Quốc tử giám dưới thời Lê sơ được xây dựng và bổ sung nhiều hạng mục công trình khác làm thành quần thể kiến trúc quy mô, như xây thêm điện Sùng Nho, nhà Thái học, nhà Minh Luân và hành lang; đồng thời còn có nơi cư trú cho học sinh, dưới tên gọi là nhà Xá sinh được phân làm ba hạng là Thượng xá, Trung xá và Hạ xá. Cũng vào thời Lê, trong Văn miếu - Quốc tử giám này có tòa Thượng điện, gọi là cung Đại Thành, nơi thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền. Các sự kiện này được chính sử ghi lại như sau: “Quý Mão, Hồng Đức thứ 14 (1483), làm điện Đại thành, đông vu, tây vu ở Văn miếu cùng điện Canh Phục, kho chứa ván in, kho chứa đồ tế lễ, đông tây đường nhà Minh Luân”.
Thời Lê - Trịnh, Văn miếu Quốc tử giám được tu sửa và mở mang quy mô. Các phường thợ đá nổi tiếng như Kính Chủ (Hải Dương) và An Hoạch (Thanh Hóa)... được điều ra đảm nhận công việc chạm đục bia đá, tượng đá và thềm bậc, cột trụ đá, đúc chuông... Một số di văn Hán Nôm hiện còn ở đây gắn với những di vật, di tích, những sự kiện lịch sử cụ thể ở thời Lê - Trịnh, giai đoạn xây dựng và hoạt động cuối cùng của Văn miếu Quốc tử giám gắn với kinh đô Thăng Long.
1. Trước hết là văn bia động Kính Chủ (Dương Nham) huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, ghi lại lệnh chỉ của chúa Trịnh cấp cho thợ đá làng Kính Chủ được miễn phu phen tạp dịch lo việc tạo bia đá Văn miếu trong lần tu sửa Văn miếu dưới thời Lê - Trịnh. Nguyên văn chữ Hán:
奉府僚等官付峽山縣敬主社官員將臣社村長黎功業阮玉偵黃汝能阮謹信阮岳阮文策阮維統黎哆阮玉葉阮有裕阮嗥鄭金益黃彭阮有受全社巨小等係所備原本社諳曉石匠局刻作石龜蚨各體造作制科進士諸科題名碑記豎立在國學門功程力役頗重乞准戶分并搜差各役以便應作等因據此參論應付就呈本處承司衙門及本府本縣等衙門官宜准除遞年戶分并各祭券場及搜差各役以均民力茲付。
盛德元年十一月二十五日。付十二花押
Nội dung văn bia được dịch như sau: “Phụng mệnh các quan phủ liêu bảo cho quan viên tướng thần xã thôn trưởng xã Kính Chủ huyện Giáp Sơn là Lê Công Nghiệp, Nguyễn Ngọc Trinh, Hoàng Nhữ Năng, Nguyễn Cẩn Tín, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Văn Sách, Nguyễn Duy Thống, Lê Đá, Nguyễn Ngọc Diệp, Nguyễn Hữu Dụ, Nguyễn Cao, Trịnh Kim Ích, Hoàng Bành, Nguyễn Hữu Thụ cùng toàn thể lớn nhỏ trong xã được biết.
Nguyên dân xã am hiểu nghệ thuật tạc voi đá, ngựa đá để thờ những nơi tông miếu. Nay lại nhận được lệnh khắc bia đá và tạc rùa đội bia các vị Tiến sĩ đỗ chế khoa để dựng tại cửa nhà Quốc học. Công việc rất vất vả, nặng nhọc. Dân xã xin được miễn thuế cho các hộ và phu phen tạp dịch để hoàn thành công việc được giao. Căn cứ vào ý bàn bạc ưng thuận cho nha môn ty bản xứ và các quan ở nha môn thuộc bản phủ bản huyện miễn trừ thuế hàng năm cho các hộ và những phu phen tạp dịch, khiến thư sức dân. Nay ban báo. Ngày 25 tháng 11 năm Thịnh Đức thứ 1 (1653)”.
Vì thế mà ngày nay, trong số 82 văn bia đề danh ở Văn miếu Hà Nội, thì chỉ có 7 bia dựng năm 1484, số còn lại chủ yếu được dựng vào thời Lê - Trịnh, cụ thể là năm 1653 dựng 25 bia, năm 1717 dựng 21 bia.
2. Bài thơ Nôm của chúa Trịnh khắc trên biển gỗ treo ở nhà Thái học Văn miếu Hà Nội. Biển gỗ được sơn son, xung quanh có đường viền hình rồng uốn lượn, trong lòng khắc lời tựa bằng chữ Hán và bài thơ bằng chữ Nôm, cuối cùng ghi niên đại là mùa Đông năm Ất Hợi. Các nguồn sử liệu từ các bộ chính sử cho biết Chúa Trịnh rất quan tâm đến việc tu sửa Quốc tử giám và bái yết nhà Thái học. Năm Chính Hòa thứ 16 (1695), mùa đông tháng 10 chúa đến nhà Thái học, bái yết Tiên Thánh, thân làm thơ ca tụng đạo đức thánh nhân, khắc vào bia dựng ở nhà Thái học. Bài thơ này cũng thấy chép trong tập thơ Nôm chúa Trịnh Khâm định thăng bình bách vịnh tập. Trong lời tựa của bài thơ khắc trên biển gỗ này, cũng có ý như vậy. Do đó bài thơ khắc trên biển gỗ ở nhà Thái học hiện nay là của Trịnh Căn và được khắc lại về sau, bởi trước đó vốn được khắc trên bia đá. Cho nên dòng niên đại chỉ dựa theo sự kiện năm Ất Hợi đó mà ghi là "Tuế tại Ất Hợi niên trọng đông". Nội dung văn bản này như sau:
Lời dẫn (nguyên văn chữ Hán, được dịch như sau): Thánh nhân đạo cao đức trọng, khắc ở bia lớn để lại muôn đời. Ngày khánh thành ta đến thăm lại, xem xét khắp xung quanh, thấy thể chế ngay ngắn nghiêm chỉnh, hình thức và nội dung đều tốt đẹp, thật đáng trân trọng, bèn làm bài thơ quốc âm rằng (nguyên văn chữ Nôm được phiên như sau):
Đạo thống tường xem nhật nhật minh
Vậy nên biểu lập trước trung đình
Tôn nghiêm vốn có bề phương chính
Trân trọng nào sai mực đất bằng
Rộng chứa văn chương hằng rỡ rỡ
Tỏ ghi đức giáo hãy rành rành
Vững bền sóc sóc đồng thiên địa
Thấy đấy ai là chẳng ngưỡng thành.
Tháng trọng Đông năm Ất Hợi (1695).
Đây cũng chính là chủ hướng của chúa Trịnh nhằm đề cao giáo dục Nho học.
3. Biển đề trên bệ tượng thờ Khổng Tử. Biển cũng được sơn son thiếp vàng, hình chữ nhật, hai góc trên vát chéo, chiều dài 35cm, chiều cao 27cm. Biển đặt trên giá đỡ bằng gỗ. Việc thờ phụng Khổng Tử và các Tiên hiền ở Việt Nam trong các thời kì lịch sử chủ yếu mô phỏng theo nghi thức thờ cúng ở Trung Quốc. Trong Văn miếu ở Thăng Long, ngoài thờ Khổng Tử và các hiền triết Trung Hoa ra, người Việt Nam còn tôn thờ Chu Văn An, một vị Nho học có tiếng ở thời Trần, từng giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám và biên soạn sách Tứ thư thuyết ước, sách quảng bá đạo Nho. Việc thờ cúng ở Văn miếu không hẳn giống hoạt động của một tôn giáo, nhưng được xem như một trong những nghi thức tế lễ quốc gia. Tượng Khổng Tử từng được tạo rất sớm, nhưng pho tượng hiện tại ở Văn miếu thì chắc chắn được tạo lại vào năm Vĩnh Khánh thứ 1 (1729), theo biển đề dưới chân tượng bằng chữ Hán như sau: 順安府署同知府阮金華嘉福縣霸水社造僊聖像。永慶元年八月初八日。扁。"Thuận An phủ thự Đồng Tri phủ Nguyễn Kim Hoa Gia Phúc huyện Bá Thủy xã nhân tạo Tiên Thánh tượng. Vĩnh Khánh nguyên niên bát nguyệt sơ bát nhật". Phía cuối đề chữ "Biển" khá lớn. Nghĩa là "Quyền Tri phủ phủ Thuận An Nguyễn Kim Hoa người xã Bá Thủy huyện Gia Phúc tạo tượng Tiên Thánh, ngày 8 tháng 8 năm Vĩnh Khánh thứ 1 (1729)". Biển. Đây cũng có thể xem như một trong pho tượng Khổng Từ có niên đại sớm nhất hiện còn ở nước ta.
4. Chuông đồng: Hiện tại gian bên trái nhà Thái học, có một chuông đồng. Chuông cao 75cm, đường kính miệng 50cm, quai chuông là hai hình rồng đấu lưng vào nhau, có chiều cao và chiều rộng tương đương là 30cm; rồng thân mập không có đuôi, trên là hình hồ lô. Chuông có 4 núm, 4 ô dưới để trơn, khung có hoa văn. Viền dưới loe, chạm cánh sen nổi. Chữ khắc trên 2 mặt chuông, chữ mới được khắc lại.
辟雍大鍾
皇朝景興二十九年歲在戊子冬至, 國子監奉鑄小鍾四 .
賜辛亥科第一甲進士, 特進金紫榮祿大夫 ,入侍參從太子太保, 工部尚書, 行禮部事, 知國子監, 兼知中書監, 入侍經筳, 兼國史總裁, 春郡公阮儼 .
賜戊辰科第三甲進士, 弘信大夫入侍陪從知禮番翰林院侍讀, 行兵部右侍郎, 御史臺僉都御史, 兼國子監祭酒, 國史纂脩武綿 .
賜庚戌科第三甲進士, 朝列大夫, 翰林院侍講, 兼國子監祭酒, 國史纂脩阮儼同監鑄 .
Phiên âm:
Bích ung đại chung
Hoàng triều Cảnh Hưng nhị thập cửu niên tuế tại Mậu Tí đông chí, Quốc tử giám phụng chú tiểu chung tứ (?).
Tứ Tân Hợi khoa Đệ nhất giáp Tiến sĩ, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị Tham tụng Thái tử Thái bảo, Công bộ Thượng thư, hành Lễ bộ sự, Tri Quốc tử giám kiêm Tri Trung thư giám Nhập thị Kinh diên, kiêm Quốc sử Tổng tài Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm.
Tứ Mậu Thìn khoa Đệ tam giáp Tiến sĩ, Hoằng tín đại phu Nhập thị Bồi tụng Tri Lễ phiên, Hàn lâm viện Thị độc, hành Binh bộ Hữu Thị lang, Ngự sử đài thiêm Đô ngự sử, kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Quốc sử Toản tu Vũ Miên.
Tứ Canh Tuất khoa Đệ tam giáp Tiến sĩ, Triều liệt đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Quốc sử Toản tu Nguyễn Nghiễm đồng giám chú.
Dịch nghĩa:
Chuông lớn Bích ung
Vào tiết đông chí năm Mậu Tí Hoàng triều Cảnh Hưng thứ 29 (1768) Quốc tử giám phụng đúc một quả chuông lớn.
Vị Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Nhập thị Tham tụng Thái tử Thái bảo Công bộ Thượng thư, hành Lễ bộ sự, Tri Quốc tử giám kiêm Tri Trung thư giám, Nhập thị Kinh diên, kiêm Quốc sử Tổng tài Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm (soạn).
Vị Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748), chức Hoằng tín đại phu Nhập thị Bồi tụng Tri Lễ phiên Hàn lâm viện Thị độc, hành Binh bộ Hữu Thị lang, Ngự sử đài Thiêm Đô ngự sử, kiêm Quốc tử giám Tế tửu Quốc sử Toản tu Vũ Miên và vị Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Canh Tuất, chức Triều liệt đại phu Hàn lâm viện Thị giảng kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Quốc sử Toản tu Nguyễn Nghiễm cùng giám sát việc đúc chuông".
Như vậy, quả chuông này do hai vị danh Nho, cũng là những người đứng đầu Quốc tử giám thời Lê Trịnh đương thời đứng ra đúc. Đây cũng là thời kỳ giáo dục Nho học khá hưng thịnh và đề cao. Đó là Nguyễn Nghiễm (1708-1775) người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân, nay thuộc huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, cha của Nguyễn Khản và đại thi hào Nguyễn Du.
Trên đây là một số di văn Hán Nôm quý giá liên quan đến việc xây dựng, cũng như các nghi thức hoạt động ở Văn miếu Quốc tử giám thời Lê - Trịnh, khi Nho giáo và giáo dục Nho học đang hưng thịnh.
Chú thích:
1. Đại Việt sử ký toàn thư. Bản dịch, Nxb. KHXH, H. 1998, Tập 2, tr.486.
2. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., Tập 3, tr.120.
3. Văn bia thời Mạc, Đinh Khắc Thuân biên dịch, Nxb. KHXH, H. 1996, tr.56, 162 và 318.
4. Đại Việt thông sử, Bản dịch Lê Mạnh Liêu, Sàigòn 1973, tr.154.
5. Thác bản số 12005, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
6. Đại Việt sử ký tiền biên. Bản dịch, Nxb. KHXH, H. 1997, tr.42.
7. Văn bản khắc là “tiểu chung” (chuông nhỏ). Có lẽ không phải là chữ “tiểu” mà là chữ “đại” mới hợp với tên chuông, nên dịch là chuông lớn. Có lẽ do khắc lại nên đã khắc lầm. Thêm nữa ở cuối câu này có chứ “tứ” (nghĩa là 4) không gắn gì với nghĩa của câu văn này.
8. Xem thêm Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, H. 1993, tr.686-687 và 708-709./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (89)2008; Tr.27-31)