Cuộc tiếp xúc giữa sứ thần Việt Nam Lưu Đình Chất và sứ thần Triều Tiên Lý Đẩu Phong đầu thế kỷ XVII (Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 20-23)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 20-23)
CUỘC TIẾP XÚC GIỮA
SỨ THẦN VIỆT NAM LƯU ĐÌNH CHẤT VÀ
SỨ THẦN TRIỀU TIÊN LÝ ĐẨU PHONG
ĐẦU THẾ KỶ XVII
TS. NGUYỄN ĐỨC NHUỆ
Viện Sử học
Trên Tạp chí Tri Tân số báo Xuân năm Nhâm Thân (1942), khi tác giả Sở Cuồng Lê Dư đăng bài Cháu 22 đời vua Lý Anh Tông (1138-1175) hiện ở Cao Ly thì một số ít người Việt Nam mới biết ngay từ thế kỷ XIII đã có một dòng họ Lý gốc Việt đến sinh sống ở Hàn Quốc. Đó là dòng họ Lý Hoa Sơn mà vị tổ đầu tiên là Hoàng tử Lý Long Tường. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của một học giả Hàn Quốc thì trước đó khoảng 1 thế kỷ (thế kỷ XII) đã có một dòng họ Lý, thủy tổ là Lý Dương Côn (là con trai thứ 3 vua Lý Nhân Tông) đã đến nhập cư ở Hàn Quốc(1). Như vậy, dưới góc độ lịch sử, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc được hình thành từ rất sớm.
Trong suốt thời trung đại, mối quan hệ mang tính quan phương giữa hai quốc gia độc lập (Đại Việt và Cao Ly) không được chính sử nước ta chép đến. Có chăng chỉ là mối quan hệ gián tiếp thông qua các cuộc gặp gỡ tiếp xúc giữa các sứ bộ hai nước khi đến quan hệ bang giao với Trung Quốc. Về vấn đề này, các sử gia nước ta thời phong kiến thường có nhắc đến trong các tác phẩm của mình. Tác giả Lê Quý Đôn trong cuốn Kiến văn tiểu lục cho biết: “Sứ thần nước ta khi đi triều cống đến Bắc Kinh, thỉnh thoảng được gặp sứ thần Triều Tiên, cũng có thơ văn tặng đáp như khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) nhà Minh, Phùng Khắc Khoan cùng sứ thần Triều Tiên là Lý Toái Quang xướng họa. Toái Quang lại đề tựa tập thơ của ông Phùng...”. Phùng Khắc Khoan được cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ là Hoàng giáp Nguyễn Nhân Thiệm(2) sang nhà Minh cầu phong cho vua Lê khi đã hoàn thành sự nghiệp trung hưng diệt Mạc vào năm 1597.
Lê Quý Đôn cũng từng được cử đi sứ sang nhà Thanh vào năm Canh Thìn (1760). Trong tác phẩm của mình, Lê Quý Đôn cho biết đôi nét về cuộc tiếp xúc của đoàn sứ thần Việt Nam với sứ thần Triều Tiên: “Mùa đông năm Canh Thìn (1760), tôi cùng Trần Huy Mật, Trịnh Xuân Thụ đến Yên Kinh hôm trừ tịch [tức 30 tháng Chạp] được gặp sứ thần nước ấy là Hồng Khải Hy, Triệu Vinh Tiến và Lý Huy Trung ở Hồng Lô quán, trải chiếu mời nhau ngồi, dùng giấy bút để nói chuyện, tình hiếu trở nên gắn bó với nhau. Sau khi trở về sứ quán, họ liền sai hai thiếu khanh đem sản vật địa phương cho chúng tôi; sang đầu năm mới lại sai ba người con là Hồng Toán Hối, Triệu Quang Quỳ và Lý Trích Phượng đến chúc Tết. Chúng tôi ở Yên Kinh hai tháng, những thư từ lặt vặt trao đổi lẫn nhau, có nhiều điều lấy làm thích ý... Những trứ tác nông cạn của tôi như Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục và Tiêu tương bách vịnh thi làm trong khi đi đường đều được Hồng Thượng thư viết giúp lời giới thiệu trên đầu sách. Lý Học sĩ cũng làm bài tựa tập thơ bách vịnh..."(3)
Tác giả Phan Huy Chú khi viết về Lê Quý Đôn và chuyến đi sứ năm Canh Thìn (1760) có bình rằng: “Tài văn chương ứng đáp của ông làm cho sĩ phu Trung Hoa và sứ thần Triều Tiên phải tôn trọng"(4).
Gần đây, trong bài viết: Một số cuộc tiếp xúc giữa sứ thần Việt Nam và sứ thần Hàn Quốc thời trung đại, tác giả Nguyễn Minh Tường đã thống kê được 11 cuộc tiếp xúc(5). Qua tìm hiểu một số nguồn tư liệu, chúng tôi xin được bổ sung thêm một cuộc gặp gỡ tiếp xúc giữa sứ thần hai nước diễn ra tại Yên Kinh ngay sau chuyến đi sứ của Phùng Khắc Khoan không lâu. Đó là cuộc hội kiến giữa sứ thần Việt Nam là Lưu Đình Chất với sứ thần Triều Tiên là Lý Đẩu Phong năm 1613(6).
Về nhân vật Lưu Đình Chất
Lưu Đình Chất sinh năm Bính Dần (1566) tại làng Đông Khê, xã Quỳ Chử, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
Năm Đinh Mùi (1607), 42 tuổi, Lưu Đình Chất dự thi Đình, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Đình nguyên (Hoàng giáp).
Năm 1613, Lưu Đình Chất được thăng Tự khanh, tước Nhân Lĩnh bá và được cử làm Chánh sứ sang cống triều đình nhà Minh(7). Đây là một sự kiện lớn, một trọng trách trong cuộc đời làm quan mà Lưu Đình Chất đã tập trung tâm trí thực hiện nhằm giữ vẹn toàn quốc thể và hoà hiếu với nước láng giềng, như ông đã thể hiện trong bài thơ Lữ trung thuật hoài 旅中述懷(Ghi lại nỗi niềm khi ở đất khách)(8).
Trong thời gian đi sứ, Lưu Đình Chất còn chú trọng gia tăng tình hoà hiếu, thân thiện giữa hai nước Việt - Trung thông qua nhiều cuộc giao tiếp với Nho sĩ Trung Hoa như Gia Cát Tú, Lỗ Vương Tông Nhượng, Vương Dụng Phỉ. Có thể coi bài Họa Đông Lỗ Vương Tông Nhượng kiến ký thi vận 和東魯王宗讓見寄詩運là bài tiêu biểu mà tác giả gửi gắm tình cảm rất thân thiết đối với các bạn thơ Trung Hoa(9). Tại Yªn Kinh (Bắc Kinh), Lưu Đình Chất còn mở rộng mối giao hảo với sứ thần Cao Ly là Lý Đẩu Phong. Tình cảm sâu đậm do mối tương đồng văn hóa của hai nước Đại Việt và Cao Ly ®îc Lu §×nh ChÊt göi g¾m trong bài thơ của ông tÆng Lý Đẩu Phong mang tiêu đề: Giản Triều Tiên quốc sứ Lý Đẩu Phong.
簡朝鮮國使李斗峰
東方禮義久聞名
瑞彩欣今覩使星
風物山川锺地秀
詞章奎斗燦天經
車書一統歸王會
日月重宵覲帝庭
邂逅雲萍君莫怪
人逢知己眼常青
Đông phương lễ nghĩa cửu văn danh,
Thụy thái hân kim đổ sứ tinh.
Phong vật sơn xuyên chung địa tú,
Từ chương khuê đẩu xán thiên kinh.
Xa thư nhất thống quy vương hội,
Nhật nguyệt trùng tiêu cận đế đình
Giải cấu vân bình quân mạc quái,
Nhân phùng tri kỷ nhãn thường thanh.
Dịch thơ:
Gửi quốc sứ Triều Tiên Lý Đẩu Phong
Phương Đông lễ nghĩa vốn nghe danh,
Nay gặp sứ đây vẻ tốt lành.
Văn vật núi sông chung đất đẹp,
Từ chương khuê đẩu rực thiên kinh.
Xa thư một mối về vương hội,
Nhật nguyệt chín tầng chầu đế đình.
Vận hội bèo mây anh chớ lạ,
Gặp người tri kỷ mắt thường xanh.
Lý Đẩu Phong cũng có bài thơ Ngẫu hành thi vận tặng Lưu Đình Chất. Rất tiếc, hiện chúng tôi không có nguyên bản bài thơ này, chỉ biết sau đó Lưu Đình Chất có bài thơ hoạ lại nhan đề Họa Triều Tiên sứ Lý Đẩu Phong "Ngẫu thành thi vận" (theo thể tiến thoái).
Đông nam vạn lí cách doanh hoàn,
Tề cộng thần xu nhiếp đẩu ban.
Vũ hội hầu tuy xu ngọc bạch,
Chu đình lễ nhạc tụy thân quan.
Nhất gia cộng khánh kim Nghiêu Thuấn,
Đại đạo tương đàm cổ Khổng Nhan.
Tiễn tử từ đàn thanh giá trọng,
Trường lưu xuân sắc dật hào đoan.
Dịch thơ:
Họa vần bài thơ "Ngẫu thành" của sứ Triều Tiên Lý Đẩu Phong
Đông - Nam muôn dặm cách xa nhau,
Cùng phận văn thần có khác đâu.
Vũ hội phương xa dâng ngọc lụa,
Chu đình lễ nhạc hội thân chầu.
Đời nay Nghiêu Thuấn, câu mừng chúc,
Đạo cổ Khổng Nhan, chuyện trước sau.
Mến mộ từ đàn thanh giá trọng,
Sắc xuân đầu bút mãi tuôn trào.
Nội dung bài thơ chứa đựng nỗi niềm của những người xa quê hương gặp nhau nơi đất khách quê người. Cùng chức phận, cùng gánh vác trọng trách của quốc gia giao phó, qua những lần giao kiến, sứ thần Việt Nam Lưu Đình Chất và sứ thần Triều Tiên Lý Đẩu Phong đã tạo nên một mối thâm giao, tri kỷ được thể hiện qua những vần thơ dạt dào cảm xúc.
Sau cuộc tiếp xúc giữa sứ thần Việt Nam Phùng Khắc Khoan với sứ thần Triều Tiên Lý Toái Quang năm 1597, cuộc hội kiến của Lưu Đình Chất và Lý Đẩu Phong năm 1613 đã đặt nền móng ban đầu cho mối quan hệ giao lưu văn hoá giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc. Mối quan hệ ấy ngày càng được củng cố và nâng cao ở các thế kỷ sau, gắn với các đoàn sứ bộ của hai nước tại Yên Kinh.
Chú thích:
7Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, (Bang giao chí), Nxb. Giáo dục, H. 2007, tr.605.
8 呂中述懷
中興喜際日當天
詩詠黃華屬壯年
忠愛寸丹常夢寐
詢諏一念每勤拳
觀光已喜詩懷壯
專對重思國命全
若問客裝何所有
清風明月興無邊
Phiên âm: Lữ trung thuật hoài
Trung hưng hỉ tế nhật đương thiên
Thi vịnh hoàng hoa thuộc tráng niên
Trung ái thốn đan thường mộng mị
Tuân tu nhất niệm mỗi cần quyền
Quan quang dĩ hỉ thi hoài tráng
Chuyên đối trùng tư quốc mệnh tuyền
Nhược vấn khách trang hà sở hữu
Thanh phong minh nguyệt hứng vô biên.
Dịch thơ:
Nỗi lòng chuyến đi xa
Trung hưng mừng buổi mặt trời lên,
Thơ vịnh hoàng hoa tuổi tráng niên.
Trung ái tấc son thường mộng tưởng,
Kế mưu một dạ vẫn chăm chuyên.
Quan quang mừng được hồn thơ khỏe,
Chuyên đối xem ra mệnh nước tuyền.
Nếu hỏi hành trang gì khách có,
Trăng trong gió mát hứng vô biên.
9 和東魯王宗讓見寄詩運
切偲何行得逢君
膠膝相投意愈親
餞席憑君敲白雪
回程快我步青雲
有懷極覺交情切
靡盬剛嫌王事勤
此後日南相記憶
信書好記一封闻
Phiên âm:
Họa Đông Lỗ Vương Tông Nhượng kiến ký thi vận
Thiết tư hà hạnh đắc phùng quân
Giao tất tương đầu ý dũ thân
Tiễn tịch bằng quân xao bạch tuyết
Hồi trình khoái ngã bộ thanh vân
Hữu hoài cực giác giao tình thiết
Mị cổ cương hiềm vương sự cần
Thử hậu Nhật Nam tương ký ức
Tín thư hảo ký nhất phong văn.
Dịch thơ:
Họa vần bài thơ của Đông Lỗ Vương Tông Nhượng gửi cho
Nghĩ thật may sao gặp được anh,
Keo sơn hòa hợp đượm thân tình.
Anh bày tiệc tiễn xua tan tuyết,
Tôi rảo đường về mây biếc xanh.
Có nhớ mới hay tình thắm thiết,
Nhưng hiềm công việc chẳng dứt đành.
Nhật Nam mai nữa rồi mong nhớ,
Xin gửi phong thư nói ngọn ngành./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 20-23)