai loại nhỏ là chữ hội âm đẳng lập (D1) và chữ hội âm chính phụ (D2)(1).

Trong đó, chữ hội âm đẳng lập là những chữ Nôm ghép lại thành tố biểu âm có vai trò biểu âm ngang nhau thành một chữ mới; còn chữ hội âm chính phụ thì là những chữ Nôm ghép một thành tố biểu âm phụ với một thành tố biểu âm chính để tạo ra một chữ mới. Thành tố biểu âm phụ đóng vai trò ghi phụ âm thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu vốn có trong tiếng Việt cổ, chỉnh âm cho thành tố biểu âm chính và phân biệt chữ Nôm với chữ Hán. Những thành tố biểu âm phụ này thường do các chữ Hán quen thuộc như “cá”, “cự”, “ba”, “tư”, “cư”, “đa”, “cổ”, “ma”, “a”… đảm nhiệm. Những chữ Hán này vốn được tách riêng ra để ghi tiền âm tiết cho một số từ tiếng Việt thời sơ thủy với cấu trúc ngữ âm là Cv-CVC, đây chính là những trường hợp “dùng hai mã chữ tách rời để ghi một tiếng” được Hoàng Thị Ngọ đưa ra khảo sát tỉ mỉ qua bản Giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (viết tắt là bản Giải âm Phật thuyết)(2). Về sau, những chữ này được ghi nhập vào ký tự chính thành một chữ Nôm “một mã”, trở thành thành tố phụ để biểu âm (thể hiện phụ âm thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu cho một số âm tiếng Việt với cấu trúc ngữ âm là CCVC), chỉnh âm và phân biệt chữ Nôm với chữ Hán.

Theo thống kê của chúng tôi, trong bản Giải âm truyền kỳ mạn lục (viết tắt là bản Giải âm TKML), loại chữ hội âm chính phụ gồm 78 đơn vị chữ với tần số xuất hiện 687 lần. Những chữ hội âm chính phụ này đã sử dụng 6 thành tố phụ khác nhau là “cá”, “cự”, “ba”, “tư”.

Phân loại chữ hội âm chính phụ với thành tố phụ khác nhau

(1) Dùng “cá” làm thành tố phụ

“cá” có thể nói là thành tố phụ, vì vậy cũng được nhiều học giả lưu ý và đưa ra khảo sát. Ví dụ trong cuốn Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nguyễn Tá Nhí có khảo sát tỉ mỉ về thành tố phụ này, và nêu ra 5 tác dụng của nó được thể hiện trong các trường hợp khác nhau(3). Trong cuốn Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Hoàng Thị Ngọ đã chứng minh thành tố phụ “cá” được dùng để ghi phụ âm thứ nhất *[k-] trong các tổ hợp phụ âm đầu *[kb-], *[km-], *[kd-], *[kn-](4). Trong cuốn Khái luận văn tự học chữ Nôm, Nguyễn Quang Hồng cho rằng “cá” có thể dùng để thể hiện phụ âm thứ nhất *[k-] trong các tô hợp phụ âm đầu như *[kj-], [kl-], v.v…, cũng có thể dùng để điều chỉnh cách đọc âm Hán Việt của thành tố biểu âm(5).

Trong bản Giải âm TKML, “cá” cũng là thành tố phụ được người Việt sử dụng nhiều nhất để tạo ra loại chữ hội âm chính phụ, có tới 64 đơn vị chữ dùng “cá” làm thành tố phụ, chiếm 82,05% tổng số đơn vị chữ hội âm chính phụ. Tuy nhiên, về tần số thì 64 đơn vị chữ này chỉ xuất hiện 187 lần, chiếm 27,22%. Cụ thể được thể hiện như sau:


Bảng 1: Những chữ hội âm chính phụ dùng “cá” làm thành tố phụ

 


Trong 64 chữ này, có 35 chữ có xuất hiện trong bộ Tự điển chữ Nôm do Nguyễn Quang Hồng chủ biên, được xếp vào loại chữ hội âm (xin lưu ý trong sách không phân biệt chữ hội âm đẳng lập với chữ hội âm chính phụ, đều gọi là chữ hội âm), còn 29 chữ nữa (những chữ được đánh dấu *) thì chưa được thu vào cuốn tự điển đó. Chúng tôi cho rằng, 64 chữ này đều dùng một chữ Hán làm thành tố biểu âm chính, dùng “cá” làm thành tố biểu âm phụ, vì vậy đều là chữ hội âm chính phụ.

Trong những chữ này đã thể hiện một số hiện tượng thường xuyên xuất hiện trong chữ Nôm. Ví dụ hiện tượng dùng một dạng chữ ghi nhiều âm: dùng chữ 立个 để chi âm rắp với rập, dùng chữ 論个 để ghi âm lộn với trộn, dùng chữ 磊个 để ghi âm rỗi với sỏi, dùng chữ để ghi âm vay với ; hiện tượng chuyển dụng chữ Nôm: trong chữ 垃个rấp {lấp “cá”}, thành tố biểu âm lấp là một chữ Nôm, thành tố biểu âm 垃个lấp là một chữ Nôm, được chuyển dụng làm thành tố biểu âm của chữ Nôm 垃个rấp; hiện tượng viết tắt: chữ gở {“cử” vt> “cá”}, chữ lóc{祿 “lộc” vt> “cá”}; hiện tượng biến thể: ngữ tố gở được ghi với hai dạng biến thể .

(2) Dùng “cư” làm thành tố phụ

Trong tiếng Hán, có thể là một đơn tự, cũng có thể là một bộ thủ, trỏ những đồ đạc hoặc những động tác có liên quan đến xe cộ. Chữ Hán có hai âm Hán Việt, một là “xa”, một là “cư”. Bằng âm Hán Việt “xa”, chữ Hán này được mượn dùng làm thành tố biểu âm hoặc thành tố biểu âm kiêm biểu ý trong chữ Nôm. Ví dụ chữ xa (mượn dùng chữ Hán làm thành tố biểu âm, nghĩa là ‘có một khoảng cách lớn trong không gian, thời gian hoặc quan hệ’), chữ 忄車xa {bộ“tâm” biểu ý “xa” biểu âm} (trong xót xa, nghĩa là ‘thương đến đau đớn’), chữ xe (mượn dùng chữ Hán làm thành tố biểu âm kiêm biểu ý, nghĩa là ‘phương tiện chuyển chở có bánh lăn’), chữ 𦀺xe {bộ “mịch” biểu ý “xa” biểu âm} (nghĩa là ‘làm cho xoắn lại thành sợi, quấn chặt với nhau’). Bằng âm Hán Việt “cư”, chữ Hán được mượn dùng làm thành tố phụ để ghi phụ âm thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu trong một số ngữ tố Việt, chủ yếu thể hiện âm *[k-] trong tổ hợp phụ âm đầu *[kl-]. Ví dụ chữ {“lược” “cư”}*[klak]>trước, chữ 婁車{“lâu” “cư”}* [klau] >sau. Trong các thành tố phụ của chữ Nôm hội âm chính phụ, “cư” cũng là thành tố phụ duy nhất được dùng làm bộ thủ trong chữ Hán.

Trong bản Giải âm TKML, có 4 chữ dùng “cư” làm thành tố phụ, xuất hiện 224 lần, chiếm 5,13% đơn vị chữ và 32,61% lượt chữ Hội âm chính phụ. Cụ thể như sau:

Bảng 2: Những chữ Hội âm chính phụ dùng “cư” làm thành tố phụ

 


Đơn vị chữ dùng “cư” làm thành tố phụ trong bản Giải âm TKML đều là những chữ Nôm quen thuộc thường xuất hiện trong văn bản Nôm thời trung đại, bởi vậy cũng được các học giả nhắc đến và được thể hiện trong chuyên khảo, bài viết của họ. Về phương thức cấu tạo, Vũ Văn Kính xếp chữ 婁車sau, chữ trước vào loại chữ hình thanh (còn hai chữ 婁車sau𨋤so thì không thấy xuất hiện trong cuốn Đại tự điển chữ Nôm của ông)(6); Nguyễn Quang Hồng xếp mấy chữ này vào loại chữ hội âm chính phụ(7); Nguyễn Tá Nhí cũng cho rằng mấy chữ này được cấu tạo theo quan hệ âm+âm, ký hiệu phụ “cư” chủ yếu là để ghi tổ hợp phụ âm đầu *[kl-](8). Xét về việc sử dụng thành tố “cư” trong chữ Nôm, dựa vào cấu trúc của bốn chữ Nôm này, chúng tôi cho rằng 4 chữ Nôm này được cấu tạo theo quan hệ âm+âm, nên xếp vào loại chữ hội âm chính phụ là điều không có nghi ngờ gì.

(3) Dùng “cự” làm thành tố phụ

“cự” là một thành tố phụ được người Việt sử dụng rộng rãi từ rất sớm, có xuất hiện trong nhiều văn bản Nôm, nên cũng được các học giả lưu ý tới và đưa ra khảo sát. Vương Lực cho rằng thành tố này miễn cưỡng có thể được coi như là một bộ thủ đặc biệt chỉ riêng trong chữ Nôm của Việt Nam mới có, ông đưa ra 3 chữ lớn, 𢀭giàu𢀨sang làm ví dụ(9). Đào Duy Anh cũng cho rằng thành tố “cự” là bộ thủ, ông nêu ra 8 chữ làm ví dụ: 𢀭giàu, 𢀨sang, 𢀲lớn (chữ này khác với chữ lớn được ông Vương Lực đưa ra làm ví dụ về dạng chữ, thành tố biểu ý “lãn” vt>), 𢀱to, lắm, 𢀦sửa, lặng, 𢀥vâng. Theo ông, dùng bộ “cự” biểu ý cho hai chữ lặng 𢀥vâng không hiểu vì sao, ông đoán rằng là do dấu viết lộn thành(10). Nguyễn Tá Nhí cho rằng “cự” là một ký hiệu phụ, nêu ra 50 trường hợp sử dụng ký hiệu phụ “cự”, và quan niệm rằng ký hiệu phụ này ban đầu là dùng để ghi những từ có tổ hợp phụ âm đầu *[kl-], về sau, do sử dụng phổ biến, lại thêm vai trò mách bảo chuyển đổi âm thanh(11). Hoàng Thị Ngọ cho rằng “cự” là một thành tố phụ được dùng để ghi yếu tố thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu *[kb-], *[kr-](12). Nguyễn Quang Hồng cho rằng “cự” thường được dùng làm thành tố phụ với vai trò thể hiện âm *[kl-] trong một số tổ hợp phụ âm đầu như *[kl-](có thể cả *[ks-], *[kr-], *[sl-], *[kj-], *[kb-], hoặc để điều chỉnh âm đọc cho ngữ tố Việt, nhưng cũng có những trường hợp “lưỡng khả” như trong chữ lớn, “cự” có thể được coi như là thành tố phụ biểu âm hoặc được coi như là thành tố biểu ý(13).

Trong bản Giải âm TKML, cơ 6 đơn vị chữ dùng “cự” làm thành tố phụ, xuất hiện 87 lần, chiếm 7,69% đơn vị chữ là 12,66% lượt chữ hội âm chính phụ. Cụ thể như sau:

Bảng 3: những chữ hội âm chính phụ dùng “cự” làm thành tố phụ

 


Trong 6 chữ trên, 4 chữ 𢀭giàu, 𢀨sang, 𢀦sửa, 𢀥vâng đều có xuất hiện trong bộ Tự điển chữ Nôm do Nguyễn Quang Hồng chủ biên, được xếp vào loại chữ hội âm; cũng được thu vào bộ Đại tự điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính, được xếp vào chữ hình thanh (xin lưu ý trong sách không có loại chữ hội âm). Còn hai chữ giúphọ thì không thấy. Chúng tôi cho rằng trong 6 chữ này, “cự” đều được dùng làm một thành tố phụ biểu âm, chứ không phải là một thành tố biểu ý, vì vậy những chữ này nên được xếp vào loại chữ hội âm chính phụ. Chỉ với một số ít trường hợp như chữ 𢀲lớn, 𢀱to, vì “cự” đã thể hiện nghĩa “xác chỉ” của các ngữ tố lớn, to, cho nên có thể coi “cự” là thành tố biểu ý (xin lưu ý không phải là một bộ thủ mà là một đơn tự), và xếp vào loại chữ hình thanh đẳng lập.

(4) Dùng chữ “đa” làm thành tố phụ

“đa” cũng là một thành tố phụ được người Việt sử dụng từ rất sớm để ghi phụ âm thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu. Ví dụ trong bản Giải âm Phật thuyết, có chữ 悶多{“muộn” “đa”}*[dmun] >buồn, chữ 覓多{“mịch” “đa”}* [dmic]>bực, chữ 多迷{“đa” “mê”}* [dme]>về, trong mấy chữ này, thành tố phụ “đa” được dùng để thể hiện âm *[d-] trong *[dm-](14). Về sau, thành tố phụ “đa” dần dần mất đi vai trò “biểu âm”
thật sự, chỉ có tác dụng “chỉnh âm” mà thôi.

Trong bản Giải âm TKML, có 2 đơn vị dùng chữ “đa” làm thành tố phụ, xuất hiện 13 lần, chiếm 2,56% đơn vị chữ và 1,89% lượt chữ hội âm chính phụ. Cụ thể như sau:

Bảng 4 : Những chữ hội âm chính phụ dùng “đa” làm thành tố phụ

 



Hai chữ này đều có xuất hiện trong bộ Tự điển chữ Nôm do Nguyễn Quang Hồng chủ biên, được xếp vào loại chữ hội âm. Chúng tôi cho rằng, trong hai chữ này, “đa” là thành tố biểu âm phụ, nên xếp chúng vào loại chữ hội âm chính phụ là điều tất nhiên. Nhưng cần phải lưu ý rằng chúng có cấu tạo hoàn toàn giống nhau, nhưng lại được dùng để ghi hai ngữ tố Việt gây với ghi. Vì vậy, là hai chữ chứ không phải một chữ. Đây chính là hiện tượng dùng một dạng chữ ghi nhiều âm. Muốn xác định chữ 𥶂là dùng để ghi ngữ tố Việt gây hay ghi, vẫn phải đặt nó vào văn cảnh cụ thể. Vì vậy, chúng tôi xin dẫn hai câu trong văn bản để cho rõ hơn:

- 𥶂. Đức nghĩa làm mà chẳng có chưng nước nào là chẳng được gây dựng. [QI, Hạng, 5a].

Trong câu trên, chữ 𥶂gây là dùng trong từ tiếng Việt gây dựng để dịch ngữ tố Hán “thụ” (nghĩa là ‘gây dựng’).

- 𥶂𦷾. Mày thửa ghi đấy. [QI, Hạng, 13b].

Trong câu trên, chữ 𥶂ghi là dùng để dịch ngữ tố Hán “chí” (nghĩa là ‘ghi’).

(5) Dùng “ma” làm thành tố phụ

“ma” cũng như các thành tố phụ trên, là một thành tố phụ được người Việt sử dụng từ rất sớm để ghi phụ âm thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu. Nhưng thành tố này lại có đặc điểm riêng của mình: Một là được ghi chép vào mã chính, trở thành thành tố phụ biểu âm trong một chữ Nôm hội âm chính phụ, “ma” thường được viết tắt thành , điều này từng làm cho nhiều người thấy khó hiểu và hiểu nhầm. Ví dụ học giả Paul Schneider cho rằng chlời có đầy đủ hai yếu tố ngữ âm và ngữ nghĩa, là thành tố biểu ý, “lệ” là thành tố biểu âm(15). Nhưng xét về tình hình dùng “ma” ghi tiền âm tiết cho một số từ tiếng Việt thời sơ thủy với cấu trúc ngữ âm là Cv-CVC như được thể hiện trong bản Giải âm Phật thuyết, bây giờ giới học thuật đã có nhận xét thống nhất: trong chữ lời, là dạng viết tắt của thành tố phụ biểu âm “ma”. Về nguyên do viết thành , chúng tôi đoán có thể là vì dạng chữ quá phức tạp, nếu ghép với một thành tố khác như chữ , thì khó để khuôn vào một ô vuông, không đẹp mắt, vì vậy cần phải viết giảm nét. Hai là sau khi được ghép vào mã chính, trở thành một thành tố phụ, “ma” chỉ được sử dụng để tạo ra một ít chữ thôi, nổi bật và phổ biến nhất chính là chữ lời.

Trong bản Giải âm TKML, cũng chỉ thấy riêng một chữ lời dùng “ma” làm thành tố biểu âm phụ, với cấu trúc {“ma”vt> “lệ”}, nhưng vì ngữ tố lời là một ngữ tố thường dùng trong tiếng nói và ngôn ngữ viết của người Việt, nên chữ này có tần số xuất hiện khá nhiều trong Văn bản, có tới 171 lần, chiếm 1,28% đơn vị chữ và 24,89% lượt chữ hội âm chính phụ. Xin dẫn hai câu dưới đây:

- 未曲Khiến lời vạy được làm. [QII, Long, 14a].

- . Nhưng chẳng có một lời nói đến sự đời vậy. [QIII, Na, 25b].

Dùng “tư” làm thành tố phụ

“tư” cũng là một thành tố biểu âm phụ thường gặp trong các văn bản Nôm. Ở thời trung đại, thành tố phụ “tư” từng được dùng để ghi phụ âm thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu. Ví dụ trong bản Giải âm Phật thuyết, có chữ 盃司{“bôi” “tư”} (trong văn bản cũng có chỗ viết là 司盃{“tư” “bôi”}) *[psui] >vui, thành tố phụ “tư” dùng để thể hiện âm *[s-] trong *[ps-](16). Nhưng về sau, vai trò “biểu âm” thật sự của nó cũng dần dần mất đi, chỉ có tác dụng “chỉnh âm” mà thôi.

Trong bản Giải âm TKML, chỉ thấy chữ 𦎛gương dùng “tư” làm thành tố biểu âm phụ, xuất hiện 5 lần, chiếm 1,28% đơn vị chữ và 0,73% lượt chữ hội âm chính phụ. Xin dẫn hai câu dưới đây:

- 君羊𩄴𤐝𦎛Còn phân bóng soi gương. [QII, Đào, 23a].

- 𡶀𦎛𠝫Ngậm núi dường gương bạc mẻ. [QII, Đào, 27b].

Chữ 𦎛gương đã được nhiều học giả chú ý tới và được thể hiện trong các chuyên khảo, bài viết của họ. Về cấu trúc của chữ này, các học giả vẫn có ý kiến bất đồng. Văn Hựu xếp chữ này vào loại chữ hình thanh, và cho rằng chữ này đã thể hiện quan hệ ngữ âm dùng thành tố biểu âm có phụ âm đầu kh để ghi ngữ tố Việt có phụ âm đầu g(17); Vương Lực cũng xếp chữ này vào loại chữ hình thanh, nhưng cho rằng dùng “tư” làm thành tố biểu ý hơi khó hiểu, không biết vì sao(18); Vũ Văn Kính cũng xếp chữ này vào loại chữ hình thanh(19). Nhưng cần phải chú ý một điều là trong cách phân biệt loại chữ Nôm của ba học giả này đều không có loại chữ hội âm. Nguyễn Tá Nhí cho rằng trong chữ này, “khương” là thành tố biểu âm, “tư” là một ký hiệu phụ, nhưng đồng thời cũng thể hiện nghĩa của ngữ tố Việt gương: “Khả năng lớn nhất của vẫn là dùng để khẳng định chữ vuông đó là chữ Nôm, và mách bảo đọc khác âm đọc của thành tố biểu âm”, nhưng “ở giai đoạn sau, các ký hiệu hoàn toàn thay thế bằng thành tố biểu nghĩa, riêng ở trường hợp Gương, ký hiệu với nghĩa là trông coi đã thỏa mãn yêu cầu là thành tố biểu nghĩa, do vậy nó tiếp tục tồn tại” [Nguyễn Tá Nhí, 1997, tr.108]; Hoàng Thị Ngọ cho rằng chữ này được cấu tạo theo quan hệ âm+âm, những chữ rõ thành tố phụ “tư” có vai trò biểu âm, chỉnh âm hay chỉ là để phân biệt chữ Nôm với chữ Hán(20). Nguyễn Quang Hồng cho rằng đây là một trường hợp “lưỡng khả”, ông xếp chữ này vào loại chữ hội âm trong bộ Tự điển chữ Nôm, nhưng lại xếp chữ vào loại chữ hình thanh trong cuốn Khái luận văn tự học chữ Nôm(21). Tổng hợp lại quan điểm của các học giả, chúng tôi xin đưa ra nhận xét của mình: chúng tôi cho rằng chữ này có cấu trúc {“khương” “tư”}, trong các từ điển cổ của Trung Quốc như Thuyết văn giải tự, Khang Hy tự điển, chữ Hán “tư” chủ yếu được giải nghĩa là “xác chỉ” của ngữ tố Việt gương, vả lại, “tư” lại là một thành tố phụ thường gặp trong chữ Nôm đóng vai trò biểu âm hoặc chỉnh âm, cho nên chúng tôi thiên về xếp chữ này vào loại hội âm chính phụ.

2. Chức năng của các thành tố phụ

Tuy 6 thành tố “cá”, “cư”, “cự”, “đa”, “ma”, “tư” kể trên đều làm thành tố biểu âm phụ trong các chữ hội âm chính phụ, nhưng chức năng cụ thể của chúng lại khác nhau. Chủ yếu đảm nhận mấy chức năng như sau:

(1) Chức năng thực sự biểu âm

Trong thời kỳ ban đầu, khi 6 thành tố này mới được sử dụng để tạo ra chữ Nôm hội âm chính phụ, chúng thực sự đã đóng vai trò biểu âm, dùng để ghi phụ âm thứ nhất của các tổ hợp phụ âm đầu vốn có trong tiếng Việt cổ. Tổ hợp phụ âm đầu của tiếng Việt là một vấn đề khá phức tạp về ngữ âm lịch sử, đối với thời gian xuất hiện, quá trình tồn tại, diễn biến của các tổ hợp phụ âm đầu hình như mãi tới bây giờ vẫn chưa có một ý kiến thống nhất và khẳng định trong giới học thuật. Nhưng theo quan điểm của các học giả, các tổ hợp phụ âm đầu như *[kb-], *[kb-], *[kd-], *[km-], *[kn-], *[kl-], *[kt-], *[kz-], *[kj-] v.v. thật sự tồn tại trong tiếng Việt cổ, và muộn nhất là đến thế kỷ XVII thì những tổ hợp phụ âm đầu này đã không còn tồn tại trong tiếng Việt nữa.(22) Riêng ba trường hợp *[ml-], *[bl-], [tl-] vẫn tồn tại vào giữa thế kỷ XVII như được chứng tỏ trong bộ Từ điển Việt - Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum, et Latinum, 1651) của Alexandre de Rhodes, nhưng sang đầu thế kỷ XVIII, với bản thảo Từ điển Việt - La (Dictionarium Annamittico, Latinum, 1722) của Piere Pigneux de Béhain thì chúng hoàn toàn vắng bóng. Bản Giải âm TKML lại là một văn bản Nôm ra đời cuối thế kỷ XVII,23 vì vậy chúng tôi cho rằng, chỉ có những thành tố phụ âm đầu mới có chức năng thực sự biểu âm. Xem xét lại sáu thành tố kể trên, chỉ có thành tố “ma” thỏa mãn yêu cầu.

“ma” được dùng để tạo ra mỗi một chữ hội âm chính phụ lời trong văn bản. Chữ lời này đã dùng thành tố “lệ” làm thành tố biểu âm chính, dùng thành tố “ma” làm thành tố biểu âm phụ, thể hiện âm *[m-] trong tổ hợp phụ âm đầu *[ml-]: {“ma” vt>“lệ”}*[mlei]>lời.

(2) Chức năng chỉnh âm

Ngoài thành tố “ma” ra, tất cả các thành tố “cá”, “cư”, “cự”, “đa”, “tư” đều đã mất đi vai trò biểu âm thực sự trong các chữ hội âm chính phụ của văn bản, chủ yếu được dùng để điều chỉnh âm đọc cho ngữ tố Việt được ghi, báo hiệu cho người ta biết ngữ tố Việt này không đọc theo âm Hán Việt của thành tố biểu âm chính. Tức là nói, chức năng chỉnh âm đã trở thành chức năng chính của các thành tố phụ trong chữ hội âm chính phụ của bản Giải âm TKML.

Trong một số trường hợp, vai trò chỉnh âm của các thành tố phụ thuộc thể hiện nổi bật hơn, ví dụ khi hai chữ Nôm đi liền nhau hoặc đứng gần nhau dùng dùng chung một chữ Hán làm thành tố biểu âm, trong đó một chữ là chữ Nôm mượn Hán, đọc theo âm Hán Việt của chữ Hán (hoặc đọc theo âm đã chuyển theo quy luật biến âm của tiếng Việt), còn chữ kia là chữ hội âm chính phụ gồm các thành tố phụ, đọc theo âm thuần Việt, thì các thành tố phụ phát huy đầy đủ tác dụng chỉnh âm. Xin dẫn ba câu trong văn bản làm ví dụ:

- Ngươi Phan đã về, đến nhà ngươi Trương nói ý ấy. [QIV, Nam, 12a].

Trong câu trên, chữ ý và chữ ấy đi liền nhau, chữ ý mượn dùng ba mặt hình, âm, nghĩa của chữ Hán “ý”; còn chữ ấy thì dùng chữ Hán “ý” làm thành tố chính, dùng thành tố phụ “cá” để chỉnh âm, báo hiệu cho người ta biết chữ này là ghi ngữ tố Việt ấy.

- . Được thua cược nửa cuộc giang sơn. [QIII, Na, 22b].

Trong câu trên, chữ cượccuộc xuất hiện gần nhau, chữ cuộc mượn dùng hai mặt nghĩa của chữ Hán “cục”, đọc là cuộc - một âm đã chuyển theo quy luật biến âm của tiếng Việt; còn chữ 局个cược thì dùng chữ Hán “cục” làm thành tố biểu âm chính, dùng thành tố phụ “cá” để chỉnh âm, báo hiệu cho người ta biết chữ này là ghi ngữ tố Việt cược.

- 𡘮. Bộ tướng nhà ngươi Mộc Thạnh có quan Bách hộ họ Thôi phải trận, mất chưng chốn miếu ấy. [QII, Tản, 39a].

Trong câu trên, chữ hộhọ đi liền nhau, chữ hộ mượn dùng ba mặt hình, âm, nghĩa của chữ Hán “hộ”; còn chữ họ thì dùng chữ Hán “hộ” làm thành tố biểu âm chính, dùng thành tố phụ “cự” để chỉnh âm, báo hiệu cho người ta biết chữ này là ghi ngữ tố Việt họ.

(3) Chức năng phân biệt chữ Nôm với chữ Hán

Có thể nói rằng hầu hết các chữ Nôm tự tạo, đều có chức năng phân biệt với chữ Hán, Riêng ở đây, chúng tôi muốn lưu ý đến một số trường hợp đặc biệt có cấu tạo mượn chữ Hán với cả âm và nghĩa lại kèm theo một thành tố phụ là “cá”. Đó là những chữ Nôm như: chữ giả {“giả” “cá”}, chữ 賂个lộ {“lộ” “cá”}, chữ 某个mỗ { “mỗ” “cá”},(24) chữ môi {“môi” “cá”}, chữ 接个tiếp {“tiếp” “cá”}, chữ 損个tổn {“tổn” “cá”}. Trong mấy chữ này, âm Hán Việt của thành tố chính hoàn toàn giống với âm đọc của ngữ tố Việt được ghi, vì vậy không cần chỉnh âm nữa. Thế tại sao lại thêm một thành tố phụ “cá”? Khảo sát kỹ hơn, chúng tôi lại phát hiện trong văn bản, chữ 假个giả là dùng để dịch ngữ tố Hán “giả” (nghĩa là ‘giả vờ, không thực lòng’); chữ 賂个lộ là dùng để dịch ngữ tố Hán “lộ” (nghĩa là ‘hối lộ’); chữ 某个mỗ là dùng để dịch ngữ tố Hán “cá” (nghĩa là ‘một, chút ít, nào đó’); chữ 媒个môi là dùng để dịch ngữ tố Hán “môi” (nghĩa là ‘mối lài’); chữ 接个tiếp là dùng trong trường hợp 使接个sứ tiếp, dùng để dịch từ Hán 使“giới sứ” (nghĩa là ‘quan giao, phụ tá’); chữ 損个tổn là dùng để dịch ngữ tố Hán “hủy” (nghĩa là ‘hủy hoại, tổn hại’). Tức là nói, thành tố chính “giả”, “lộ”, “mỗ”, “môi”, “tiếp”, “tổn” của các chữ này ngoài biểu âm ra, còn đã thể hiện nghĩa “xác chỉ” của ngữ tố Việt được ghi. Chúng tôi cho rằng đây là những trường hợp khá đặc biệt, các thành tố chính trong những chữ này vừa biểu âm vừa biểu ý, sở dĩ thêm thành tố phụ “cá” vào chỉ là tác giả viết theo lối cũ, nhưng chỉ còn tác dụng phân biệt chữ Nôm với chữ Hán, báo hiệu cho người ta biết đây là những chữ Nôm tự tạo, chứ không phải là chữ Hán mượn dùng. Và tuy rằng thành tố chính của những chữ này có vai trò biểu âm kiêm biểu ý, nhưng “cá” lại không có tác dụng biểu ý, mà là một thành tố biểu âm thực sự trong thời cổ (xin lưu ý chỉ là biểu âm phụ trợ thôi, chứ không phải là thành tố biểu âm chính, không thể một mình đảm nhận chức năng biểu âm cho cả chữ), vì vậy, chúng tôi vẫn xếp chúng vào loại chữ hội âm chính phụ chứ không phải chữ hình thanh hay chữ hội ý.

Qua khảo sát những chữ hội âm chính phụ trong bản Giải âm TKML, chúng tôi xin đưa ra mấy điều nhận xét như sau:

a. Những chữ hội âm chính trong Văn bản đã sử dụng 6 thành tố phụ là “cá”, “ cư”, “cự”, “đa”, “ma”, “tư”. Các thành tố phụ này đã đảm nhận ba chức năng cụ thể: Một là chức năng thực sự biểu âm, chỉ được thể hiện trong chữ lời dùng “ma” làm thành tố phụ. Hai là chức năng chỉnh âm, dùng để điều chỉnh âm Hán Việt cho thành tố biểu âm chính của các ngữ tố Việt, đây cũng là vai trò chính của 5 thành tố phụ “cá”, “cư”, “cự”, “đa”, “ma”, “tư”. Ba là chức năng phân biệt chữ Nôm với chữ Hán, được thể hiện ở mấy chữ giả, lộ, mỗ, môi, tiếp, tổn dùng “cá” làm thành tố phụ.

b. Thành tố chính chủ yếu đóng vai trò biểu âm, nhưng trong một số trường hợp ngoài vai trò biểu âm ra, cũng thể hiện nghĩa “xác chỉ” của ngữ tố Việt, ví dụ các chữ giả, lộ, mỗ, môi, tiếp, tổn kể trên.

c. Những hội âm chính phụ trong văn bản đã thể hiện một số hiện tượng thường gặp trong chữ Nôm, như hiện tượng dùng một dạng chữ ghi nhiều âm, hiện tượng chuyển dụng chữ Nôm, hiện tượng viết tắt, hiện tượng biến thể, v.v…

d. Về một số trường hợp “lưỡng khả” như chữ 巨懶lớn, 𦎛gương thì chúng tôi sẽ căn cứ vào mức độ biểu ý của thành tố phụ để xếp những chữ này vào loại chữ hội âm chính phụ hoặc loại chữ hình thanh đẳng lập: nếu thành tố phụ của một chữ nào đó như chữ 巨懶lớn đã thể hiện nghĩa “xác chỉ” của ngữ tố Việt, thì chúng tôi thiên về xếp chữ này vào loại hình thanh đẳng lập; còn trường hợp như chữ 𦎛gương, thành tố phụ không thể hiện trực tiếp nghĩa “xác chỉ” của ngữ tố Việt, thì chúng tôi thiên về xếp chữ này vào loại hội âm chính phụ.

 

Chú thích:

(1) Xem Nguyễn Quang Hồng: Khái luận văn tự học chữ Nôm, Nxb. Giáo dục, H. 2008, tr.229; Nguyễn Quang Hồng: Phép hội âm trong cấu tạo chữ Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 1 năm 2010, tr.3-16.

(2) Xem Hoàng Thị Ngọ: Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Nxb. KHXH, H. 1999, tr.54-66.

(3) Xem Nguyễn Tá Nhí: Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nxb. KHXH, H. 1997, tr.93-99.

(4) Xem Hoàng Thị Ngọ, sđd, tr.89-96.

(5) Xem Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2008, tr.236-243.

(6) Xem Vũ Văn Kính: Đại tự điển chữ Nôm (tái bản có sửa chữa và bổ sung). Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chi Minh, Trung tâm nghiên cứu Quốc Học. Tp. Hồ Chí Minh, 2010, tr.1201, 1439.

(7) Xem Nguyễn Quang Hồng: Tự điển chữ Nôm, Nxb. Giáo dục, H, 2006, tr.999, 1013, 1190; Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2008, tr.236-243.

(8) Xem Nguyễn Tá Nhí, sđd, tr.109-110.

(9) Xem Vương Lực: Nghiên cứu tiếng Hán Việt. , 究》, 報》 . 1948, 81

(10) Xem Đào Duy Anh: Chữ Nôm: Nguồn gốc - cấu tạo - diễn biến, Nxb. KHXH, H. 1975, tr.93.

(11) Xem Nguyễn Tá Nhí, sđd, tr.99-106.

(12) Xem Hoàng Thị Ngọ, sđd, tr.72-73.

(13) Xem Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2008, tr.236-243.

(14) Xem Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2008, tr.236; Hoàng Thị Ngọ, sđd, tr.73.

(15) Bài của Paul Schneider được đăng trên Tạp chí Hán Nôm, số 1-1995. Dẫn theo Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2008, tr.238.

(16) Xem Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2008, tr.237.

(17) Xem Văn Hựu: Khảo về kết cấu chữ Nôm và mối quan hệ của nó với chữ Hán. ,之關, 》第 . 1933. 218.

(18) Xem Vương Lực, sđd, tr.86.

(19) Xem Vũ Văn Kính, sđd, tr.540.

(20) Xem Hoàng Thị Ngọ, sđd, tr.73.

(21) Xem Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2006, tr.453; Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2008, tr.242.

(22) Xem Nguyễn Quang Hồng, sđd, 2008, tr.244; Hoàng Thị Ngọ, sđd, tr.89.

(23) Về niên đại sáng tác bản Giải âm TKML, theo kết quả nghiên cứu của các học giả thì vẫn có những đoán định khác nhau: có người cho rằng là vào thế kỷ XVII-XVIII, cũng có người cho rằng là vào thế kỷ XVI-XVII, thậm chí sớm hơn là vào thế kỷ XV-XVI. Nhưng vì nguyên bản Hán văn của Nguyễn Dữ do Hà Thiện Hán viết lời Tựa lần đầu tiên vào năm 1547, đã là giữa thế kỷ XVI, nếu Nguyễn Thế Nghi thực sự là dịch giả của bản Giải âm Nôm thì ông sống đến tận cuối thế kỷ XVII, vả lại, Tân biên TKML in lần đầu vào năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714), đã là đầu thế kỷ XVIII, cho nên chúng tôi quan niệm rằng bản Giải âm được sáng tác vào cuối thế kỷ XVII là hợp lý hơn.

(24) Về cấu trúc chức năng của chữ 某个mỗ {“mỗ “cá”}, chúng tôi thấy còn có một cách giải thích khác: dùng “mỗ” làm thành tố biểu âm, dùng “cá” làm thành tố biểu ý, là một chữ hình thanh đẳng lập. Vì trong văn bản, chữ 某个mỗ là dùng để dịch chữ Hán “cá”, mà trong tiếng Hán, chữ “cá” là dị thể của chữ “cá”, hai chữ Hán này được sử dụng như nhau. Nhưng chúng tôi không rõ tình hình sử dụng hai chữ Hán “cá” và “cá” ở xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII, cho nên vẫn tạm xếp chữ này vào loại hội âm chính phụ./.

(Tạp chí Hán Nôm; Số 2 (111) 2012; Tr.51-62)

Nhiếp Tân
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm