NGHIÊN CỨU VĂN BẢN THƠ CHỮ HÁN CỦA PHẠM QUÝ THÍCH
TS. VƯƠNG THỊ HƯỜNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Phạm Quý Thích sinh năm 1760, người xã Hoa Đường, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Sau gia đình ông dời lên Thăng Long, ngụ ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông đỗ Tiến sĩ năm Kỷ Hợi (1779), được bổ Đông các Hiệu thư, rồi lần lượt trải các chức: Hàn lâm viện Hiệu thảo, Kinh Bắc đạo Giám sát Ngự sử, Thiêm sai tri Công phiên. Khi quân Tây Sơn ra Bắc, ông chạy sang Kinh Bắc, ở ẩn. Đời Gia Long (1802), ông được ban chức Thị trung Học sĩ, tước An Thích hầu, ông cố từ chối, nhưng không được đành nhận chức Đốc học. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau ông xin từ quan về nhà. Năm Gia Long thứ 10 (1811), ông được triệu về kinh đô Huế, giao việc chép sử, được ít lâu, lại cáo bệnh về. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), có chỉ triệu ông vào Kinh, dọc đường bị ốm nên được cho về quê dưỡng bệnh. Kể từ đó, ông chuyên việc dạy học ở quê nhà, đào tạo được nhiều trí thức như Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Siêu, Chu Doãn Trí... Ngày 29 tháng 3 năm Ất Dậu (1825) Phạm Quý Thích mất, hưởng thọ 65 tuổi.
Phạm Quý Thích sáng tác với nhiều thể loại như văn, phú, chiếu biểu, câu đối, truyện, thơ… Nội dung trong các sáng tác của ông thể hiện ông là một người thầy mẫu mực, một vị quan thanh liêm và nhất là một tấm lòng đau đời của kẻ sĩ thời loạn đối với nhân dân lầm than. Điều ấy thể hiện rõ nhất trong các sáng tác thơ chữ Hán của ông.
I. Khái quát đặc điểm văn bản và nhóm văn bản
Văn bản lưu giữ thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích được sao chép và lưu trữ ở nhiều nơi. Nhưng những văn bản mà chúng tôi hiện biết, được lưu trữ chủ yếu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (kí hiệu thư viện A, AB, VHv, VHb), Thư viện Quốc gia Hà Nội (kí hiệu thư viện R), Viện Sử học (kí hiệu thư viện HV), Viện Văn học (kí hiệu thư viện HN). Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu thơ văn Phạm Quý Thích còn được lưu trữ tại Cộng hòa Pháp, và theo danh mục sách Hán Nôm tại địa phương cho biết ở tỉnh Thanh Hóa cũng lưu giữ được 1 văn bản thơ của ông, tiếc rằng chúng tôi chưa có điều kiện để tiếp xúc với văn bản ở 2 nơi này.
Qua khảo sát, số văn bản chép thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích mà chúng tôi thống kê được là 37 tên sách với 49 văn bản ở 4 cơ quan lưu trữ khác nhau.
Với số văn bản này chúng tôi chia thành 2 loại: loại viết tay và loại khắc in.
A. Loại viết tay
Với 42 văn bản, chúng tôi sẽ dựa vào tiêu chí tên văn bản giống nhau hoặc có chủ đề trùng nhau để ưu tiên gộp vào một số nhóm, số bản độc lập còn lại sẽ dựa vào tiêu chí phiên âm Hán Việt để xếp theo a, b, c…
1. Nhóm Thảo Đường thi nguyên tập草堂詩原集, gồm 9 bản:
+ A.298 khổ 31x22cm, 276 tờ; + HN.315-318 khổ 28x14cm, 68 tờ; + VHv.76/1-3 khổ 28x16cm, 196 tờ; + HV.231 khổ 30x13cm, 56 tờ; + VHv.152 khổ 25x18cm, 72 tờ; + VHv 145/ 2 khổ 25x13cm, 58 tờ; + VHv 145/3-4 khổ 25x18cm, 79 tờ; + VHv.1465 khổ 28x16cm, 79 tờ; + VHv.1637 khổ 27x16cm, 77 tờ.
2. Nhóm Lập Trai thi tập 立齋詩集
Là nhóm có chung tiêu đề Lập Trai thi tập, gồm 6 bản:
+ VHv.1462/1-2 khổ 27x18cm, 211 tờ; + A.1558/1-2 khổ 21x13,5cm, 166 tờ; + A.3036/1-2 khổ 27x17cm, 191 tờ; + A.2881 khổ 26x16cm, 83 tờ; + VHv.2244 khổ 28x17cm, 61 tờ; + HN.14 khổ 27,5x13cm, 26 tờ.
3. Nhóm Nam hành南行
Là nhóm có chung chủ đề về Nam hành - (những bài thơ được làm trong hành trình ra (vào) Huế của Phạm Quý Thích, gồm 4 bản:
+ Hoa Đường Nam hành tập華堂南行集. A.3146 khổ 25x15cm, 91 tờ, có Nôm.
+ Lập Trai Phạm Tiên sinh thi tập 立齋范先生詩集, A.400 khổ 30x22cm, 35 tờ.
+ Nam hành tập 南行集, A.2803 khổ 18,5x16cm, 56 tờ.
+ Chiếu biểu sắc dụ tạp lục 詔表敕諭雜錄, A.2158 khổ 29x17cm, 22 tờ.
4. Nhóm Lập Trai tiên sinh hành trạng 立齋先生行狀.
Là nhóm có chung tiêu đề Lập Trai tiên sinh hành trạng, gồm 2 bản:
+ A.775 khổ 26x19cm, 51tờ.
+ HN.333 khổ 27x20cm, 27 tờ.
5. Nhóm Các văn bản độc lập (xếp theo a, b, c…)
Là nhóm gồm các văn bản chép tản mạn tác phẩm của Phạm Quý Thích, không có đặc điểm ngoại hình chung, (ngoại trừ cùng viết tay), có 21 bản:
+ Bắc Kì địa dư quốc âm ca北祈地輿國音歌, AB.566 khổ 28x16cm, 56 tờ.
+ Cao Bá Đạt thi tập高伯達詩集, A.955 khổ 29x17cm, 47tờ.
+ Chư đề mặc 諸題默, VHv.18 khổ 26x16cm, 73 tờ.
+ Cúc Hiên thi tập 菊軒詩集, A.1230 khổ 31x21cm, 81 tờ.
+ Danh công thi thảo 名公詩草, A.2588 khổ 27x17cm, 40 tờ.
+ Danh sơn thắng thủy thi 名山勝詩(Đại Nam danh sơn thắng thủy thi đề tập 大南名山勝水詩), A.339 khổ 32x22cm, 32 tờ.
+ Đạo Nam trai sơ cảo大南齋初搞, A.1810 khổ 28x16cm, 70 tờ.
+ Đông Hiên thi tập 東軒詩集, A.2422 khổ 28x16cm, 56 tờ.
+ Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai tiên sinh thi tập華堂安適侯立齋先生詩集, R.1711 khổ 30x15cm, 105 tờ.
+ Hồi kinh nhật trình thi迴京日程詩, A.308 khổ 31x22cm, 23 tờ.
+ Hoa Đường Lập Trai Phạm công thi 華堂立齋范公詩, A.2154 khổ 27x15cm, 36 tờ.
+ Hy Minh thi tập 希明詩集, VHv.1393 khổ 26x15cm, 85 tờ.
+ Lập Trai Tiên sinh di thi tục tập 立齋先生遺詩續集, A.2140 khổ 28x17cm, 39 tờ.
+ Phạm Lập Trai Tiên sinh thi tập 范立齋先生詩集, VHv.2346 khổ 17x15cm, 59 tờ.
+ Sứ trình 使程, A.1548 khổ 24x14cm, 92 tờ.
+ Thi tập tuyển 詩集選,VHb.252 khổ 21x13cm, 65 tờ.
+ Thuấn Nhuế thi văn tập舜汭詩文集, A.2538 khổ 28x17cm, 35 tờ.
+ Tiên chính cách ngôn先正格言, A.1524 khổ 25x15cm, 98 tờ.
+ Tiến sĩ Trần Thị giảng lí lịch 進士陳示講理曆, A.694 khổ 30x21cm, 94 tờ, có Nôm.
+ Việt dư kỉ thắng 越輿幾勝, A.769 khổ 30x20cm, 100 tờ.
+ Vũ trung tùy bút 雨中隨筆(Vũ trung tùy bút phụ chư gia thi tập 雨中隨筆附諸家詩集), A.2312 khổ 28 x16cm, 87 tờ.
B. Loại bản in , gồm 7 bản:
+ Hội đề Kiều thi會題嬌詩, AB.197 khổ 15,5x12,5cm, 13 tờ.
+ Lập Trai thi tuyển立齋詩選, HV.148 khổ 23x13cm, 52 tờ.
+ Lập Trai thi tuyển立齋詩選, R.1948 khổ 23x13cm, 95 tờ.
+ Hải học danh thi tuyển 海學名詩選, A.1455 khổ 24x14cm, 113 tờ.
+ Lập Trai thi tuyển立齋詩選, VHv.146 khổ 23x13cm, 52 tờ.
+ Lập Trai thi tuyển 立齋詩選, VHv. 971 khổ 23x13cm, 52 tờ.
+ Lập Trai thi tuyển 立齋詩選, HV.113 khổ 25x13cm, 98 tờ.
II. Khảo sát văn bản
A. Loại viết tay
Như trên đã nêu, nhóm văn bản cùng mang tên 草堂詩原集 (Thảo Đường thi nguyên tập - sau đây xin gọi tắt là nhóm Thảo Đường) là nhóm có số lượng văn bản lớn nhất, chúng tôi sẽ đề cập đầu tiên.
2.1 Nhóm văn bản Thảo Đường
Nhóm Thảo Đường gồm 9 văn bản: A.298; HN.315-318, VHv.76/1-3; HV.231; VHv.152; VHv.145/2; VHv.145/3-4; VHv.1465; VHv.1637.
Văn bản A.298
Sách gồm 4 quyển, phần phụ chú viết to bằng chữ trong chính văn. Trong sách có Tiểu dẫn do Môn nhân Đông Ngàn Chu Doãn Trí Tạ Hiên bái thư (Lời Tiểu dẫn này có điểm đáng lưu ý là trong khi các bản khác ghi là “Tập thơ Thảo Đường do tiên sinh tự tập hợp… gồm trên 690 bài nhưng bản A.298 lại ghi là có trên 990 bài [nguyên văn 該九百九十首]), tiếp là Lệ ngôn, Lời bình của Bùi Tồn Am tiên sinh (đề năm Mậu Ngọ - 1798). Sách do Chu Doãn Trí sơ biên, Ngô Thế Vinh người xã Bái Dương, huyện Nam Trực trùng biên, Nguyễn Văn Siêu ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương hiệu san vào tháng 8 năm Quí Sửu Tự Đức (1853). Sách không có phần mục lục như ở một số bản khác.
Theo thống kê, bản A.298 chép được 882 bài thơ (ít hơn so với lời trong tiểu dẫn). Trong đó có 4 bài chép lặp 2 lần là: Phong tống hà hương, Trúc lâm thất hiền, Trương Lương ngộ Hoàng Thạch, Ngư phủ nhập đào nguyên); 1 bài lặp 3 lần là Như Kinh thị đầu điếu vong đệ mộ; và chép lẫn 5 bài phú: Gia Long nhị niên nhị nguyệt Đặng Thế Lý mông từ hoàn lương, cụ gián khất thi toại phú vi tặng; Đồng học Phan huynh kiến phỏng hỷ phú; Thôn hữu thượng điền chi điền sự tất, cáo thổ thần dã thi thất tịch dữ thôn nhân hội ẩm hỷ phú; Xuân Canh Nguyễn huynh quá phỏng đắc văn La Khê Ngô huynh Trùng dương hậu chi ước phú; Tiểu viên hữu cúc bạch tương hoàng thiển hồng cố sắc nhất đối thịnh khai hữu phú.
Và thơ người khác viết tặng Phạm Quý Thích (43 bài) được tập hợp vào phần (Phụ chư hạ tập)
Như vậy, bản A.298 có tổng số: 882 - 4 (4 bài chép 2 lần) - 2 (1 bài chép 3 lần) - 5 (bài phú) - 43 (bài người khác viết về Phạm Quý Thích) = 828 bài.
Văn bản HN.315-318
Sách gồm 4 cuốn đóng chung thành một tập. Có Thảo Đường nguyên tập tiểu dẫn do Môn nhân Đông Ngàn Chu Doãn Trí Tạ Hiên bái thư, Thảo Đường thi nguyên tập mục lục, Lệ ngôn, Bùi Tồn Am tiên sinh bình thi, đề năm Mậu Ngọ - 1798.
Sách ghi do Chu Doãn Trí người xã Dục Tú, huyện Đông Ngàn sơ biên, Ngô Thế Vinh ở xã Bái Dương, huyện Nam Trực trùng biên, Nguyễn Văn Siêu ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương hiệu san vào tháng 8 năm Quí Sửu Tự Đức thứ 6 (1853). Điều đặc biệt trong văn bản này có một chữ Hoa 華(trong chữ Hoa Đường) viết kiêng húy thành và toàn bộ các chữ Thời 時đã bị viết thiếu nét thành chữ 口寺 ,hoặc viết đảo vị trí thành寺日hoặc viết thành chữ Thìn 辰.
Trong Tiểu dẫn, Chu Doãn Trí cho biết: “Tập Thảo Đường này do tiên sinh (tức Phạm Quý Thích) tự tập hợp lấy, hễ làm được bài nào là viết bài ấy, không phân biệt thể cách, từ lúc bắt đầucầm bút cho đến khi làm xong một bài thơ, trong 21 năm được trên 690 bài, và đưa cho ông Bùi Tồn Am bình duyệt. Hồi tiên sinh tới Thăng Long, tôi xin đi theo, tiên sinh cho sao chép lại. Sau đó, tiên sinh bảo mang bản sao ấy đến rồi giữ lấy, và lại đưa cho tôi hai quyển khác. Một quyển gồm các bài thơ tứ ngôn, ngũ ngôn, cả cổ thể. Một quyển gồm các bài thơ thất ngôn theo cận thể. Từ đấy, có ai sao chép đều theo tập này (tức tập mà Chu Doãn Trí sao lại hai quyển chia theo thể cách của thầy), còn tập cũ (tức là tập thủ bút của Phạm Quý Thích) thì không rõ ở đâu. Từ năm Nhâm Tuất về sau, tiên sinh gặp nhiều thời thế khác nhau nên phải chuyển chỗ ở nhiều lần, cho nên đối với các bài thơ, tiên sinh cũng làm cho nó có mối liên hệ với thời thế và nơi ở, cũng là có ngụ ý bên trong chứ không phải ngẫu nhiên đâu. Lúc đầu tôi muốn xin lại tập cũ nhưng rồi lại chần chừ bỏ qua... Vì thế, không tự lượng sức mình làm điều quá lạm, bèn đem những bài thơ hiện có của tiên sinh, ghép vào năm tháng, lại dựa vào bản sao của bạn đồng học họ Nguyễn và người bạn họ Lương đã qua đời người Lại Đà(nay thuộc xã Đông Hội huyện Đông Anh, Hà Nội) mà biên thành 4 quyển theo điều đã ghi trong hành trạng của tiên sinh. Còn những điều gì tôi nghe được thì phụ lục ở phía sau các bài thơ”(1).
Trong Tiểu dẫn ở Lập Trai Tiên sinh di thi tục tập, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu cho biết thêm: “Thơ văn của Lập Trai tiên sinh do Chu Doãn Trí hiệu Tạ Hiên biên sắp thành tập... Tạ Hiên khi đã có tập Thảo Đường thi nguyên tập (TĐTNT), bèn để ý sưu tầm biên chép được thêm một số bài, xếp thành 2 quyển Di thi và Di văn… đều là các bài làm từ sau năm Gia Long Nhâm Tuất (1802) và trước năm Minh Mạng Ất Dậu (1825). Tất cả hai quyển ấy cộng với 4 quyển Nguyên tập Thảo Đường thi là 6 quyển, chép lại tinh tường để ở nhà thờ”(2).
Trong chuyến điền dã về Hoa Đường, chúng tôi được biết cuốn TĐTNT mà Chu Doãn Trí sơ biên, Nguyễn Văn Siêu hiệu san từng được lưu giữ ở từ đường họ Phạm. Vào giữa thế kỉ XX (khoảng những năm 60) Viện Văn học cho người đi sưu tầm chép lại và nhân đó gia đình đã tặng sách cho cơ quan này.
Dựa vào sự mô tả của gia đình về cuốn sách (bìa cứng giấy hoa, gáy lụa màu xanh, giấy dó ngả vàng, thời gian tặng…) cùng với nội dung hai bài Tiểu dẫn, Tựa và đặc biệt là một chữ Hoa viết kiêng húy đã nêu trên, chúng tôi cho rằng bản HN.315-318 mà Viện Văn học hiện đang lưu trữ chính là bản mà gia đình họ Phạm từng gìn giữ.
Bản HN.315-318 có 583 bài, trong đó 572 bài trùng với bản A.298 và bổ sung cho A.298 được 11 bài.
Văn bản VHv.76/1-3
Quyển 3 và quyển 4 đóng chung thành một tập nên người làm thư mục trước đã nhầm thành bộ có 3 quyển. Tờ 1a có dấu của Thư viện Bác cổ Pháp. Nếu không tính đến sự sai khác một vài chữ, kiểu chữ, cách thức trình bày, một chữ Hoa kiêng húy (trong chữ Hoa Đường) và sự kiêng húy chữ Thời 時 không triệt để thì hai văn bản VHv.76/1-3 và HN.315-318 hoàn toàn giống nhau về số lượng lẫn thứ tự các bài thơ. Cách sắp xếp thứ tự bài Tiểu dẫn, Thảo Đường thi nguyên tập mục lục, Lệ ngôn, Lời bình của Bùi Tồn Am cũng giống hệt nhau. Bản VHv.76/1-3 cũng có 583 bài. Dựa vào chất liệu giấy, số lượng, thứ tự bài, các chữ kiêng húy… và qua các chuyến điền dã tìm hiểu, chúng tôi cho rằng VHv.76/1-3 được chép từ chính bản HV.315-318 nhân đợt sưu tầm sao chép của Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp hồi đầu thế kỉ XX.
Văn bản HV.231
Tờ 1a ghi Thảo Đường thi nguyên tập chính giữa trang. Tờ 3a chép Tiểu dẫn của Chu Doãn Trí, sau đó là bình của Bùi Tồn Am đề năm Mậu Ngọ, tiếp theo là Lệ ngôn. Tờ 8b ghi: “Đường An Hoa Đường Phạm Lập Trai”. Bắt đầu từ tờ 9b sách chép nội dung. Bản HV.231 gồm toàn bộ q1 và một phần q2, từ bài Tống Đức Ninh phủ qui điền lí đến Kí Cao Bằng Đốc đồng Đức Ninh.
Bản HV.231 có 186 bài, trong đó 182 bài trùng với bản A.298; bổ sung cho bản A.298 được 4 bài.
Văn bản VHv.152
Tờ 1a ghi: Thảo Đường thi nguyên tập sát lề sách sau đó chép nội dung. Bản VHv.152 là quyển 1 và quyển 2 của A.298 nhưng thiếu các bài: Tư thân, Công hồi bộ tiểu viên thải cúc, Thu dạ bộ nguyệt, Hy Thích dĩ tửu chí, Hiếu Đức dĩ công sự lai Ái Châu kí nhị chương y vận phụng thù, Thư trai bộ nguyệt, Tiểu viên sơ thu, Thu nhật thụy khởi. Và có thêm 7 bài ở quyển 3 là: Tư thân, Nguyệt dạ Hồng Quang tự tiền quan đạo thượng cổ tùng, Trung dạ ngọa bệnh cảm hoài, Tứ ai nhất tư, Lập xuân, Thư trai tàn dạ.
Bản VHv.152 có 297 bài, trong đó có 293 bài trùng với bản A.298 và bổ sung cho bản A.298 được 4 bài.
Văn bản VHv.145/2
Đầu sách giới thiệu ngắn gọn “tính Phạm húy Thích, Hải Dương, Đường An huyện, Hoa Đường nhân, cư Hà Nội, Báo Thiên phường, nhị thập tuế trúng Tiến sĩ”. Sau đó chép nội dung. Bản VHv.145/2 có 162 bài, trong đó 155 bài trùng với bản A.298 và bổ sung cho bản A.298 được 7 bài.
Văn bản VHv.145/3-4
Sách là quyển 3, 4 của bản A.298 và có thêm 30 bài nằm rải rác ở q1 và q2. Trang đầu quyển 3 ghi vắn tắt “Phạm Lập Trai húy Quí Thích, Hải Dương, Đường An nhân; cư Hà Nội, Báo Thiên phường. Nhị thập tuế trúng Tam giáp Tiến sĩ”. Bìa 1 ghi: Thảo Đường thi nguyên tập, nhưng tờ 1a quyển 4 ghi Lập Trai thi tuyển tập. Sau tên sách có chua thêm dòng chữ “Trung chính bá Ân Quang hầu Trần Công Hiến, Trợ giáo Thời Mẫn Nam hiệu đính”. So sánh với các bản do Trần Công Hiến in, có nhiều điểm khác như: thứ tự, số lượng các bài thơ… Điều này chứng tỏ người sao chép đã chép một số bài trong loại khắc in nhưng bổ sung thơ của Phạm Quý Thích từ các nguồn khác.
Bản HV.145/3-4 có tổng số 239 bài, trong đó 237 bài trùng với bản A.298 và bổ sung cho bản A.298 được 2 bài.
Văn bản VHv.1465
Sách không có bình, tựa, bạt… Tờ 1a ghi: Thảo Đường thi nguyên tập sau đó chép nội dung. Bản VHv.1465 chính là quyển 3 và quyển 4 của bản A.298, nhưng có thêm 6 bài ở q1 và q2 là: Dạ vũ, Bất mị, Cảm hứng, Mạn hứng, Tức sự, Hỷ vũ.
Tổng cộng bản VHv.1465 có 277 bài, trong đó 275 bài trùng với bản A.298 và bổ sung cho bản A.298 được 2 bài.
Văn bản VHv.1637
Sách không có bình, tựa, bạt… Bản VHv.1637 chép trọn vẹn q1 của bản A.298 và có thêm 51 bài. Bản VHv.1637 gồm 315 bài, trong đó trùng 313, bổ sung cho bản A.298 được 2 bài.
Các bản trong nhóm Thảo Đường bổ sung cho bản A.298 có 7 lượt bài trùng nhau, bổ sung không trùng nhau là: 15 bài. Như vậy, tổng số các bản trong nhóm Thảo Đường bổ sung cho bản A.298 gồm 22 bài.
Tổng cộng nhóm Thảo Đường có: 828 bài (trong bản A.298) + 22 bài (bổ sung từ 8 bản trong nhóm) = 850 bài. Nhóm văn bản Thảo Đường có số lượng bài lớn nhất, vì thế, từ đây trở đi, chúng tôi sẽ lấy nhóm này làm cơ sở để so sánh với các nhóm, bản khác.
2.2. Nhóm văn bản Lập Trai thi tập (LTTT)
Nhóm cùng mang tên LTTT gồm 6 văn bản: VHv.1462/1-2, A.1558/1-2, A.3036/1-2, A.2881, VHv.2244 và HN.14.
Nhóm văn bản LTTT có số lượng bài lớn thứ hai sau nhóm văn bản Thảo Đường và đặc biệt là người tuyển chọn - Tây Hồ cư sĩ Nguyễn Hằng Hiên đã chia thơ Phạm Quý Thích theo nhiều thể loại: Ngũ ngôn cổ tuyệt, Ngũ ngôn tứ tuyệt, Ngũ ngôn cổ, Thất ngôn bát cú…
Văn bản VHv.1462/1-2
Tờ 1a, ghi LTTT, sau đó từ tờ 1a đến 4b chép bài tựa, nội dung giới thiệu lai lịch, quê quán tên tuổi Lập Trai Phạm Quý Thích do Tây Hồ cư sĩ Nguyễn Hằng Hiên bái soạn năm Nhâm Tuất (歲在玄默). Tờ 5a quyển 1 ghi 立齋詩集, rồi đến mục lục (tờ 18a), từ tờ 19a chép nội dung. Q2 ghi mục lục rồi đến nội dung.
Quyển 1 có 295 bài, quyển 2 có 226 bài. Cả 2 quyển có 521 bài, trong đã có 3 bài chép 2 lần (Ngô đồng ngâm, Họa nhân vịnh họa kê, Cửu nhật), và bài một bài phú Vệ Linh sơn phú.
Tổng cộng bản VHv.1462/1-2 có 521 bài – 3 (bài chép 2 lần) – 1 (bài phú) = 517 bài.
Văn bản A.1558/1-2
Tên bài và nội dung viết cách nhau, rất dễ phân biệt. Hai tập đóng chung thành một cuốn. Tổng số gồm 498 bài.
Văn bản A.3036/1-2
Hai tập đóng thành 1 cuốn. Tờ 1a ghi năm Tự Đức Ất Mão (1855). Khi khảo sát chúng tôi nhận thấy 2 bản A.1558/1-2 và A.3036/1-2 giống hệt nhau, từ số lượng, đến thứ tự bài. Nếu loại trừ sự sai khác về kiểu chữ, cách trình bày, số trang, dòng thì có thể coi là một. Hai văn bản A.1558/1-2 và A.3036/1-2 đều có 498 bài, trong đó 436 bài trùng với bản VHv.1462/1-2 và bổ sung cho bản VHv.1462/1-2 là 62 bài.
Văn bản A.2881
Sách không có mục lục, tựa, bạt, không đề tên người biên tập. Thống kê cho thấy bản A.2881 gồm 270 bài, trong đó 215 bài trùng với bản VHv.1462/1-2 và bổ sung cho bản VHv.1462/1-2 là 55 bài. Trong 55 bài bổ sung cho bản VHv.1462/1-2 thì 50 bài đã có ở bản A.1558/1-2 và bản A.3036/1-2, còn 5 bài mới hoàn toàn.
Bản A.2881 chép nhan đề các bài thơ có nhiều sai khác nhất so với các bản trong nhóm.
Văn bản VHv.2244
Tờ 1a giới thiệu vắn tắt Lập Trai Phạm công thi (thi tập của ông họ Phạm hiệu Lập Trai), rồi chép luôn nội dung. Từ tờ 1a đến tờ 11a chép 66 bài đều đã có trong bản VHv.1462/1-2.
Cuối sách có Tốn Trai học thi (từ tờ 12a đến 48a) và Nghĩa Khê thi tập (từ tờ 48b đến tờ 61a).
Văn bản HN.14
Sách đóng ngược từ hai đầu ốp vào giữa, nét chữ của 2 phần không giống nhau. Một nửa ghi: Lập Trai thi tập tự, dưới đó ghi Đông Tác Hy Vĩnh kính bản. Tiếp theo là bài tựa của Tây Hồ Cư sĩ Nguyễn Hằng Hiên đề năm Nhâm Dần. Nội dung chép 4 bài ngũ ngôn, 4 bài ngũ ngôn cổ tuyệt, 16 bài ngũ ngôn tứ tuyệt, 4 bài ngũ ngôn cổ, một số bài có thứ tự giống trong bản A.1558/1-2. Nửa còn lại ghi Lập Trai tiên sinh thi tập, phía dưới đề “Tiên sinh quán Lương Đường tính Phạm tự Quý Thích” (Tiên sinh họ Phạm tên tự là Quý Thích, quê ở Lượng Đường). Sau đó chép nội dung. Nửa này đóng lộn xộn, có dấu hiệu mất tờ, 16 tờ cuối là sách khác đóng lẫn gồm nhiều bài cúng, bùa chú...
Sau khi khảo sát chúng tôi cho rằng bản HN.14 chỉ có giá trị tham khảo, vì thế chỉ những bài đã xuất hiện trong các văn bản thơ khác của Phạm Quý Thích thì chúng tôi mới tính vào số thơ của Phạm Quý Thích, còn những bài chưa xuất hiện thì chúng tôi tạm thời không xếp vào gia tài của Phạm Quý Thích. Bản HN.14 chép 84 bài trùng với bản VHv.1462/1-2, 7 bài trùng với bản A.298 và 1 bài trùng với bản Hoa Đường An Thích hầu Phạm Lập Trai thi tập A.2588.
So sánh với bản VHv.1462/1-2 thì văn bản HN.14 bổ sung 8 bài (7 bài trùng với bản A.298 + 1 bài trùng với bản A.2588).
Trong nhóm văn bản LTTT thì bản VHv.1462/1-2 chép được nhiều nhất, các bản khác bổ sung cho bản VHv.1462/1-2 trừ 54 lượt bài trùng nhau, số còn lại là 62 bài (trong bản A.1558/1-2 và A.3036/1-2) + 5 bài (trong bản A.2881) + 8 bài (bản HN.14) = 75 bài.
Tổng cộng nhóm LTTT có 517 bài (trong bản VHv.1462/1-2) + 75 bài (bổ sung từ các bản trong nhóm) = 592 bài. Trong 592 bài của nhóm văn bản LTTT thì 547 bài trùng với nhóm Thảo Đường, bổ sung cho nhóm Thảo Đường 45 bài.
2.3. Nhóm văn bản Nam hành
Nhóm có chủ đề chung về Nam hành gồm 4 văn bản là Hoa Đường Nam hành tập A.3146, Lập Trai Phạm tiên sinh thi tập A.400, Nam hành tập A.2803, Chiếu biểu sắc dụ tạp lục A.2158. Ngoài 4 văn bản trên, bản Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai thi tập R.1711 cũng chép Nam hành nhưng người sao chép chỉ coi đây là một chùm bài đặt tên là Nam hành tạp vịnh trong tuyển tập thơ của Phạm Quý Thích. Vì tôn trọng số thơ được tuyển trong thi tập và tôn trọng kết cấu vốn có của văn bản nên chúng tôi sẽ không gộp văn bản Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai thi tập R.1711 vào nhóm Nam hành. Song trong khi so sánh và đối chiếu, chúng tôi vẫn so sánh với phần Nam hành tạp vịnh của R.1711 để nhận định được tập trung hơn.
Văn bản Hoa Đường Nam hành tập A.3146
Phần đầu ghi Nam hành tập, chép 239 bài;phía sau chép lẫn 27 bài thơ xướng họa của Tú tài họ Phạm ở Tam Điệp như Nghĩa Hưng phủ Tri phủ Bách dĩ lão từ qui tình thi..., một bài thơ Nôm và một số câu đối.
Văn bản Lập Trai Phạm tiên sinh thi tập A.400
Tờ 1a ghi Lập Trai Phạm tiên sinh thi tập sát bên lề sách ghi tiếp “Phạm Lập Trai soạn, Ngô Duy Viên sơ duyệt, Bùi Tồn Am biên tập” bằng chữ nhỏ hơn. Trước phần nội dung, tại tờ 2a ghi Nam hành thi, sau đó chép 63 bài. Trong 63 bài thơ của bản A.400 có 39 bài trùng với bản A.3146 và bổ sung cho A.3146 là 24 bài. Đó là các bài: Sơn giao, Đông các Đại học sĩ quan xướng, Thị trung đại học sĩ sử quan họa, Kinh Bắc trấn Đốc học quan xướng, Lập Trai quan họa nhị luận, Đề thừa trần, Cúc hoa, Kiến nguyệt, Hà hoa, Qui hương hương nhân nguyện lưu khái nhiên tác thử, Sơ di mai khai hoa, Đối cúc, Quan cúc, Phế tự hữu cảm, Huỳnh hỏa, Tống Đức Ninh phủ qui điền lí, Dạ khởi, Đề hương cư đồ, Tiễn Hiếu Đức phủ Đốc đồng Nghệ An, Tiếp Hiếu Đức thư Đức Ninh đích hữu thư lai kí Hiếu Đức, Du Tiên Tích tự hoài Đức Ninh, Giang hành cảm hứng, Giao Thủy đạo trung, Bộ Trường Đê quan hải.
Văn bản Nam hành tập A.2803
Phần 1 từ tờ 1a đến 11a chép Nam hành tập gồm 32 bài, trong đó bài số 32 Kiếm Hồ thập vịnh) có 10 bài nhỏ vịnh hồ Hoàn Kiếm. Cả 32 bài trong bản A.2803 đều đã có trong bản A.3146.
Phần 2 của văn bản là một số bài dẫn, bạt, thơ vịnh cúc… của Phương Trinh Hà Tông Quyền, Phan Thanh Giản, Mậu Trai, Minh Mệnh…
Văn bản Chiếu biểu sắc dụ tạp lục A.2158
Từ tờ 10a đến 15a chép Nam hành thi tập gồm 32 bài, cả 32 bài này đều có trong bản A.3146.
Trong nhóm Nam hành, thì bản A.3146 chép được nhiều bài nhất, nhưng xét ra, phần lớn số thơ ấy không phải nói về cảnh trên đường vào Nam mà có nhiều bài vịnh cảnh sắc thiên nhiên, tiễn tặng bạn bè... đã chép ở TĐTNT. Trong văn bản Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai thi tập R.1711 ở chùm Nam hành tạp vịnh có 66 bài. Sau khi so sánh và đối chiếu 66 bài này với 4 văn bản trong nhóm Nam hành thấy 31 bài trùng với 3 văn bản Hoa Đường Nam hành tập, Phạm Lập Trai tiên sinh thi tập, Nam hành tập. 29 bài trùng với văn bản Chiếu biểu sắc dụ tạp lục A.2158 (29 bài này đều đã trùng với 3 văn bản A.3146, A.400, A.2803).
Tổng cộng nhóm Nam hành gồm 239 bài (trong bản A.3146) + 24 (bài bổ sung từ bản A.400) = 263 bài. Trong 263 bài của nhóm Nam hành thì có 245 bài trùng với nhóm Thảo Đường, bổ sung cho nhóm Thảo Đường 18 bài. Trong 18 bài bổ sung cho nhóm Thảo Đường thì 1 bài đã có trong nhóm LTTT, như vậy nhóm Nam hành bổ sung mới cho nhóm Thảo Đường là 17 bài.
2.4. Nhóm văn bản Lập Trai Tiên sinh hành trạng
Gồm 2 văn bản: A.775 và HN.333. Tuy được lưu trữ ở hai nơi khác nhau (A.775 ở VNCHN và HN.333 ở Viện Văn học) nhưng phần nội dung giống hệt nhau như được sao chép từ một văn bản. Phần đầu (A.775 từ tờ 1a đến 18a; HN.333 từ tờ 1a đến 20a) chép hành trạng của Phạm Quý Thích. Phần sau (A.775 từ tờ 18a đến 20a, HN.333 từ tờ 20b đến 25a) chép 11 bài thơ, trong đó bổ sung cho nhóm Thảo Đường 8 bài là: Khải khai mạn thuật, Xương Giang tả kí, Mộ phủ, Thụ hàng thành phỏng cổ, Ninh Minh giang hành, Chu Cung Đường, Ba Ổ dạ bạc, Bút Nghiêm sơn. Phần cuối chép một số bài văn biện luận của Phạm Quý Thích như bàn về nuôi dân, luận về tiết kiệm, trướng chúc mừng…
Qua 21 văn bản trên chúng ta đã có cái nhìn khá chi tiết về số lượng thơ, tiêu đề từng bài thơ trong từng văn bản. 21 văn bản còn lại của loại viết tay có những đặc điểm riêng và sự đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện bức tranh về diện mạo thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích, sau đây chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu.
2.5 Các văn bản độc lập
Văn bản Bắc Kì địa dư quốc âm ca AB.566
Lê Trọng Am soạn năm Duy Tân 5 (1911), ở tờ 15b khi nói về bến Chương Dương soạn giả dẫn bài thơ Chương Dương độ của Phạm Lập Trai, (bài này đã có trong nhóm Thảo Đường).
Văn bản Cao Bá Đạt thi tập A.955
Như chúng tôi đã trình bày trong bài “Vài nét về tiểu sử Cao Bá Đạt và Cao Bá Đạt thi tập” in trong Tạp chí Hán Nôm số 3 (76) - 2006, sau khi khảo sát thống kê cho biết: Tổng số thơ của Phạm Quý Thích trong bản Cao Bá Đạt thi tập A.955 là 83 bài. Những bài này đã xuất hiện trong Thảo Đường thi nguyên tập A.289.
Văn bản Chư đề mặc VHv.18
Sách chép thơ của nhiều tác giả, trong đó, tại tờ 14a tuyển 1 bài thơ chữ Hán của Tiến sĩ Phạm Lập Trai là Địch Lộng đề.
Văn bản Cúc Hiên thi tập A.1230
Tập thơ của Lê Đình Diên (từ tờ 1a đến tờ 80a), phần còn lại phụ chép Thảo Đường thi tập của Phạm Quý Thích (từ tờ 83b đến hết), gồm 152 bài, trong đó có 115 trùng với nhóm Thảo Đường bổ sung cho Thảo Đường 37 bài.
Văn bản Danh công thi thảo A.2588
Sách gồm nhiều tác phẩm của nhiều tác giả. Tờ 3a, 4a chép chùm thơ Mĩ nhân họa, tứ thủ (gồm Quan thư, Tráp hoa, Phác điệp, Thùy điếu của Lập Trai (đã có ở bản HN.14 trong nhóm LTTT) và bài Sơn cư tức sự (bổ sung cho nhóm văn bản Thảo Đường).
Văn bản Danh sơn thắng thủy thi (Đại Nam danh sơn thắng thủy thi đề tập) A.399
Ngoài bìa 1 sách ghi là Danh sơn thắng thủy thi nhưng bên trong, tại tờ bìa phụ sách ghi rõ là Đại Nam danh sơn thắng thủy thi đề tập. Tập thơ vịnh phong cảnh của nhiều tác gia nổi tiếng. Tờ 4a có 2 bài thơ của Phạm Quý Thích là: Chương Dương độ (đã có trong nhóm Thảo Đường) và Tuyết sơn (bổ sung cho nhóm văn bản Thảo Đường).
Văn bản Đạo Nam trai sơ cảo A.1810
Từ tờ 11a đến 24b chép 19 bài thơ và 1 bài Vệ Linh sơn phú của Phạm Quý Thích. Tờ 11a chép lầm Phạm Quý Thích thành Nguyễn Quý Thích. Nguyên văn như sau: "Nguyễn Quý Thích, hiệu Lập Trai tiên sinh, Bính Ngọ loạn hậu tác. Hải Dương, Đường An, Hoa Đường lý, Kỉ Hợi khoa Tiến sĩ". Những bài thơ này được làm sau loạn năm Bính Ngọ. Trong 19 bài của bản A.1810 thì 17 bài trùng với nhóm Thảo Đường, bổ sung 2 bài cho nhóm Thảo Đường là: Dã hỏa, Phúc Khánh tự.
Văn bản Đông Hiên thi tập A.2422
Đông Hiên Nguyễn Năng Tĩnh soạn và viết tựa năm Bính Tuất (1826), chép chùm thơ Vịnh sử: (Thái sử, Đông Hồ, Trương Lương, Tô Vũ, Nghiêm tướng quân, Khể Thị Trung, Trương Thư Dương, Nhan Thường Sơn, Quản Ninh, Vũ hầu, Tổ Sĩ Nhã, Giả Tú Thực và bài Khai xuân do “Hoa Đường Tiến sĩ Phạm Thị trung quan soạn" ở trang 54a. Toàn bộ chùm thơ này đã có trong nhóm văn bản Thảo Đường.
Văn bản Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai thi tập R.1711
Từ tờ 1a đến 8a ghi: Lập Trai tiên sinh hành trạng do môn nhân Đông Ngàn Chu Doãn Chí sơ biên, Môn nhân Nam Trực Bái Dương Ngô Thế Vinh trùng biên; Thọ Xương Dũng Thọ Nguyễn Văn Siêu hiệu san. Tờ 8b đến 9a chép một bài văn ghi “Quí Sửu trọng đông nguyệt Hiệp biện Đại học sử lĩnh Hà Ninh Ninh Thái Tổng đốc Kinh lược sứ Nguyễn Đăng Giai kính soạn”, nội dung ca ngợi tài đức của thầy và nói về việc cùng nhau thờ cúng thầy. Tờ 9a: Lập Trai Tiên sinh tự điền bi của Cử nhân Lưu Hân, Cử nhân Trịnh Phấn, sau đó chép câu đối, văn tế... Từ tờ 17a đến 47a chép Hoa Đường An Thích hầu Phạm Lập Trai Tiên sinh thi tập. Phần còn lại chép Ngọc Triện Hoàng giáp Trần Danh Án thi tập. Trong bản Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai thi tập R.1711 có 140 bài và một chùm bài Nam hành tạp vịnh (gồm 66 bài nhỏ).
Tổng cộng Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai thi tập R.1711 gồm 140 + 66 (trong Nam hành tạp vịnh) = 206 bài, trong đó có 195 bài trùng với nhóm Thảo Đường, bổ sung cho nhóm Thảo Đường là 11 bài. Trong 11 bài được bổ sung thì 7 bài trùng với nhóm LTTT và 2 bài trùng với nhóm Nam hành. Như vậy số bài mà Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai thi tập R.1711 bổ sung cho nhóm Thảo Đường là 11 bài – (7+2) = 2 bài: Dạ trung khổ nhiệt tảo khởi giác sảng và Tiên Táo ngẫu hứng.
Khi so sánh phần Nam hành tạp vịnh ở bản R.1711 với các bản ở nhóm Nam hành thì khoảng 35 bài đầu giống như 4 văn bản A.3146, A.400, A.2803, A.2158. Những bài còn lại hầu hết đều thấy có trong nhóm Thảo Đường, điều này càng chứng tỏ nhận định rằng chủ đề về Nam hành có khoảng 35 bài là có cơ sở.
Văn bản Hoa Đường Lập Trai Phạm công thi tập A.2154
Tờ 1a dòng đầu ghi Hoa Đường Lập Trai Phạm công thi tập. Dòng thứ 2 viết thấp hơn, ghi Thất ngôn luật, (nghĩa là chỉ chép phần thơ của Phạm Quý Thích được làm theo thể Thất ngôn luật), không mục lục, chú, bạt, tựa, hay tiểu dẫn...
Bản A.2154 có 115 bài. Trong đó 109 bài trùng với nhóm Thảo Đường và bổ sung cho nhóm văn bản Thảo Đường 6 bài là: Hạ đồng niên hữu, Phục hoàn cựu ngẫu các nhân cố xứ hí đề, Ngọc Hồi dạ túc, Hạ Hải Dương Hoàng Chánh đường quan, Thu vãn ức đế kinh, Bất vũ thán.
Văn bản Hồi kinh nhật trình thi A.308
Tờ 1a ghi: Hoa Đường Tiến sĩ Phạm công Quí Thích Lập Trai trước”, sau đó chép luôn nội dung. Theo LTTSHT, vào tháng 5 năm Tân Tỵ Minh Mệnh thứ 2 (1821) Phạm Quý Thích được lệnh dụ của Minh Mệnh trở lại kinh đô Huế để tham gia chỉnh sửa sách vở của triều đình. Trên đường đi ông bị ốm phải nằm lại, sau được vua thương tình cho trở về dưỡng bệnh. Khoảng thời gian này là thời điểm Phạm Quý Thích sáng tác tập thơ.
Nhưng Hồi kinh nhật trình thi bản A.308 có phần chép hơi lộn xộn. Chẳng hạn bài vịnh về núi Hoành Sơn có 7 kì (tức là 7 bài nhỏ) nhưng không xếp liền nhau mà bắt đầu từ kì tam, đến kì thất, (thiếu kì lục), kì ngũ, kì tứ, kì nhị, rồi chép Chí Linh Giang kí kiến, Quá Minh Lương giang, Quá Thạch Hãn giang, Mộ quá Kì Anh, sau đó mới chép tiếp Hoành Sơn thất vịnh, kì nhất.
Tổng cộng bản A.308 gồm 66 bài, trong đó 11 bài trùng với nhóm văn bản Thảo Đường và bổ sung cho nhóm Thảo Đường 55 bài.
· Văn bản Hy Minh thi tập VHv.1393
Tờ 1a ghi Hy Minh thi tậpsau đó chép luôn nội dung. Nhìn bề ngoài thấy kiểu chữ không thống nhất: lúc đầu viết chân phương, nét nhỏ, về sau (đoạn từ tờ 9a đến 42b) lại viết một kiểu chữ khác vẫn là chữ chân nhưng nét bút đậm cứng. Từ tờ 43a chữ thảo khó đọc, nét mảnh thưa. Sau khi khảo sát chúng tôi chưa có kết luận gì về số thơ của Hy Minh nhưng trong đó có nhiều bài thơ mà theo các tài liệu khác như Thảo Đường, LTTT… và nội dung các bài thơ đều khẳng định là của Phạm Quý Thích. Vì thế trong văn bản Hy Minh thi tập VHv.1393 chúng tôi chỉ đề cập đến những bài thơ đã xác định của Phạm Quý Thích.
Từ tờ 9a đến tờ 12b bản VHv.1393 chép 16 bài, sau đó cách bài Đông qui tương chí gia (không ghi tác giả), từ giữa tờ 13a đến 42b chép 98 bài thơ của Phạm Quý Thích. Có điều hơi khác, đó là, tên bài trong chùm Vịnh sử ở các văn bản khác ghi là Vũ Hầu thì ở đây là Chư Kiệt nhưng nội dung hoàn toàn trùng khớp.
Tổng cộng bản VHv.1393 có 111 bài trùng với nhóm Thảo Đường, 3 bài trùng với LTTT.
Văn bản Lập Trai Tiên sinh di thi tục tập A.2140
Sách do Nguyễn Văn Siêu sưu tầm. Đầu bài và nội dung viết không tách ra nên khó phân biệt. Tờ 1a qua bài chí, Nguyễn Văn Siêu cho biết: Tạ Hiên khi đã có tập Thảo Đường, bèn để ý sưu tầm biên chép được thêm một số bài, xếp thành 2 quyển Di thi và Di văn. Ông đọc trong đó thấy sót một số bài nên đã sưu tầm và tìm thêm được 102 bài.
Thực tế ở bản A.2140 chúng tôi thấy số bài lớn hơn nhiều 102 bài (gồm 225 bài). Điều ấy chứng tỏ bản A.2140 không phải là bản thủ bút của Nguyễn Văn Siêu mà nó đã được sao lại và chép thêm một số bài. Trong 225 bài này có 221 bài trùng với nhóm Thảo Đường, bổ sung cho nhóm Thảo Đường 4 bài, nhưng trong 4 bài được bổ sung thì 2 bài đã có trong văn bản Hoa Đường Lập Trai Phạm tiên sinh thi tập A.2154. Do đó, số bài bổ sung mới cho nhóm Thảo Đường là 2 bài: Hạ đại Lâm Thao Tri phủ hạ điển quân mưu, Nghĩ Thượng Hồng Tri phủ.
Văn bản Phạm Lập Trai tiên sinh thi tập VHv.2346
Đầu đề ghi là thi nhưng thực ra chỉ có 10 chùm bài còn lại chủ yếu là văn (43 bài). Văn bản chép hết phần thi sau đó chép đến phần văn. Đầu đề các bài thơ viết đài lên cao, còn đầu đề bài văn viết tách ra thành một dòng và thấp xuống phía dưới. Bản VHv.2346 chép 10 chùm thơ đã có trong nhóm Thảo Đường.
Văn bản Sứ trình A.1548
Tập thơ do Nguyễn Kiều và Nguyễn Tông Quai (Khuê) làm năm Giáp Tý. Từ tờ 53a đến hết chép 41 bài Hoa Đường quan thi, đã xuất hiện trong nhóm Thảo Đường.
Văn bản Thi tập tuyển VHb.252
Trong đó tờ 66b, 67b chép 2 bài thơ của Phạm Quý Thích là Nam hành đạo ngạnh chuyển hồi Kinh Bắc tỉnh thân (trùng với nhóm Thảo Đường) và Vạn Động nhân quan Kính Thiên (bổ sung cho nhóm Thảo Đường).
Văn bản Thuấn Nhuế thi văn tập A.2538
Thơ văn của Thuấn Nhuế và một số tác gia khác. Trong đó từ tờ 11b đến 19a chép 18 bài thơ của Hoa Đường Phạm Quý Thích, đã xuất hiện trong nhóm Thảo Đường.
Văn bản Tiên chính cách ngôn A.1524
Sách chép những câu cách ngôn. Từ tờ 61b đến 67a, chép Thăng Long thành tam thập vịnh - 30 bài thơ vịnh cảnh vật Thăng Long. 30 bài này chưa có trong nhóm Thảo Đường - song, tất nhiên như các trường hợp khác, đây là một chùm bài nên khi bổ sung cho nhóm Thảo Đường chúng tôi chỉ tính là 1 bài. Thăng Long thành tam thập vịnh gồm: Ngũ môn quan nhật, Nhất trụ lâu hà, Khán Sơn thự sắc, Nhĩ Hà thanh lưu, Tây Hồ hoán tẩy, Đông Kiều lộng địch, Kiếm Hồ sạ đẩu, Bát Tràng lung yên, Văn Đình đình trữ vân, Vũ quán sao nguyệt, La Thành trúc ổ, Võng Thị hoa điền, Thám Lâm vũ hậu, Tản Lĩnh vân gian, Mai Dịch túy ông, Hòe Nhai ca nữ, Trấn Quốc vi tăng, Gia môn khóa sĩ, Liệt Tân dã độ, Chư Chử ngư dĩ can, Thành kì quải húc, Lâu cổ chuyển canh, Linh Động phạn ngưu, Tô Giang phạn mã, Thủy Đồn dạ chiết, Hà Khẩu thu đăng, Trúc Bạch tiền lô, Kim Âu thủy giám, Thụy Phòng liên tửu, Huyền Quán trúc tùng.
Văn bản Tiến sĩ Trần Thị giảng lí lịch A.694
Sách do Trần Tân biên tập. Chép tiểu sử Trần Hiền (thân phụ Trần Tân), giữ chức Thị giảng, quê xã Vân Canh, huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Xuân Phương huyện Từ Liêm, Hà Nội) và sắc phong, tự, khải, trướng, thơ, 4 bài văn tế Nôm, 1 đôi câu đối của Trần Hiền.
Mặc dù sách không ghi tên tác giả là Phạm Quý Thích nhưng từ tờ 46b tới tờ 54b chép 34 bài thơ, từ tờ 89b đến hết chép 14 bài trùng với nhóm Thảo Đường và có thêm 3 bài trùng với nhóm LTTT.
Tổng cộng bản A.694 có 51 bài đã có trong các thi tập của Phạm Quý Thích.
Văn bản Việt dư kỉ thắng A.769
Sách do Trần Trọng Tể biên tập, trong đó tờ 11a khi nhắc đến bến Chương Dương đã trích bài Chương Dương độ của Phạm Quý Thích (đã có trong nhóm Thảo Đường). Tờ 88b có lời từ về Phạm Quý Thích và một bài thơ của học trò điếu Phạm Quý Thích.
Văn bản Vũ trung tùy bút (Phụ chư gia thi tập) A.2312
Sách mang tên Vũ trung tùy bút hiện ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm có ba bản viết A.145, VHv.1466/1-2 và A.2312. Nhưng 2 bản A.145, VHv.1466/1-2 không có thơ của Phạm Quý Thích, chỉ riêng bản A.2312 mới có Thảo Đường thi tập.
Sách do Đan Loan Phạm Tùng Niên soạn. Phần 1 bản A.2312 là Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Phần 2 là Nhuế Xuyên tùy bút thi biên quyển chi nhị của Nguyễn Khắc Trạch (An Chi) gồm 26 tờ, và Phần 3 là Thảo Đường thi tập của Phạm Quý Thích từ tờ 58 đến hết. Giữa tờ 58a ghi “Tự Đức Mậu Thìn niên trọng xuân” (Tháng 2 năm Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức - 1868).
Tại tờ 58a có Thảo Đường thi tập tiểu dẫn của Chu Doãn Chí. Tờ 59a có Mục lục, tiếp đến Lệ ngôn, Bùi Tồn Am tiên sinh bình thi. Sau cùng đề Thảo Đường thi tập quyển chi nhất, chung.Sau khi khảo sát, chúng tôi nhận thấy từ tiểu dẫn, mục lục, lệ ngôn và số lượng bài giống hệt như quyển 1 của bản HN.315-318, chỉ một bài duy nhất không có là Họa Hy Thích dã vọng. Bản A.2312 gồm 132 bài.
B. Loại khắc in
Loại khắc in gồm 07 văn bản, mang kí hiệu: AB.197, HV.148; R.1948; A.1455; VHv.146; VHv.971 và HV.113. Dựa vào những điểm giống và khác nhau chúng tôi chia 7 bản in thành 4 nhóm:
Nhóm 1: gồm 01 văn bản: Văn bản Hội đề Kiều thi AB.197
Hà Quyền (Hà Tông Quyền), tự Tốn Phủ soạn, Liễu Văn đường in năm Duy Tân thứ 8 (1814). Tờ 1a ghi “Tứ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Thị trung Học sĩ Lập Trai Phạm Quý Thích thi nhất thủ. (1 bài thơ của Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Thị trung học sĩ Lập Trai Phạm Quý Thích) bằng chữ Hán.
Bài thơ này không ghi đầu đề nhưng tất cả các sách hiện nay đều gọi là Đề vịnh Truyện Kiều. Đề vịnh Truyện Kiều đã gây không ít dư luận cho giới nghiên cứu. Có người căn cứ vào vào bài đề vịnh mà cho rằng chính Phạm Quý Thích đã khắc in Truyện Kiều. Một số nhà nghiên cứu khác, cho rằng Phạm Quý Thích có quan hệ bạn bè với Nguyễn Du, rằng Nguyễn Du khi viết xong Đoạn trường tân thanh đã đưa bản thảo cho Phạm Quý Thích xem, ông đã “sửa chữa vài câu”, lại đặt tên sách thành Kim Vân Kiều tân truyện rồi đem khắc in, và đó là lần khắc in đều tiên (?!) của Truyện Kiều.
Ngoài Hội đề Kiều thi AB.197, các văn bản lưu giữ tác phẩm của Phạm Quý Thích mà chúng tôi từng khảo sát có 6 văn bản (A.298, VHv.1637, A.2158, A.3146, A.2140, A.400) chép bài Đề vịnh này nhưng đều mang tên là Thính "Đoạn trường tân thanh" hoặc Thính "Đoạn trường tân thanh" hữu cảm. Điều đáng nói nữa là, cả 6 văn bản đều chép bài này vào giữa những tác phẩm liên quan đến chủ đề Nam hành, nghĩa là những tác phẩm được Phạm Quý Thích làm trên đường (ra), vào Nam. Mà Phạm Quý Thích có 2 lần vào Nam. Lần 1, được vua Gia Long cho gọi vào kinh để “san cải quốc sử" tháng 6 năm Tân Mùi (1811); lần 2, được vua Minh Mạng gọi vào kinh đô nhận chức là vào tháng 5 năm Tân Tị (1821). Cũng trong thời gian 10 năm này Phạm Quý Thích ở nhà dưỡng bệnh, mở trường dạy học và làm rất nhiều thơ.
Quay trở lại với tiêu đề bài thơ là Thính "Đoạn trường tân thanh” hữu cảm", chúng tôi cho rằng Phạm Quý Thích trong thời gian ốm yếu thường xuyên nằm đọc sách và có thể học trò hoặc người thân của ông đã đọc Truyện Kiều cho ông nghe vì bài thơ bắt đầu bằng chữ “Thính”. Rồi thấy cuộc đời chìm nổi đau thương của Kiều ông nghĩ đến bản thân và sự đảo điên của xã hội nên có những vần thơ cảm thán “Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy/ Tân thanh đáo để vị thùy thương”. Và vì bài thơ xuất sắc của Phạm Quý Thích mà người đời sau khi cho khắc in Truyện Kiều đã để bài thơ này lên đầu coi đó là lời Đề vịnh.
Đồng thời, tìm trong Lập Trai tiên sinh hành trạng do Chu Doãn Trí viết, không hề tìm thấy một câu chữ nào nói về mối giao tình giữa Phạm Quý Thích và Nguyễn Du. (Ông chỉ có người bạn thân là Phạm Nguyễn Du). Dựa vào những chứng cớ trên, qua đây chúng tôi muốn cung cấp cho giới Kiều học thêm một cứ liệu để xác định thời điểm và nhân vật khắc in Truyện Kiều đang được dư luận quan tâm.
Nhóm 2: gồm 2 bản HV.148 và R.1948. Hai văn bản này cùng mang tên Lập Trai thi tuyển chỉ in riêng thơ của Phạm Lập Trai mà không phụ chép thơ của người khác.
Nhóm 3: gồm 3 văn bản A.1455, VHv.146 và VHv.971. Tên bìa sách của A.1455 là Hải học danh thi tuyển còn ở 2 bản VHv.146 và VHv.971 đều mang tên Lập Trai thi tuyển. Tuy tên bìa sách khác nhau như vậy, nhưng ở phần nội dung thơ của Phạm Quý Thích thì cả ba văn bản đều được đặt lên trên và cùng mang tên Lập Trai thi tuyển. Sau phần thơ của Lập Trai, ở bản A.1455 có Độc sử si tưởng của Phạm Nguyễn Du, bản VHv.146 có thêm Thụy Nham hầu thi tập của Phan Huy Ích và bản VHv.971 có thêm Tinh sà kỷ hành của Phan Huy Ích.
Nhóm 4: Bản HV.113, tuy bìa ghi là Lập Trai thi tuyển nhưng bên trong từ tờ 1a đến tờ 28b chép Tinh sà tập; phần hai, bắt đều từ tờ 29a chép Lập Trai thi tập. Bản này về mặt hình thức có thể xếp chung với các bản của nhóm ba nhưng chúng tôi tách riêng vì 3 bản của nhóm ba xếp thơ của Phạm Quý Thích lên đầu, còn bản HV.113 đưa thơ của Phạm Quý Thích xuống dưới. Ngoài ra HV.113 còn có một số điểm khác biệt, chúng tôi sẽ đề cập phía sau.
Về nội dung, 7 bản nêu trên có một số điểm đáng chú ý:
+ 1 văn bản nhóm 1, chỉ có một bài, không trùng với bài nào trong nhóm mà chỉ trùng ở nhóm Viết tay Thảo Đường.
+ 5 văn bản của hai nhóm 2 và 3 trong phần thơ của Phạm Quý Thích đều có tổng số 165 bài, thứ tự các bài, kiểu chữ, số dòng số chữ trong mỗi trang, hình thức trình bày một bài thơ, vết mực lem trong mỗi trang đều giống hệt nhau. Và cả 5 bản này đều chép lặp 1 bài là: Phó Kinh Bắc. Riêng ở trang 52a của bản VHv.146 và VHv.971 có chữ thời 時 và tông 宗 bị viết thiếu nét thành 口寺 và.
+ Trong 149 bài thơ của bản HV.113 có tới 142 bài trùng với 5 bản của nhóm 2, 3; 22 bài không có là: Hoài gia huynh, Kí môn sinh Lại, Bi thu, Túy hành ca tặng Lê Tham chính, Khai xuân, Cố nhân bính tặng thi kiêm trà cầu đại vi hạ thọ thi thư thử đáp chi, Tòng nhân khất đại, Bệnh trung đặc kiến Ảm Chương công trọng ngọ khế sơn tự hỉ vũ khán bi phong tịnh ngũ chương khái nhiên tác thử, Dĩ bệnh khí quan qui Cổ Linh cựu ngụ, Thu hạn, Dục hiểu văn vũ nhi khởi, Chí nhật kí Phạm công tử, Hoãn hoa thịnh khai hữu cảm, Như Kinh hoài cổ, Trụ biểu đệ trạch sổ nhật tộc đảng diệc tự cố kinh qui tiểu chước, Cố viên vãn hứng, Cố nhân tương lưu phú thử tác biệt đề sở cư, Sự thuân tương biệt tiểu viên hương nhân lai tương tấn tức sự thư hoài, Mạnh xuân thập tứ dạ, Phúc Khánh tự vọng hội tất công nhất nhật dạ đại cung, Tích vũ khiển hoài, Điêu thiền.
Và có thêm 7 bài mới hay nói cách khác bản HV.113 bổ sung cho các bản HV.148, R.1948, A.1455, VHv.146 và VHv.971 là: Đăng sơn vãn diểu truy hoài vọng hữu Hiếu Đức kiêm hoài Đức Ninh, Thất tịch, Cửu hạn, Cửu nguyệt, Vọng thiên, Cảm tác, Thôi quy.
Sau khi giới thiệu thơ của Phạm Quý Thích, sách chép luôn nội dung, không có mục lục, lời dẫn.
+ Các văn bản thuộc hai nhóm 2 và 3 ở lề sách đều ghi Danh thi hợp tuyển. Tờ 1a của hai nhóm 2, 3 đều có dòng chữ: “Lập Trai thi tuyển quyển chi bát. Hoa Đường xã Tiến sỹ Thiếu tuấn Phạm công Quý Thích tuyển tập. Trung quân chính thống hậu đồn kiêm lí ngũ đồn, Tham quân sự, Khâm sai chưởng cơ, Hành Hải Dương trấn Trấn thủ Ân Quang hầu biên tập; Đốc học Trung chính bá; Trợ giáo Thời Bình nam hiệu đính”. Nghĩa là Lập Trai thi tuyển là quyển thứ 8 trong bộ Danh thi hợp tuyển, là tuyển tập của Tiến sĩ Thiếu tuấn họ Phạm tên Quý Thích người xã Hoa Đường, giữ chức Trung quân chính thống hậu đồn kiêm lí ngũ đồn, Tham quân sự, Khâm sai chưởng cơ, Hành Hải Dương trấn Trấn thủ Ân Quang hầu biên tập; Đốc học Trung Chính bá; Trợ giáo Thời Bình nam hiệu đính.
Tờ 29a bản VH.113 ghi ngắn gọn “Lập Trai thi tuyển Hoa Đường xã Tiến sỹ Thiếu tuấn, Phạm công Quý Thích soạn”.
Lược truyện tác gia Việt Nam(3) cho biết, Ân Quang hầu là Trần Công Hiến (? - 1816) người làng Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, theo Nguyễn Ánh lập quân công được phong Ân Quang hầu, Trấn thủ Hải Dương. Trong thời gian làm quan ở Hải Dương ông dựng Hải Học đường để xuất bản sách.
Đốc học Trung Chính bá là Nguyễn Thể Trung, làm Đốc học Hải Dương, sống cùng thời với Trần Huy Phác.
Trợ giáo Thời Bình nam tức Trần Huy Phác (1754 - 1834) hiệu Đạm Trai, người làng Bình Vọng, Thường Tín, Hà Đông. Năm 1804 được Gia Long triệu ra làm Trợ giáo xứ Hải Dương và Quảng Yên, sau được thăng Đốc học Thanh Hóa, tước Phác Ngọc bá.
Những dữ kiện trên cho biết, Lập Trai thi tuyển là quyển thứ 8 trong bộ Danh thi hợp tuyển. Tại tờ 1a quyển thứ nhất bộ Danh thi hợp tuyển (VHv.799/1) ghi: "Gia Long thập tam niên tân thuyên” (khắc năm Gia Long thứ 13 - tức năm 1814). Mà, Ân Quang hầu Trần Công Hiến qua đời vào năm 1816. Từ đó chúng ta có thể dự đoán rằng, 5 văn bản thuộc nhóm 2 và 3 đều được in vào khoảng từ năm 1814 - 1816. Nhưng ở bản VHv.146 và VHv.971 có 2 chữ viết kiêng húy là Thời và Tông trong khi đó ở các bản in khác lại không có, nên chúng tôi đoán định rằng 2 văn bản này có thể được in lại sau năm Tự Đức 1848, nhưng vẫn giữ nguyên nhan đề là Lập Trai thi tuyển quyển chi bát (trong bộ Danh thi hợp tuyển). Còn bản HV.113 hiện chưa xác định được thời điểm in cụ thể.
Như vậy, tạm thời chúng tôi kết luận 6 bản in của nhóm 2, 3, 4 có thể được khắc in nhiều lần. Và các lần in đều dựa vào ván khắc của Hải Học đường (đã sửa chữa cho hợp với điều kiện thời đại hoặc sửa lại những chỗ bị hỏng) vì cả 6 bản ngoài những đặc điểm đã nêu thì đều chép lặp 2 lần bài Phó Kinh Bắc.
Tổng số thơ của 7 bản khắc in là: 165 bài (từ các bản HV.148, R.1948, A.1455, VHv.146 và VHv.971) - 1 (bài Phó Kinh Bắc chép 2 lần) + 7 bài (bổ sung từ HV.113) + (1 bài ở bản AB.197) = 172 bài.
Đối chiếu 172 bài của loại khắc in với nhóm Thảo Đường thì có 161 bài trùng với nhóm Thảo Đường, bổ sung cho nhóm Thảo Đường 11 bài, nhưng 7 bài đã có trong nhóm LTTT và 4 bài đã có trong nhóm Nam hành. Như vậy loại khắc in không bổ sung mới cho nhóm Thảo Đường.
III. Nhận xét về quá trình sao chép và khắc in văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
Căn cứ vào ghi chép của Chu Doãn Trí, Nguyễn Văn Siêu và những bản còn ghi niên đại, sau khi khảo sát, tổng số thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích qua 49 văn bản hiện biết, sau khi đã loại trừ những bài không phải, những bài còn tồn nghi thì con số là 850 bài (của nhóm Thảo Đường) + 179 bài (bổ sung từ các bản loại viết tay) + 0 bài (bổ sung từ loại bản in) = 1029 bài.
Trong 1029 bài này, có bài được chép một lần (tức là chỉ một văn bản chép) song cũng có bài được chép đi chép lại nhiều lần. Tỷ lệ như sau:
Những bài chép 1 lần có 295 bài chiếm ~ 28,669%
Chép 2 lần có 43 bài chiếm ~ 4,179 %
Chép từ 3 lần trở lên có 691 bài chiếm ~ 67,152%
Để có thể hình dung toàn bộ số lượng văn bản, số bài thơ của Phạm Quý Thích, chúng tôi xin đưa ra bảng Tổng hợp các văn bản sau:
Loại VB | TT | Kí hiệu | Niên đại (nếu có) | Số bài từng văn bản | Số bài từng nhóm | Số bài BS cho nhóm Thảo Đường |
Viết tay | | A.298 | ? | 828 | 850 bài | 850 |
| HN.315-318 | Tự Đức Quý Sửu (1853) | 583 |
| VHv.76/1-3 | Khoảng 1969 (chép giống HN.315-318) | 583 |
| HV.231 | ? | 186 |
| VHv.152 | ? | 297 |
| VHv.145/2 | Sau 1816 | 162 |
| VHv.145/3-4 | Sau 1816 | 239 |
| VHv.1465 | ? | 277 |
| VHv.1637 | ? (gần với A.298) | 315 |
| VHv.1462/1-2 | Nhâm Tuất (1863) | 517 | 592 bài | 45 |
| A.1558/1-2 | ? (chép giống A.3036/1-2) | 498 |
| A.3036/1-2 | Tự Đức Ất Mão (1855) | 498 |
| A.2881 | ? | 270 |
| VHv.2244 | ? | 66 |
| HN.14 | 1842 | 92 |
| A.3146 | (1811 - 1821) | 239 | 263 bài | 17 |
| A.400 | (1811 - 1821) | 63 |
| A.2803 | (1811 - 1821) | 32 |
| A.2158 | (1811 - 1821) | 32 |
| R.1711 | Sau Tự Đức Quý Sửu (1853) | (140) 206 | | 2 |
| A.775 | Chép giống HN.333 | 11 | 11 bài | 8 |
| HN.333 | ? (Chép giống A.775) | 11 |
| AB.566 | Duy Tân thứ 5 (1911) | 1 | | 0 |
| A.955 | Sau Cao Bá Đạt mất (1854) | (69) 83 | | 0 |
| VHv.18 | ? | 1 | | 1 |
| A.1230 | ? | 152 | | 37 |
| A.2588 | ? | (2) 5 | | 2 |
| A.399 | ? | 2 | | 1 |
| A.1810 | ? | 19 | | 1 |
| A.2422 | Bính Tuất (1826) | 2 | | 0 |
| A.308 | Khoảng tháng 5 năm Tân Tỵ Minh Mệnh thứ 2 (1821) | 66 | | 55 |
| A.2154 | ? | 115 | | 6 |
| VHv.1393 | ? | 114 | | 0 |
| A.2140 | ? | 225 | | 2 |
| VHv.2346 | ? | 10 | | 0 |
| A.1548 | Giáp Tý (1804) | 41 | | 0 |
| VHb.252 | ? | 2 | | 1 |
| A.2538 | ? | 18 | | 0 |
| A.1524 | ? | 1(30) | | 1 |
| A.694 | ? | 51 | | 0 |
| A.769 | Sau 1825 | 1 | | 0 |
| A.2312 | Tháng 2 năm Tự Đức Mậu Thìn (1868) | 132 | | 0 |
Khắc in
| | AB.197 | Duy Tân 8 (1914) | 1 | 172 bài | 0 |
| VH.148 | Khoảng 1814 -1816 | 165 |
| R.1948 | 165 |
| A.1455 | 165 |
| VHv.146 | Sau 1848 (?) | 165 |
| VHv.971 | Sau 1848 (?) | 165 |
| HV.113 | ? | 149 |
Tổng số 49 | 1029 bài |