Lược khảo thơ văn Phạm Quý Thích (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (89)2008; Tr.15-26)
LƯỢC KHẢO THƠ VĂN PHẠM QUÝ THÍCH
PGS.TS. LẠI VĂN HÙNG
Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam
Phạm Quý Thích (1760-1825) là một trong những tác gia Hán Nôm lớn giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn. Theo bản hành trạng do Chu Doãn Trí soạn, Phạm Quý Thích có trứ tác khá nhiều. Hiện còn biết được các tác phẩm của ông như:
- Thảo Đường thi nguyên tập
- Lập Trai văn tập
- Tân truyền kỳ lục, v.v...
Phạm Quý Thích cũng là người làm bài Đề từ cho Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du. Riêng thơ, ông có khoảng 600 bài do Bùi Huy Bích bình duyệt và đánh giá rất cao. Tập văn Tân truyền kỳ lục gồm mấy thiên truyện khá đặc sắc.
1. Về thơ
1.1. Như nhiều tác giả văn học cổ khác, thơ Phạm Quý Thích cũng hướng ngòi bút vào thiên nhiên. Tác giả có khi say nằm khểnh vô tư dưới ánh trăng non:
"Thử dạ hữu tân nguyệt,
Hà phương túy trúc biên".
(Dưỡng Hiên khóa văn bãi, trình chư đồng niên)(1)
(Đêm hôm nay có vầng trăng non,
Say nằm bên khóm trúc, cũng có hề gì?)
(Khóa văn Dưỡng Hiên xong, trình các bạn đồng niên)
Có khi lại cùng trăng bầu bạn. Vừa tìm thấy ở trăng sự san sẻ cô đơn lại vừa tìm thấy một cảm xúc man mác, lãng mạn:
"Tiểu phố dạ sơ tịch,
Cô trai nhân tự nhàn.
Phong lai hà tập tập,
Nguyệt xuất chính đoàn đoàn.
Thanh ánh phân hoa ngoại,
Chân cơ tại thụ gian.
Nhất trường hựu nhất vịnh,
Dữ nguyệt cộng bàn hoàn".
(Tiểu viên ngoạn nguyệt)
(Trong vườn nhỏ đêm bắt đầu lặng lẽ,
Nơi phòng con, người cũng thong dong.
Gió thổi sao mà phân phất,
Trăng lên đang độ tròn tròn.
Ánh sáng tỏa ra ngoài hoa,
Cơ trời ở khoảng cây cối.
Vừa uống rượu lại vừa ngâm thơ,
Cùng bàn hoàn với trăng).
(Xem trăng trong vườn nhỏ)
Phạm Quý Thích thường quan sát cảnh vật dưới góc độ “cơ trời” (chân cơ). Thơ ông có chất suy lý. Tác giả thường hay lồng vận thiên nhiên vào những suy tư nào đó. Ông muốn nói gì khi nhìn cảnh sông thu:
"Chúng thủy đồng quy nhật dạ lưu,
Giang đình âu lộ tự vong ưu.
Khả liên ba lãng tương tùy trục,
Tài đáo thu lai tận bạch đầu".
(Thu giang ngẫu hứng)
(Các dòng nước ngày đêm chảy hoài về hướng Đông,
Chim cò, chim mòng trên bãi sông tự nhiên không lo gì cả.
Đáng thương là sóng cồn cứ đua đuổi nhau,
Vừa mùa thu đến, đã bạc đầu hết).
(Ngẫu hứng sông thu)
Thiên nhiên như ám chỉ nỗi lòng con người có lúc xuôi chảy theo luật trời, có lúc thư thả “vong ưu”, có lúc lại cồn cào suy tư đến mức “tận bạch đầu”. Nguyên nhân: sự thay đổi thời gian, cụ thể là khi mùa thu đến. Mùa thu làm người ta trạnh tưởng về cái gì đó sắp chấm dứt, và thường lặng, lắng u huyền. Đây là cảnh chùa Trấn Quốc:
"Mộc diệp tiêu tiêu Trấn Quốc thu,
Thảo hoa mạc mạc cổ cung u.
Đăng lâu nhất vọng hồ thiên vãn,
Hà diệp trung gian quá tiểu chu".
(Du Tây Hồ Trấn Quốc tự, II)
(Lá cây xào xạc, chùa Trấn Quốc trong cảnh vào thu,
Hoa cỏ im lìm, cung cũ có vẻ âm u.
Lên lầu trông suốt cảnh hồ dưới trời chiều,
Trong khoảng lá sen, có chiếc thuyền nhỏ lướt qua)
(Chơi chùa Trấn Quốc trên Hồ Tây, Bài II)
Nhưng mùa thu cũng thật đẹp, cái đẹp còn “rớt” lại, cái đẹp đẹp thêm một lần trước khi tàn tạ hẳn:
"Nhất hoằng thu kính khai tình nhật,
Thập lý hà hương tống vãn phong".
(Du Tây Hồ Trấn Quốc tự, I)
(Một tấm gương thu mở ra dưới bóng trời nắng,
Mười dặm mùi thơm hoa sen đưa lại cùng làn gió buổi chiều)
(Chơi chùa Trấn Quốc trên Hồ Tây, Bài I)
Thơ thiên nhiên Phạm Quý Thích không hiếm những câu hay, bài hay như mấy chứng dẫn vừa rồi. Và bút pháp của tác giả có nét tài hoa. Ông tả cảnh bờ trúc, làn ao:
"Trúc ảnh sư tình nhật,
Trì quang đãng bích hư".
(Nguyên đán)
(Bóng trúc rắc ánh nắng sáng,
Sắc nước ao long lanh giữa trời xanh)
(Ngày tết Nguyên đán)
Lại tả cảnh chim, cá:
"Ngư dược xung vân ảnh,
Điểu đề phá mộ yên".
(Trì bạn thừa lương)
(Cá nhảy xông bóng mây,
Chim kêu tan khói chiều).
(Hứng mát bên ao)
Đó đều là những hình ảnh quen thuộc với bất cứ ai. Nhưng cũng đều được tái hiện một cách khác lạ, đầy mỹ cảm. Đặc biệt là cách dùng các động từ: sư, đãng, xung, phá. Người ta thấy các cặp danh tính ngữ và danh động ngữ mà tác giả dùng là không mới; từ trúc ảnh, tình nhật, trì quang, bích hư đến ngư dược, điểu đề, vân ảnh, mộ yên; vấn đề là các động từ được đặt một cách đắc địa vào giữa các cặp đó. Chúng làm cho cảnh trở nên động và lung linh. Chỗ này là chỗ thơ như họa và thơ hơn họa.
Phạm Quý Thích đã nghệ thuật hóa thiên nhiên, coi cảnh vật như một phần cuộc đời trong sự di dưỡng và làm cho tâm hồn trở nên thư thái. Đấy cũng là một mẫu số chung của cổ thi, nhưng cách thể hiện của Phạm Quý Thích thì có điểm khác lạ.
1.2. Chính vì hòa nhập cùng thiên nhiên mà thơ Phạm Quý Thích còn nói được cái tâm trạng thích nhàn. Thiên nhiên như luôn làm nền cảnh cho một cuộc sống thanh thả:
"Tùng trúc thu lai đa đắc nguyệt,
Bồn lan vũ quá bán khai hoa.
Nhàn tâm mỗi đối cầm ngư lạc,
Bệnh thái duy tương thảo mộc hòa".
(Dữ Khắc Trai độc thư ngẫu thành)
(Lùm trúc từ lúc thu sang, nhiều khi có trăng rọi,
Cây lan trong chậu, sau khi mưa, một nửa đã nở hoa.
Lòng thanh nhàn thường vui với cảnh chim cá,
Thân ốm yếu chỉ điều hòa bằng vị cỏ cây).
(Cùng Khắc Trai đọc sách ngẫu nhiên làm thành)
Nhiều lúc tác giả còn tưởng tượng đến một cõi “siêu thực”, tâm thức quay về bắt chước người xưa, khao khát nguồn suối hoa đào ngoài cõi thế:
"Nhất giang phong vật nhập tân niên,
Ỷ trạo Đông phong tứ diếu nhiên.
Nghị ước Võ Lăng ngư phủ khứ,
Đào hoa lưu thủy hảo xuân thiên".
(Mạn hứng, I)
(Phong cảnh và muôn vật suốt một dãy sông đều đã vào cảnh năm mới,
Tựa mái chèo trước làn gió Đông, ý nghĩ man mác.
Định hẹn ước với bác làng chài đất Võ Lăng,
Đi đến chỗ hoa đào nước chảy, trời xuân đẹp đẽ kia)
Nhưng cảm hứng Đào Nguyên cũng chỉ là giây lát, tác giả vẫn phải quay lại thực tế với những cảnh vật gần gũi, thân quen để gửi thân nhàn:
"Thập nhị niên mưu học cố cùng,
Trị viên chủng mộc tác thôn ông.
Tây trù vũ giáng vấn nông phủ,
Vu thiện vịnh quy tiên tiểu đồng.
Trai lý đồ thư tiêu vĩnh trú,
Đình tiền hoa thảo trưởng xuân phong".
(Trình Đức Ninh)
(Đã mười hai năm lo học điều “cố cùng”,
Sửa vườn, trồng cây làm ông lão nhà quê.
Sau khi mưa xuống đồng phía Tây, hỏi bác nông phu,
Ở đàn Vu ngâm thơ trở về, đi trước đứa nhỏ.
Đồ, thư trong trai phòng đủ tiêu khiển ngày dài,
Hoa cỏ trước sân nhà làm tăng thêm gió xuân).
(Trình với Đức Ninh)
Rõ ràng là cảnh một nho sĩ sống giữa thôn quê học lẽ “an bần”. Thú quê trong sạch dường như cũng có sức hấp dẫn:
"Vân thủy tương tiên phong phục thanh,
Nhất viên u điểu náo tâm tình.
Thư trai thụy khởi hòe hoa lạc,
Thạch bạn trà âu thủ tự phanh".
(Thu nhật thụy khởi)
(Mây nước tươi đẹp, gió lại mát mẻ,
Chim chóc một vườn rộn ràng trong nắng mới.
Ngủ dậy ở thư phòng thấy hoa hòe rơi,
Bên đá, tự tay mình pha lấy âu trà)
(Ngày thu ngủ dậy)
Dù gắng học lão nông, học làm một ông nhà quê vui thú “điền viên xó xỉnh” nhưng nhân vật trữ tình suy cho cùng vẫn là một trí thức. Anh ta gắn với “thư phòng” như một không gian sống “định mệnh” không thể khác, không gian đó lại yên ả giữa cây, hoa, chim thú như một chốn nương thân:
"Thụy khởi thư trai tĩnh,
Huề cùng tứ sở chi.
Khuyển miên hàn trúc ngoại,
Điểu ngữ mộ yên thì.
Thê thác tâm thành ủy,
Du nhàn bệnh cố nghi.
Tầm thường hành lạc xứ,
Chỉ hữu cúc hoa tri".
(Thụy khởi khán cúc)
(Ngủ dậy, thư phòng lặng lẽ,
Cắp cây gậy tha hồ đi đâu thì đi.
Chó ngủ ngoài bụi trúc lạnh,
Chim kêu lúc chiều muộn khói tỏa.
Được nơi nương náu, lòng thật thỏa thích,
Có bệnh nên phải trộm nghỉ ngơi.
Chỗ tầm thường vui chơi,
Chỉ có hoa cúc biết)
(Ngủ dậy xem cúc)
Nhàn như thế đã là một cách lánh đời rồi. Thế mà có lúc tác giả còn phải trốn đời thật sự. Mà không biết trốn đâu cho yên thân:
"Tỵ nhân hà xứ ổn,
Tảo phỏng Võ Lăng khê".
(Dã độ)
(Lánh người thì ở đâu cho yên ổn,
Nên sớm hỏi thăm khe Vũ Lăng).
(Qua đò quê)
Cảm hứng nguồn đào lại trở lại. Tuy nhiên, cảm hứng đó không còn mang sắc thái thoát tục tìm tiên nữa, mà nó biểu hiện ý muốn tìm một thế giới khác để tránh khỏi đồng loại. Khí vị lãng mạn ở trường hợp này được thay bằng sự bi kịch đến cùng tột, khi con người rơi vào tình trạng bị dồn đuổi đến mức dường như thế gian không có chỗ cho mình nữa. Bài thơ có lẽ được sáng tác trong thời gian tác giả phải tị nạn liên tục dưới sự truy xét khá gắt gao của quân tướng Tây Sơn. Cũng may, bi kịch đó chỉ nhất thời. Người ta vẫn tìm thấy trong thơ Phạm Quý Thích sự an nhàn, tự tại mang tính thường nhiên:
"Hiểu khởi nhân tâm tĩnh,
Thư đường thiên khí thanh.
Dư sương do tại thụ,
Sơ nhật vị lai linh.
Lâm thủy kiến ngư dược,
Bằng lan văn điểu minh.
Nhàn trung tri vật lý,
Thử ngoại cánh hề doanh".
(Hiểu khởi)
(Sáng dậy trong lòng yên lặng,
Trong phòng đọc sách, khí trời mát mẻ.
Hạt sương rơi rớt còn ở trên cây,
Ánh mặt trời mới mọc chưa rọi vào song cửa sổ.
Tới bên nước thấy cá nhảy,
Tựa lan can nghe chim kêu.
Trong khi thanh nhàn mà biết được sự lý của muôn vật,
Ngoài ra còn phải lo lắng gì nữa).
(Sáng dậy)
Đó là con người nắm được cơ trời (vật lý) qua quan sát tự nhiên và ung dung hành xử. Nhìn kĩ hơn vào tâm trạng tác giả thấy nhàn luôn chỉ là vẻ bề ngoài. Trong chiều sâu suy tư, vẫn có một điều gì khác ẩn kín dưới vẻ ngoài nhàn nhã đó.
1.3. Đó là sự bế tắc. Bế tắc đến buồn thảm. Trong khoảnh khắc chuyển giao mới cũ vào một đêm ba mươi tết (Trừ tịch), tác giả viết:
"Tiên đồ cử túc giai kham giới,
Vãng sự hồi đầu tận khả liên".
(Trên con đường tương lai, hễ cất bước là phải cảnh giới,
Nghĩ lại việc trước, điều gì cũng thật đáng thương).
Quá khứ không ra gì, tất cả đều “đáng thương”. Tương lai cũng chẳng sáng sủa, một bước đi là một bước ngại ngùng. Giữa quá khứ và tương lai như vậy, cái hiện hữu thật trĩu nặng âu lo. Đến mức trong một lần làm thơ gửi bạn, tác giả tâm sự: “Khởi luận cùng thông dữ tử sinh” (Có kể gì đến chuyện cùng thông và sống chết nữa). Hóa nên, cũng như một lẽ tự nhiên, nhà thơ thường buồn bã, cô quạnh. Khi thì:
"Bán dạ thanh phong quá khúc lan,
Hư trai nhân hối tiểu đăng hàn".
(Dạ tọa ngẫu thành)
(Nửa đêm gió mát thổi qua dãy lan can cong,
Trong gian nhà trống, người vắng, ngọn đèn nhỏ lạnh lùng).
(Đêm ngồi ngẫu nhiên làm bài thơ)
Thấy có tâm trạng “nhà ngặt, đèn xanh” của Nguyễn Trãi khi xưa. Thêm nữa, ngoài cái “tâm bệnh” đó, nhà thơ còn phải mang cái “thân bệnh”:
"Kính trung chiếu diện tâm phân sấu,
Đăng hạ quan tâm nhất điểm hư".
(Bệnh trung ký Hiếu Đức)
(Soi mặt trong gương, đã ba phần gầy gò,
Dưới đèn, xét lòng thấy một bề trống trải)
(Trong khi ốm làm thơ gửi Hiếu Đức)
Rất nhiều khi tác giả không ngủ (Bất mị) và cô quạnh giữa cảnh vật:
"Chung sơ lậu vĩnh dạ trầm trầm,
Nguyệt đạm tinh hy tứ bích âm".
(Chuông thưa, canh vắng, cảnh đêm lặng lẽ,
Trăng nhạt, sao thưa, bốn bề âm u)
Những đêm mùa đông lại càng buồn vắng hơn. Lúc nào dường như cũng thấy hiện lên hình ảnh tác giả một mình dưới đèn, nghe tiếng dế kêu, tiếng gió thổi và lá rụng, thật quả là “Đã nghe rét mướt luồn trong gió”:
"Cô đăng chiếu vô mỵ,
Hàn tương minh dạ trường.
Đình thụ phong thê thê,
Lạc diệp văn hữu sương".
(Đông dạ)
(Ngọn đèn soi người không ngủ,
Dế lạnh kêu suốt đêm dài.
Gió thổi, cây trước sân lành lạnh,
Trên lá rụng nghe có tiếng sương rơi)
(Đêm đông)
Nhưng ở đây hầu như không có cảm hứng lãng mạn, dẫu đấy là những câu thơ tuyệt hay miêu tả đêm đông; mà ở đấy thấy đượm vẻ cô đơn, trống vắng, còn cái lạnh thì như thấu tận tâm can.
Đến khi gặp cảnh đất khách quê người thì cảm giác đó càng tăng gấp bội:
"Nhật mộ ngưu dương hạ,
Cô thôn thủy mộc thu.
Kỷ gia hoàng diệp lý,
Nhiễu quách bạch tần chu.
Bình ngạnh tha hương khách,
Binh qua tại xứ sầu.
Thư sinh bất tế sự,
Nam vọng lệ hoành lưu".
(Lữ trung thu vọng)
(Trời chiều tối, trâu dê đi xuống,
Xóm lẻ loi, nước và cây nhuốm một màu thu.
Mấy ngôi nhà ở trong đám lá vàng,
Quanh vùng đều là bãi rau tần trắng.
Lênh đênh làm khách quê người,
Cảnh binh đao ở chỗ nào cũng đáng buồn bã.
Kẻ thư sinh không làm nên việc,
Vời trông phương Nam nước mắt ứa ngang)
(Ở đất khách trông cảnh mùa thu)
Ngay cả khi xuân về, cảnh đất khách vẫn khôn nguôi ám ảnh. Mùa xuân là mùa của sự sinh sôi nảy nở, nhưng tác giả lại miêu tả một hình ảnh rơi rụng, tàn tạ:
"Tha hương cảnh vật nhược vi hoài,
Túy ỷ Đông phong tửu nhất bôi.
Dục vấn Ngọc Quan vô hạn ý,
Nhất thiên xuân vũ lạc tàn mai".
(Cảnh vật quê người như làm ta xúc cảm,
Đứng tựa trước gió Đông say một chén rượu.
Muốn hỏi cái ý tứ vô hạn ở Ngọc Quan,
Một trời mưa xuân, rơi bông mai tàn).
Có gì đó như bất lực. Tác giả đã hơn một lần thốt lên: “Thư sinh bất tế sự” (Kẻ thư sinh không làm nên việc); rồi “Chỉ tiếu phù vân tự thử sinh” (Chỉ buồn cười là kiếp này giống như đám mây trôi)(2); lại nữa:
"Vi nho thế nạn vô công nghiệp,
Bất mỵ nghiêm tiêu khán Đẩu, Ngưu".
(Bất mỵ thư hoài)
(Đời nhiều tai nạn, làm nhà nho không lập được công nghiệp,
Đêm khuya không ngủ ngồi xem sao Đẩu, sao Ngưu)
(Không ngủ, ghi nỗi lòng)
Phạm Quý Thích xuất thân từ một danh gia, còn khá trẻ đã vào hoạn lộ. Nhưng hoạn lộ không dài, thậm chí là khá ngắn (khoảng dăm năm) thì đã bị ngắt quãng; và cũng còn khá trẻ (khoảng 28 - 29 tuổi) ông cũng đã bị rơi vào hoàn cảnh phải trốn chạy suốt thời Tây Sơn (gần 15 năm). Hoạn lộ ngắn ngủi, cuộc đời suốt thời đáng lẽ cống hiến được nhiều nhất thì lại phải ẩn tàng, có lẽ hoàn cảnh ấy cộng với những bi quan về chính trị xã hội đã tác động mạnh đến Phạm Quý Thích. Thơ ông thường bi, buồn là vì lẽ đó.
1.4. Nỗi băn khoăn lớn nhất dường như Phạm Quý Thích dồn cả vào việc nói đến sự vô tích sự của kẻ mang danh là “vi nho” như ở bài vừa dẫn, hay là kẻ mang danh là “quan thân” như ở bài Vọng vũ (Trông mưa) dưới đây:
Phiên âm:
Nguyệt minh phong bất động,
Vân tĩnh dạ vô trần.
Thiên lí nan vi vũ,
Niên quang giảm khước xuân.
Khả liên vô cốc giả,
Đa quý hữu quan thân.
Thùy vị thi lâm mộc,
Phong niên hoạt ngã dân".
Dịch nghĩa:
Trăng sáng, gió lặng ngắt,
Mây lặng, đêm trong ngần.
Xem ý trời khó mưa lắm,
Mà quang cảnh thời tiết cũng kém màu xuân.
Đáng thương hạng người không biết kêu van vào đâu,
Thẹn nhiều vì có cái thân quan.
Ai vì dân mà cho mưa móc,
Để được mùa màng nuôi sống dân ta.
Trời hạn hán, dân không biết kêu đâu. Tác giả tự thẹn vì không giúp gì được. Suy cho cùng đấy cũng là những tự vấn mang tính liêm sỉ, đấy là cái tâm “tu ố” của Nho gia, chứ con người thì làm gì được tự nhiên, làm gì được ông trời? Hai câu cuối bài thơ lại như một đòi hỏi, một yêu cầu đối với thể chế trước sinh mạng người dân. Ở đây, không chỉ đòi hỏi một cơn mưa cụ thể, mà còn đòi hỏi những cơn mưa móc - như biểu trưng kết quả tốt lành của cả nền chính sự.
Như thế là ngòi bút của tác giả đã hướng tới đời sống của người dân trong những cơn “bĩ cực”. Nhà thơ còn làm cả một bài hành dài miêu tả cảnh tượng dân chúng đã phải chịu đựng thiên tai như thế nào:
Phiên âm:
Lập xuân cửu hĩ thiên bất vũ,
Nhật hỏa hách hách thiên cửu cù.
Dạ dạ nguyệt lãng phong thê thê,
Phồn xương lâm liệt điêu nghiêm thu.
Đông lân vấn mễ giá,
Tây lân ngữ xuân trù.
Xuân trù nông phu khấp tương tố,
Thiên giáng tai hại vô tuế vô.
Tiền niên hạn hoàng cách niên lạo,
Kim phục như thử hạ hà thu?
Cường giả tương tụ tứ thiêu lược,
Lão nhược chuyển tý điền hức câu.
Ta tai bất hữu Trịnh Giám môn,
Thùy vị quân vương họa thử đồ.
Ngôn vị cập dĩ cự ta tức,
Ngũ bệnh văn chi khởi trường hô.
Thiên chi bất vũ hồ vi hồ,
Tam nông vọng nhãn giai dục khô.
Ô hô! Thương sinh kì hà cô,
Ngưỡng thiên dục trường hô.
Hồ bất sử cửu long nhất hấp bách xuyên thủy,
Tản vi cao trạch sái cửu khu?
Thứ cơ ngô dân kỳ thiếu tô".
(Bất vũ hành)
Dịch nghĩa:
Lập xuân đã lâu rồi trời không mưa,
Lửa mặt trời rừng rực đốt cháy chín nẻo đường.
Đêm đêm trăng sáng gió lành lạnh,
Sương nhiều rét giá như tiết thu điêu tàn.
Nhà láng giềng phía Đông hỏi thăm giá gạo,
Nhà láng giềng phía Tây nói về việc ruộng đồng vụ xuân.
Nói về ruộng đồng vụ xuân, nông dân khóc lóc kể với tôi:
“Trời sinh tai ách không năm nào không có.
Năm trước đại hạn, hoàng trùng, năm kia thì lụt,
Năm nay lại như thế, vụ hè còn thu hoạch gì nữa?
Bọn cường bạo thì họp nhau tha hồ đốt nhà cướp của,
Người già yếu thì xiêu bạt chôn vùi nơi ngòi rãnh.
Than ôi! Không có ông Trịnh Giám môn,
Ai vì nhà vua vẽ bức tranh này (dâng lên)?
Họ nói chưa dứt lời, vội cùng nhau than thở,
Ta đang ốm, nghe chuyện đó cũng bật ra lời than dài.
Làm sao mà trời không mưa?
Con mắt trông ngóng của ba hạng nhà nông đều đã gần khô ráo.
Thân ôi! Dân đen có tội tình gì!
Ta muốn ngửa mặt lên trời mà kêu một tiếng dài.
Sao mà trời không sai chín con rồng hút nước trăm sông,
Tan ra làm màu mỡ tưới khắp chín cõi?
Ngõ hầu giúp dân ta đỡ khổ ít nhiều
(Bài hành không mưa)
Các nhà thơ xưa thường sáng tác thể hành. Thể này đắc dụng ở yếu tố tự sự, bên cạnh chất trữ tình. Nguyễn Du viết Sở kiến hành kể về mấy mẹ con ăn mày và cảm hứng cũng là muốn có người dâng lên nhà vua bức họa về hai cảnh tương phản: cảnh tiếp đón sứ đoàn rượu thịt thừa mứa và cảnh mấy mẹ con hành khất đang đói khát tuyệt vọng. Phương pháp phản ánh hiện thực của Nguyễn Du là tả lại một cảnh điển hình để khái quát hóa đời sống xã hội. Ống kính của nghệ sĩ tập trung vào một tiêu điểm (focus). Còn Phạm Quý Thích lại khác, ông vẽ lên cái phông nền (background) của hiện thực. Mà không chỉ nói về thiên tai hạn ách, Phạm Quý Thích cũng vẫn dùng biện pháp đó để mô tả lại toàn bộ cảnh tượng điêu đứng cùng cực ở một trấn lớn sau chiến tranh:
Phiên âm:
Khu xa phó Kinh Bắc,
Chu đạo hà thản di.
Dã sắc xuân thê thê,
Tứ cố âm vân thùy.
Đông phong phất diện lai,
Trung tâm khoáng dĩ bi.
Hành hành quá thanh sơn,
Nhật mộ chuyển sơn bi.
Vọng vọng kiến trấn thành,
Hàn yên không cố ky.
Tựu cư nhập dân xá,
Hoang lương phi tích thì.
Xá trung hữu lão ông,
Khú lũ dạ lai quy.
Vấn ông quy hà vãn?
Phụ mễ thâu quân ty.
Thâu mễ kim nhược hà?
Vị ngôn dục hư hy.
Can qua nhất kinh niên,
Trữ trục mỵ hữu di.
Phú giả kim dĩ bần,
Bần giả tồn kỷ hy.
Hoang ốc mãi vi tân,
Khang tỷ cam như di.
Lại nhân xúc nhân khứ,
Thôn thôn như nhiên my.
Táng loạn vị hữu định,
Quân hưng phí bất xi.
Phủ khố cố không hư,
Lân nghị diệc hà vi.
Nhân tình hoài cố hương,
Khứ khứ tượng yên chi.
Khấu môn sách thăng đẩu,
Mạnh miễn hoặc thứ ky.
Thê thê bất nhận văn,
Miễn ngưỡng tâm ưu ty.
Cổ nhân sỉ thát thị,
Dân lao khổ nhược ti.
Ta ngã hữu quan thủ,
Sô mục an cảm tì".
(Phó Kinh Bắc)
Dịch nghĩa:
Ruổi xe tới trấn Kinh Bắc,
Đường lớn bằng phẳng biết bao.
Cảnh sắc đồng nội đang lúc hơi xuân lành lạnh,
Trông bốn bề mây đen rủ thấp.
Gió Đông đập vào trước mặt,
Trong lòng trống rỗng buồn rầu.
Đi mãi qua núi xanh,
Chiều tối vòng quanh sang chân núi.
Xa xa trông thấy tòa thành của trấn lỵ,
Nền cũ trống không trong đám mù lạnh.
Thuê ở trong nhà dân,
(Nhà) cũng hoang tàn vắng vẻ không được như xưa.
Trong nhà có ông cụ già,
Đêm đến mới lọm cọm về.
Hỏi ông sao về muộn thế?
(Ông nói) đội gạo đi nộp quân lương.
Việc nộp gạo nay ra sao?
Ông chưa nói đã muốn sụt sùi.
Rằng: Nạn binh đao đã hơn một năm nay,
Đồ canh cửi chẳng còn sót lại chút nào.
Nhà giàu nay đã nghèo,
Nhà nghèo thì còn lại chả bao nhiêu.
Nhà bỏ hoang dỡ bán làm củi,
(Được miếng) tấm cám thấy ngọt như đường.
Bọn nha lại tới giục người đi,
Xóm nào xóm ấy gấp mau như cháy lông mày.
Việc mất mát, loạn lạc chưa hề ổn định,
Việc khởi binh tốn kém không biết bao nhiêu mà kể.
Kho tàng cố nhiên là trống rỗng,
(Kiếp người) như sâu kiến có ra gì.
Tình người ai cũng nhớ quê,
Đi mãi thì đi vào đâu?
Gõ cửa người ta để kiếm lưng chén một bát,
Có cố gắng lắm thì may ra mới được.
(Lời ông nói) rầu rầu không nỡ nghe,
Cúi xuống, ngước lên, lòng ta những lo nghĩ.
Người xưa thẹn như bị đánh giữa chợ,
Phương chi người dân đang khốn khó như thế.
Than ôi! Ta là người có chức trách,
(Bổn phận) chăn dân đâu dám từ nan.
(Đến trấn Kinh Bắc)
Và dường như ở bài thơ dài này cũng dùng cả biện pháp tiêu điểm như Nguyễn Du. Toàn bộ tình cảnh của một trấn lớn vốn trù phú nay thành hoang tàn hiện lên qua hình ảnh và lời kể của ông lão quê “lọm cọm”. Bài thơ còn ghi được năm sáng tác là Đinh Mùi (tức 1787). Đối chiếu với sử sự thì thấy đó là năm mà vùng Kinh Bắc phải trải qua nhiều can qua, hoạn nạn. Mà hậu quả là như đã thấy một phần qua bài thơ. Đây cũng là thời gian Phạm Quý Thích được điều đến làm Hiệp trấn Kinh Bắc, nhưng rồi ông không làm được gì vì gặp phải tay Trấn thủ là một kẻ quá bỉ lận. Cuối bài thơ, Phạm Quý Thích vẫn nghĩ đến chức trách nặng nề của mình như một nỗi băn khoăn không dứt, tiếp tục những suy tư về “vi nho”, về “quan thân” như đã thấy. Hơn thế, tác giả còn thổ lộ một niềm mơ ước lớn, mơ một đất nước thanh bình, cũng như khi trước, mơ một nền chính sự “trạch dân”:
"Đại miếu ô đề dạ dạ thanh,
Trường An nhất bán nguyệt hoa minh.
Liên hồ thủy đái hoa biên tự,
Cổ thụ sương thâm trúc ngoại thành.
Cố lý vân phù không cực mục,
Cao lâu họa giác tối quan tình.
Thùy năng nhất vãn thiên hà thủy?
Tảo vị càn khôn tẩy giáp binh".
(Thu dạ bộ nguyệt hữu hoài)
(Đêm đến có tiếng quạ kêu ở miếu lớn,
Bóng trăng rọi sáng một nửa kinh thành.
Nước hồ sen bao quanh ngôi chùa bên hoa,
Sương phủ dày cây cao bức thành ngoài rặng trúc.
Quê cũ mây che, vời trông hết tầm mắt,
Tiếng tù trên lầu cao, rất thống thiết tâm tình.
Ai có thể kéo nước sông Ngân Hà xuống?
Sớm vì trời đất mà rửa sạch giáp binh).
(Đêm thu dạo dưới trăng, xúc cảm)
Ở đây, Phạm Quý Thích lại đồng cảm với Đặng Dung khi xưa; cái ý định muốn “vãn thiên hà” để “tẩy binh” đó Đặng Dung thể hiện như một bi kịch, vì “vô lộ”; còn Phạm Quý Thích thì nói như một mơ ước, cho một đất nước triền miên chinh chiến loạn lạc. Câu hỏi mà nhà thơ đặt ra, có thể không có câu trả lời. Cũng như cái ước mong ông trời sai “chín con rồng” phun nước làm trạch nhuận dân đen kia cũng chỉ là vọng tưởng. Dẫu sao, đó cũng là cảm quan hướng về hiện thực của tác giả ở hai mảng khắc nghiệt nhất của đời sống là thiên tai và chiến tranh; và đó cũng là nơi nhà thơ thể hiện những ước vọng đậm tính nhân văn hướng về con người.
Ngoài mấy nội dung trên đây, thơ Phạm Quý Thích còn có một số nội dung khác nữa, như là: tinh thần thích thảng khá lạc quan khi khi nhìn nhận cơ lý sự vật; tấm lòng yêu mến trân trọng, tri ân đối với đồng liêu bạn hữu văn nhân, hay là tình cảm tự hào dân tộc (trong những bài thơ hoài cổ), v.v...
2. Về văn
Tân truyền kỳ lục là tập truyện đặc sắc của Phạm Quý Thích. Nằm trong “phả hệ” truyền kỳ, tác phẩm này ra đời sau Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đến khoảng xấp xỉ hai thế kỷ rưỡi, và trước những Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút, Vân nang tiểu sử... Nếu xét trong tiến trình của truyện truyền kỳ trung đại thì Tân truyền kỳ lục nằm ở giai đoạn thứ 3 - cũng là giai đoạn khép lại của thể loại. Điểm đặc biệt là tác phẩm của Phạm Quý Thích là một trong không nhiều tác phẩm thuần túy là truyện, không có ký hoặc tản văn xen lẫn vào. Chính vì có thể nằm ở giai đoạn đã chín muồi của thể loại mà các truyện đều được viết chắc tay, chững chạc về cả nội dung và nghệ thuật.
Kết cấu các truyện đều được chia làm 3 phần. Phần đầu giới thiệu về nhân vật, có cả niên đại, tên hiệu, quê quán, chí hướng, nghề nghiệp. Không gian hoạt động của các nhân vật là giai đoạn cuối Lê và thời Tây Sơn. Thậm chí các truyện ghi lại cả những sự kiện đúng với chính sử. Ví như: “Cuối đời Chiêu Thống, thiên hạ loạn to, quân Nam thừa thắng kéo ra, quân Ngô tan tác, vua Lê chạy về phương Bắc. Thế là chỉ trong khoảnh khắc, binh dân mười ba đạo đã lọt vào tay tù trưởng Tây Sơn” (Con chó nhà nghèo có nghĩa)(3). Hay mấy chuyện đều lấy năm Bính Thìn (1796) làm thời gian xảy ra câu chuyện. Như vậy, người ta thấy mấy câu chuyện mà tác giả kể đều có vẻ thực, hoặc giả dựa trên sự thực. Người ta cũng thấy các nhân vật làm nghề thầy trong mấy truyện như Đào Vân Hiên (Con chó nhà nghèo có nghĩa), hay Nguyễn Gia Hiến (Ve sầu và nhặng xanh)(4) đều mang dáng dấp của chính tác giả.
Phần tiếp theo là phần chính của truyện, được tính từ khi bước ngoặt truyện xảy ra. Ở Ve sầu và nhặng xanh là lúc nhân vật thầy giáo “đến chơi chùa An Lạc, giữa đường gặp một người lạ đưa cho mấy viên kim đan. Ông đem uống luôn, bất giác thấy thần thái thanh thản, phủ tạng nhẹ nhõm, hiểu biết tiếng nói các loài vật”. Ở Con chó nhà nghèo có nghĩa là lúc con chó Hàn Lư sủa dọa gã nhà giàu họ Trương và “nói thành tiếng người”. Nhưng điều đáng nói là câu chuyện xảy ra dường như không dính dáng đến nhân vật làm thầy nữa, mà biến thành các đối thoại giữa hai “nhân vật” khác hẳn, còn nhân vật làm thầy chỉ là người chứng kiến, đưa đẩy, đôi lúc phẩm bình.
Các đối thoại giữa ve sầu và nhặng xanh (Ve sầu và nhặng xanh), giữa chú khuyển Hàn Lư với họ Trương (Con chó nhà nghèo có nghĩa) được tác giả nhân cách hóa như các đối thoại giữa người với người. Nói cách khác, hai cặp đối thoại thì chỉ có một nhân vật là người thật.
Phần cuối cùng các truyện thường là một lời bình luận, đánh giá về thiện ác, xấu tốt, trung nịnh. Phần này là lời tác giả, mang tính tư tưởng.
Nhân vật trong các truyện của Phạm Quý Thích đều đậm tính biểu tượng. Con ve sầu tượng trưng cho kẻ sĩ quân tử: “Nghĩ đến nghĩa quân thần thì mùa đông giá lạnh giữ tiết, ngậm im không nói. Vui với đạo thánh nhân thì mùa hè oi ả đọc kinh sách, ngâm ngợi chẳng dừng. Mũi tên lụa của nhà vua buổi đi săn không sao bắn được, thật tài trí làm sao. Của phi nghĩa tơ hào không dính líu, thật thanh khiết làm sao. Không cầu cạnh người để được no bụng, thật liêm chính làm sao. Không hại vật để tự béo phì, thật nhân đức làm sao”; con nhặng xanh lại để ví với đám quan lại xu thời trục lợi, tham lam: “Nhặng xanh kia! Tham ăn không chán, xu phụ thành đàn. Ra vào ở quán bào ngư mà không thấy thối, len lỏi ở nơi bếp núc mà chẳng thấy nhơ... Tất cả bổng của mày, lộc của mày đều là mủ của dân, mỡ của dân. Vậy nên có được bụng lớn béo tròn, đầu mắt to rỗng, đã không biết tự hổ thẹn, còn cho là vinh hoa”; còn chú chó Hàn Lư thì được ví với những trung thần nghĩa sĩ, không vì chủ cùng hay đạt mà ăn ở hai lòng.
Nhân vật chính trong truyện của Phạm Quý Thích hầu hết là các con vật, được khoác vẻ linh, nói được tiếng người. Đây cũng là thủ pháp quen thuộc từng thấy trong tự sự dân gian: các con vật nói tiếng người. Nên có thể nói, cái "kỳ" trong truyện Phạm Quý Thích là không mới. Cái tác giả đạt tới được, mà người đọc cũng cảm nhận rõ, là tính chất ngụ ngôn sâu sắc.
Nội dung tư tưởng của các truyện thường toát lên từ các lời bình cuối mỗi truyện. Cuối truyện Ve sầu và nhặng xanh, tác giả viết: “Than ôi! Ve là vật vô tri mà còn biết được thanh cao mà tự giữ lễ nghĩa, gìn thân mình, huống hồ kẻ sĩ đại phu ở đời phải biết coi trọng cương thường. Cương thường không biết tôn trọng thì dù có đội mũ mặc áo cũng chỉ là loài cầm thú, khác gì loại nhặng xanh kia?”. Còn cuối truyện Con chó nhà nghèo có nghĩa là: “Ngẫm ra thấy lòng người sao chẳng được như xưa, thế thái nhân tình lắm nỗi; lúc nước nhà vô sự yên vui thì xu nịnh cầu vinh, khi non sông gặp cơn tai biến thì trở mặt đổi giọng; lại còn bán nước cầu sống, cơ hội kiếm lộc, sao mà vô sỉ quá vậy. Vì thế tôi cho rằng: trên đời những kẻ không bằng con Hàn Lư kia là nhiều lắm vậy”. Như thế, nội dung chính của Tân truyền kỳ lục là đề cao liêm sỉ, lễ nghĩa, cương thường; đề cao tư tưởng ái quốc trung quân, ngụ ý tâm sự hoài Lê.
Điểm nữa cũng cần chú ý là các truyện trong Tân truyền kỳ lục đều được viết bằng biền văn, câu văn gọt rũa, đối ngẫu cân chỉnh, ý tứ sâu sắc. Ngoài phần văn xuôi, các truyện cũng có nhiều đoạn văn vần đan xen mà hầu hết là thơ ở các thể tứ tuyệt, bát cú, ngũ ngôn. Đấy cũng là hình thức tự sự - trữ tình thường thấy.
Kết luận
Phạm Quý Thích sống và xuất xử qua cả mấy triều đại: Lê - Trịnh, Tây Sơn và triều Nguyễn. Ông đã là chứng nhân, là người trong cuộc ở vào một thời kỳ có nhiều biến động nhất trong lịch sử. Những biến động đó đã khiến Phạm Quý Thích thành người khá vất vả trên quan trường và long đong lận đận trong cuộc đời. Nhưng trước sau ông vẫn giữ được tinh thần cao khiết, trung trinh của một kẻ sĩ. Thơ văn ông cũng phản ánh được phần nào tình trạng xã hội đương thời - ở những mặt hiện thực nhất. Quan trọng hơn, thơ văn ông còn thể hiện rõ nét tâm hồn, tư tưởng của những trí thức đa tài kém vận mà ông chính là một trong những đại diện tiêu biểu.
Chú thích:
(1) Dẫn trích thơ từ đây trở xuống tham khảo từ Phạm Lập Trai Thảo Đường thi tập, Bản dịch viết tay, Thư viện Viện Văn học, Ký hiệu DH 281.
(2) Bài thơ Hồi trạo (Đi thuyền trở về), Tlđd, tr.45, tập IV.
(3) Bản dịch của Lại Văn Hùng in trong Truyện truyền kỳ Việt Nam, Quyển hai, Nxb. Giáo dục, H. 1999.
(4) Bản dịch của Nguyễn Tá Nhí in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Nguyễn Đăng Na biên soạn), Tập 1: Truyện ngắn, Nxb. Giáo dục, H. 1997./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (89)2008; Tr.15-26)