VI | EN
Hình ảnh Thân Nhân Trung qua Lê triều khiếu vịnh thi tập của Hà Nhậm Đại (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.42 - 46)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.42 - 46)

HÌNH ẢNH THÂN NHÂN TRUNG QUA
LÊ TRIỀU KHIẾU VỊNH THI TẬP CỦA HÀ NHẬM ĐẠI

TS. VƯƠNG THỊ HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Thân Nhân Trung 申仁忠 tự là Hậu Phủ, người làng Yên Ninh, huyện Yên Dũng, trấn Kinh Bắc nay thuộc tỉnh Bắc Giang. Ông sinh năm 1418 và mất năm 1499. Ông thi đỗ Hội nguyên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Quang Thuận thứ 10 đời vua Lê Thánh Tông, tức là năm Kỷ Sửu (1469), làm quan tới chức Tế tửu Quốc tử giám, Đại học sĩ Đông các, kiêm coi Hàn lâm viện, Thượng thư Bộ Lại.

Thân Nhân Trung là người mở đầu cho một gia tộc khoa bảng, ba đời liên tiếp với 4 vị đỗ Tiến sĩ và đều làm quan dưới thời vua Lê Thánh Tông.

Khoa thi năm Tân Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 12 (1481), con trai thứ của ông là Thân Nhân Vũ (còn gọi là Thân Tông Vũ), 38 tuổi đỗ Tiến sĩ, cũng tham gia Hội Tao đàn Nhị thập bát tú.

Khoa thi năm Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490), con trai trưởng của ông là Thân Nhân Tín, 52 tuổi đỗ Tiến sĩ. Điều lí thú hơn là trước đó 3 năm con Thân Nhân Tín là Thân Cảnh Vân (cháu gọi Thân Nhân Trung là ông nội) đã đỗ Thám hoa năm Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487).

Việc cử Thân Nhân Trung làm Độc quyển cho các khoa thi Đình năm Ất Mùi (1475), năm Canh Tuất (1490), năm Quý Sửu (1493), năm Bính Thìn (1496, chứng tỏ Vua Lê Thánh Tông đánh giá tài năng của ông rất cao.

Năm Hồng Đức thứ 6 (1475), Thân Nhân Trung cùng với Lê Niệm, Đào Tuấn, Đỗ Nhuận, Quách Đình Bảo,... được cử đi tiễn sứ giả nhà Minh là Quách Cảnh về nước.

Năm Hồng Đức thứ 14 (1483) vua Lê Thánh Tông sai Thân Nhân Trung, cùng với Quách Đình Bảo, Đào Cử, Đàm Văn Lễ, soạn bộ sách Thiên Nam dư hạThân chinh ký sự.

Thân Nhân Trung được giao soạn bài văn bia Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa tiến sĩ đề danh ký Hồng Đức thập bát niên Đinh Mùi khoa tiến sĩ đề danh ký. Lời văn của tấm bia Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa tiến sĩ đề danh ký đề cao việc giáo dục sử dụng nhân tài có quan hệ chặt chẽ với việc hưng thịnh của đất nước. Các sách sau này khi nhắc đến việc đào tạo nhân tài đều không thể không trích dẫn câu viết của ông:

“…國家之元氣元氣盛則國勢強以隆元氣餒則國勢弱以污是以聖帝明王莫不以育材取士培植元氣為務也// "...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…"(1).

Ông được người đương thời và cả sau này đều kính trọng và ca tụng về học vấn. Người sống sau Thân Nhân Trung khoảng trên dưới 100 năm, đó là Hà Nhậm Đại [(1525-?) tên hiệu là Hoằng Phủ, tự là Lập Pha, người xã Bình Sơn huyện Lập Thạch. Nay thuộc xã Văn Quán huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc. Ông đỗ Đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9 (1574) đời Mạc Mậu Hợp, làm quan tới chức Thượng thư Bộ Lễ], đã có tập thơ nổi tiếng mang tên Lê triều khiếu vịnh thi tập 黎朝嘯詠詩集, còn có tên gọi khác là Thiên Nam thi tập 天南詩集 chuyên đề vịnh những nhân vật triều Lê, trong đó có bài thơ đề vịnh Thân Nhân Trung.

Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu trữ được hai bản viết tay của tập sách này, mang kí hiệu A.315 và VHv.1457.

Theo các sách thư mục cho biết thì đầu sách Lê triều khiếu vịnh thi tập 黎朝嘯詠詩集(bản VHv.1457, 87 tr., khổ 26x17cm) có bài tựa viết năm 1590. Trong bài tựa này tác giả muốn dùng “sự tích triều Lê đáng để khuyên răn” nhưng tiếc rằng bản VHv.1457 đã quá rách nát nên chúng tôi chưa thể đọc được.

Bản A.315, 108 tr., khổ 27x23cm, không có bài tựa. Tờ 1a ghi tên tập thơ là 天南詩集並詳事跡Thiên Nam thi tập tịnh tường sự tích. Ngay sau tên sách từ 1a đến 3a là phần Mục lục. Tiếp sau mục lục đến hết là toàn bộ các bài thơ vịnh bình.

Nội dung tập thơ đề vịnh công thần võ tướng, danh nho, tiết nghĩa, sứ thần, gian thần của triều Lê sơ từ Lê Thái Tổ (1427-1527). Tất cả gồm 106 bài thơ thất ngôn tuyệt cú. Mỗi bài thơ vịnh một nhân vật, có tiểu dẫn sơ lược về lai lịch hành trạng.

Trong tập sách của mình Hà Nhậm Đại chia ra làm từng nhóm nhân vật, cụ thể là:

Nhóm Đế vương triều Lê 皇黎帝王 gồm:

Thái Tổ Cao hoàng đế 太祖高皇帝, Thái Tông Hoàng đế 太宗皇帝, Nhân Tông Tuyên Hoàng đế 仁宗宣皇帝, Thánh Tông Thuần hoàng đế 聖宗淳皇帝, Hiến Tông Duệ hoàng đế 憲宗睿皇帝, Túc Tông Khâm hoàng đế 肅宗欽皇帝, Uy Mục đế 威穆帝, Tương Dực đế 相翼帝, Chiêu Tông Thần hoàng đế 昭宗神皇帝, Cung hoàng đế 恭皇帝.

Nhóm Công thần (功神) gồm 17 người:

Trong phần này, sách và mục lục sách lại chia ra làm 2 phần nhỏ hơn là Nhóm văn thần và võ thần.

Văn thần có 2 người:

Lê Trãi 黎廌 (tức Nguyễn Trãi) và Lê Văn Linh 黎文靈.

Võ thần có 15 người:

Lê Thạch 黎石, Lê Lễ 黎禮, Lê Triện 黎篆, Lê Xí 黎熾, Lê Liệt 黎列, Lê Khôi 黎魁, Lê Niệm 黎念, Lê Nhân Chú 黎仁澍, Lê Lăng 黎凌, Trần Nguyên Hãn 陳元扞, Lê Thọ Vực 黎壽域, Trịnh Khả 鄭可, Lê Bí 黎秘, Nguyễn Văn Lang 阮文郎, Trần Chân 陳真.

Danh nho (名儒) có 25 người:

Nguyễn Mộng Tuân 阮夢荀, Nguyễn Thiên Túng 阮天縱, Nguyễn Thiên Tích 阮天錫, Trình Thanh 程清, Trình Thuấn Du 程舜俞, Phan Phu Tiên 潘孚先, Nguyễn Tử Tấn 阮子晋, Nguyễn Trực 阮直, Nguyễn Bá Kí 伯驥, Nguyễn Phục 阮復, Thân Nhân Trung 申仁忠, Đỗ Nhuận 杜潤, Nguyễn Xung Ý 阮冲懿, Đàm Văn Lễ 覃文禮, Lương Thế Vinh 梁世榮, Đặng Minh Khiêm 鄧鳴謙, Nguyễn Như Đổ 阮如堵, Lương Như Hộc 梁如鵠, Đào Cử 陶舉, Ngô Luân 吾綸, Triệu Thái 趙泰, Phạm Đôn Lễ 范敦禮, Ngô Sĩ Liên 吳仕連, Vũ Quỳnh 武瓊, Lương Đắc Bằng 梁得朋.

Tiết nghĩa có 24 người, trong đó lại chia ra làm 2 nhóm nhỏ hơn là Văn thần gồm 19 người:

Vũ Duệ 武睿, Lê Đức Toản 黎德, Nguyễn Tuyên Cần 阮宣勤, Đàm Thận Vi 譚慎微, Nguyễn Hữu Nghiêm 阮有嚴, Nguyễn Mẫn Đốc 阮敏篤, Ngô Anh 吳火英, Đỗ Nhân 杜絪, Lê Tuấn Mậu 黎俊懋, Bùi Cửu Nguyên 裴久元, Lê Vô Cương 黎無疆, Nguyễn Duy Tường 阮惟祥, Lại Kim Bảng 賴金榜, Dương Trực Nguyên 揚直源, Nguyễn Thiệu Tri 阮紹, Nguyễn Văn Tú 阮文秀, Nguyễn Tự Cường 阮自彊, Trần Năng 陳能, Nguyễn Vũ 阮王禹..

Võ thần tiết nghĩa: 1 người, Nghiêm Bá Kí 嚴伯驥.

Nội thần tiết nghĩa: 1 người, Đào Biểu 陶表.

nhân tiết nghĩa: 1 người, Ngô Tuấn Kiệt 吳俊傑.

Sứ thần có 6 người: Đào Công Soạn 陶公僎, Quách Hữu Nghiêm 郭有嚴, Hà Lật 何栗, Hà Phủ 何甫, Nguyễn Đình Mĩ 阮廷美, Trần Cẩn 陳墐.

Gian thần có 6 người: Phạm Đồn 范屯, Trịnh Duy Sản 鄭惟忄 , Trịnh Hữu 鄭侑, Lê Quảng Độ 黎廣度, Vũ Như Tô 武如蘇, Nguyễn Bá Thắng 阮伯勝.

Nhìn danh mục những nhân vật được chọn ta thấy tiêu chí “khiếu vịnh” mà Hà Nhậm Đại đề ra đã hoàn toàn có lí. Ông đã chọn được những nhân vật tiêu biểu của triều Lê và lời bình vịnh hoàn toàn xác thực. Ví như ông vịnh về nhân vật Nguyễn Trãi - danh nhân văn hóa đã cho thấy ông không những cẩn thận trong việc chọn nhân vật mà chọn cả ngôn ngữ thể hiện. Nguyễn Trãi giỏi dùng thơ quốc âm nên bàn vịnh về Nguyễn Trãi, Hà Nhậm Đại dùng thể thơ Nôm Đường luật như sau:

Giấc mộng hai nơi khéo tỏ tường,

Tới non sông gặp đức Cao Hoàng.

Hịch thư nhiều thuở tài mau mắn,

Pháp độ trăm đường sức sửa sang.

Công giúp hồng đồ cao tựa núi,

Danh ghi thanh sử sáng bằng gương.

Hoạ kia gây bởi Văn Hoàng lỗi,

Xà nọ lời đâu chỉn lạ dường.

Nói như vậy để thấy Thân Nhân Trung “lọt” vào danh sách các danh Nho có mặt trong vô số danh nho của thời Lê đã thấy sự đánh giá tài năng và sự mến mộ của Hà Nhậm Đại với ông thế nào.

黎朝嘯詠詩集 Lê triều khiếu vịnh thi tập, tờ 30a, 30b chép mục về Thân Nhân Trung. Trước bài thơ đề vịnh có 6 dòng nói về tiểu sử của Thân Nhân Trung, nội dung ghi ông là người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng. Đỗ đồng Tiến sĩ khoa Kỉ Sửu năm Quang Thuận thứ 10 (1469), làm quan đến Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Đông các Đại học sĩ. Khi Thánh Tông là Tao đàn Nguyên súy thì bọn Ngô Luân, Nguyễn Tôn Mộng gồm 28 người gọi là Nhị thập bát tú. Trong đó có Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận được phụng bình ngự thi và thơ của các vị khác. Những lời bình còn thấy được trong các tập như Thiên Nam dư hạ tập, Quỳnh Uyển cửu ca, Dữ Tiên hải Minh châu... Con ông là Thân Nhân Tín đỗ Tiến sĩ. Vua Thánh Tông có câu thơ rằng:

Nhị Thân phụ tử bội ân vinh (二申父子佩恩榮/ Cha con họ Thân đều được ban ân ngọc bội vinh hiển).

Bài thơ Hà Nhậm Đại vịnh về Thân Nhân Trung như sau:

Nguyên văn:

Phiên âm:

Thiên tương hiền tá vị thời sinh

Độc thiện Tao đàn đệ nhất danh

Đương thế văn chương chân đại thủ

Nhất môn phụ tử bội ân vinh.

Tạm dịch là:

Trời vì đời sẽ sinh ra bậc hiền tài

Tài giỏi đứng thứ nhất trong Tao đàn

Đương thời văn chương nổi tiếng là đại bút

Một nhà cha con được thấm nhuần ân hiển vinh.

Bài thơ bình dị nhưng khắc họa được chân dung và tài năng của một nhà chính trị, một nhà văn hóa, một “lương thần” dốc hết sức cho sự nghiệp đào tạo nước nhà. Sinh ra để giúp đời, Thân Nhân Trung đã tham gia vào bộ máy chính quyền phò giúp vua Lê Thánh Tông phát triển đất nước, gây dựng đề cao việc phát triển nhân tài. Đồng thời, qua đó cũng nhấn mạnh nhiệm vụ của kẻ sĩ đối với đất nước sau khi nhận áo mũ cân đai biển vàng.

Bài thơ cũng một lần nữa ca ngợi tài năng văn chương quán thế của Thân Nhân Trung và tấm gương sáng của ông đã được con cháu nối tiếp noi theo khi cả hai con và cháu nội ông đều đỗ Tiến sĩ. Tác giả sách Từ điển văn học (bộ mới) nhận xét về thơ Thân Nhân Trung “Thể hiện niềm tự hào về giang sơn tươi đẹp, niềm tin tưởng về thế nước hùng mạnh, niềm lạc quan trước cuộc sống thái bình. Sự nghiệp trước tác của Thân Nhân Trung phản ánh được, ở một mức độ nhất định, chủ nghĩa yêu nước và lý tưởng chính trị xã hội tích cực mà tầng lớp trí thức yêu nước thường phát huy trong thời thịnh của chế độ phong kiến”(2). Và bài thơ của Hà Nhậm Đại lại một lần nữa khẳng định Thân Nhân Trung xứng đáng là người đứng hàng đầu trong số văn thần nổi danh của triều Lê, góp phần đưa đất nước phát triển thịnh trị vào thế kỷ XV trên đất kinh thành Thăng Long.

 

Chú thích:

(1) Theo trang www.hannom.org.vn, Mục Văn khắc.

(2) Theo Từ điển Văn học, bộ mới, mục Thân Nhân Trung. Nxb. Thế giới, H. 2004, tr.1644.

Tài liệu tham khảo

1. Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam(Tái bản có chỉnh lí và bổ sung), Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2007.

2. 天南詩集並詳事跡A.315./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.42 - 46)

Vương Thị Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm