Người đỗ đại khoa và bài thi Tiến sĩ thời Lê - Trịnh (Tạp chí Hán Nôm; Số 4 (94) 2009; Tr.38-45)
NGƯỜI ĐỖ ĐẠI KHOA
VÀ BÀI THI TIẾN SĨ THỜI LÊ - TRỊNH
Nói đến thời Lê - Trịnh là nói đến thời kỳ chúa Trịnh tồn tại đồng thời với vua Lê cùng điều hành đất nước. Thời kỳ này nằm gọn trong hai thế kỷ XVII và XVIII. Đây là hai thế kỷ khá quan trọng với nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội nổi bật. Để củng cố địa vị thống trị và cai quản đất nước, triều đình đã hết sức chú trọng đến phát triển văn hóa và giáo dục. Bài viết này bước đầu đề cập đến người đỗ đại khoa và bài thi Tiến sĩ thời Lê - Trịnh.
1. Người đỗ đạt
Người đỗ đạt được giới thiệu ở đây là người đỗ đại khoa trong các kỳ thi Hội thời Lê - Trịnh (hay thời Lê Trung hưng) trong sự so sánh với thời Lê sơ và thời Mạc, được thống kê qua tài liệu Đăng khoa lục.Tên gọi tỉnh, thành phố trong bảng sau thuộc về đơn vị hành chính trước khi Hà Nội mở rộng (2008).
TT | Tỉnh/Thành phố | Lê sơ (1426 -1527) | Lê Trung hưng (1533-1778) | Tổng cộng | Mạc (1527-1592) |
1 | Hà Nội | 87 | 150 | 237 | 45 |
2 | Bắc Ninh | 156 | 90 | 246 | 117 |
3 | Hải Dương | 215 | 91 | 306 | 112 |
4 | Hà Tây | 135 | 94 | 229 | 45 |
5 | Hòa Bình | | | | 1 |
6 | Hưng Yên | 83 | 65 | 148 | 39 |
7 | Bắc Giang | 16 | 6 | 22 | 26 |
8 | Hải Phòng | 52 | 7 | 59 | 24 |
9 | Quảng Ninh | 3 | | 3 | 1 |
10 | Thái Bình | 39 | 25 | 64 | 20 |
11 | Nam Định | 23 | 15 | 38 | 10 |
12 | Hà Nam | 20 | 8 | 28 | 5 |
13 | Ninh Bình | 1 | 5 | 6 | |
14 | Vĩnh Phúc | 53 | 17 | 70 | 17 |
15 | Phú Thọ | 16 | 2 | 18 | 6 |
16 | Thái Nguyên | 6 | 1 | 7 | 2 |
17 | Tuyên Quang | 1 | | 1 | |
18 | Thanh Hóa | 47 | 107 | 154 | 7 |
19 | Nghệ An | 9 | 41 | 50 | 2 |
20 | Hà Tĩnh | 41 | 46 | 87 | 3 |
21 | Quảng Bình | | 2 | 2 | 2 |
22 | Thừa Thiên-Huế | 1 | 1 | 2 | |
| Không rõ | | 1 | 1 | |
| Tổng cộng | 1005 | 774 | 1779 | 484 |
Nhà Lê Trung hưng từ năm 1533, song suốt từ thời gian này đến năm 1592, chủ yếu hoạt động từ Thanh Hóa trở vào phía Nam, còn kinh đô Thăng Long và vùng phụ cận phía Bắc đều do nhà Mạc cai quản. Chỉ sau khi dẹp được nhà Mạc và chiếm lại Thăng Long vào năm 1592, nhà Lê mới chính thức khôi phục lại các hoạt động của vương triều nhà Lê, trong đó có việc tổ chức giáo dục và thi cử Nho học. Tuy nhiên, trong những năm tháng chưa chiếm lại được Thăng Long, nhà Lê cũng đã tổ chức một số khoa thi để chọn người cho bộ máy chính quyền của họ. Cụ thể là đã tổ chức được 6 kỳ thi Hội, lấy đỗ cả thảy 50 người. Trong số những người đỗ đạt này, có 21 người quê ở Thanh Hóa, sau đó là Hà Tĩnh 12 vị, Nghệ An 6 vị.
Theo số liệu ở bảng trên, thì số người đỗ đạt cao nhất thuộc thời Lê sơ (1005 vị), thời Lê - Trịnh (774 vị, thời nhà Mạc (484 vị). Thời kỳ này là thời kỳ hưng thịnh nhất của giáo dục và khoa cử Nho học ở nước ta. Cũng theo số liệu trên, thì địa phương có người đỗ đạt cao nhất thuộc về tỉnh Hải Dương (306 vị), tiếp đó là Bắc Ninh (246 vị), Hà Nội (237 vị), Hà Tây (229 vị), Thanh Hóa (154 vị), Hà Tĩnh (87 vị), Vĩnh Phúc (70 vị), Thái Bình (64 vị), Hải Phòng (59 vị), Nghệ An (52 vị), Nam Định (38 vị)... Số liệu này cho thấy Thăng Long - Hà Nội và các vùng phụ cận thuộc tứ trấn như Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây,... cùng vùng đất có truyền thống khoa bảng miền Trung như Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Nghệ An. Các địa danh hành chính trên là đơn vị hành chính gần đây, nhưng nếu ở vào giai đoạn nhà Lê thì chủ yếu thuộc về các trấn lộ như Hải Dương (bao gồm tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, một phần của đất Quảng Ninh và Hưng Yên ngày nay), Kinh Bắc (bao gồm tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và một phần thuộc tỉnh Hưng Yên, ngoại thành Hà Nội); Sơn Tây (bao gồm địa phận tỉnh Hà Tây cũ, Vĩnh Phúc, Phú Thọ); Sơn Nam (bao gồm một vùng đất phía nam Thăng Long như Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, một phần đất Hưng Yên); Thanh Hoa (bao gồm tỉnh Thanh Hóa ngày nay), Nghệ An (bao gồm tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay). Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế và xã hội thời Lê với kinh đô Thăng Long và vùng phụ cận làm trọng, cùng vùng Thanh Hóa, quê hương và đất phát tích nhà Lê, đất Nghệ - Tĩnh, nhất là Hà Tĩnh có truyền thống khoa bảng và hiếu học.
Trong số những người đỗ đạt dưới thời Lê - Trịnh, có không ít nhân tài,từng rạng danh nước nhà như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ,... Cũng phải kể đến người đỗ Hội nguyên khoa thi Hội đầu tiên của thời Lê Trung hưng là Nguyễn Văn Giai, người làng Ích Mậu, huyện Can Lộc (Hà Tĩnh). Ông sinh năm Giáp Dần (1554), mất năm Mậu Thìn (1628), đỗ kỳ thi Hội năm 1580, khi nhà Lê còn đang xây dựng lực lượng ở Thanh Hóa. Ông làm quan đến chức Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại, tước Lễ Quận công và là người có công lớn trong việc bảo vệ chủ quyền quốc thổ, ích nước lợi dân. Ngoài ra, còn kể đến những biệt tài văn chương khác được mệnh danh là "Trường An tứ hổ"(1). Đó là những người có phong cách tài văn là: nhất Quỳnh (Nguyễn Quỳnh), nhị Nham (Nguyễn Nham), tam Hoàn (Nguyễn Công Hoàn là bố Nguyễn Bá Lân) và tứ Tuấn (Thượng thư Lê Anh Tuấn). Ngoài ra còn có "An Nam Tứ đại tài", hay "Tứ hổ" là Nguyễn Bá Lân, Ngô Tuấn Cảnh, Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Trác Luân.
Trong dân gian, còn lưu truyền câu chuyện rằng: Vào những năm niên hiệu Long Đức (1732-1735), ở làng Cổ Am huyện Vĩnh Lại có Nguyễn Tân mới 14 tuổi mà văn chương đã lừng lẫy chốn trường ốc, là môn nhân của một vị quan lớn nào đó. Anh ta cùng với Nguyễn Bá Lân và hai người tên là Khê và Toại (hai người này không khảo được họ) cũng được gọi là "Trường An tứ hổ". Trong giới sĩ lâm có câu: "Khê Tân Lân Toại".
Bấy giờ ông Đỗ Huy Kỳ(2) ở xã Tham Cốc còn trẻ đã đỗ Thám hoa, thường rất tự phụ về văn chương. Một hôm nhà Quốc học bình văn, ông quan lớn nọ khen tài học của Nguyễn Tân hết lời. Đỗ công không phục, xin được đọ tài bằng cách cùng ngồi trên chiếu làm văn rồi đưa ra triều hội để bình. Rốt cuộc quyển của Nguyễn Tân cũng được lưu mà quyển của Đỗ công cũng được lưu. Đỗ công cùng trúng cách kỳ Hội thí với ông Nguyễn Bá Lân(3). Sau khi Quảng Văn đình ra bảng, Nguyễn công nỗ lực đọc sách để vào Đình thí. Bấy giờ ông Trương Hữu Điều(4) ở Xuân Canh chưa đỗ, đùa bảo Nguyễn công rằng: Văn ông ngang với văn đời Hán, việc gì mà phải vất vả thế…
Những câu chuyện tương tự như vậy xuất hiện không ít trong dân gian, cho thấy tài học vấn và không khí học thuật khá sôi động thời bấy giờ.
2. Bài thi Tiến sĩ
Số người đỗ đại khoa như nêu trên là rất lớn, song các bài thi của họ thì hầu như còn lưu lại không nhiều. Một số bài văn thi Hội, thi Đình tiêu biểu được sao chép lại trong một số sách Hán Nôm. Tổng hợp số liệu trong các tài liệu Hán Nôm, có thể xác lập được số lượng bài văn sách đình đối hiện còn qua các sách Lê triều Hội thí đình đối sách văn黎朝會試庭對策文, kí hiệuA.3026/1-3 và Lê triều Hội văn tuyển黎朝會文選, kí hiệuVHv.335/1-5. Ngoài ra còn một số đoạn chép một số bài văn sách đình đối khác như trong sách Lê triều đăng long văn tuyển, kí hiệu A.529 và A.2602.
Chúng tôi bước đầu lập danh mục các bài văn sách đình đối thời Lê - Trịnh như sau:
Stt | Khoa thi | Năm | Người còn bài thi | Kí hiệu sách |
1 | Quý Hợi, Vĩnh Tộ thứ 5 | 1623 | 1. Phùng Thế Trung | A.3026/1 |
2 | Quý Mùi, Phúc Thái thứ 1 | 1643 | 2. Nguyễn Năng Thiệu | VHv.335/4 |
3 | Tân Sửu, Vĩnh Thọ thứ 4 | 1661 | 3. Đặng Công Chất | A.3026/1 |
4 | Đinh Mùi, Cảnh Trị thứ 5 | 1667 | 4. Nguyễn Quán Nho | VHv.335/4 |
5 | Giáp Tuất, Chính Hòa thứ 15 | 1694 | 5. Ngô Công Trạc | A.2819/1 |
6 | Đinh Sửu, Chính Hòa thứ 18 | 1697 | 6. Nguyễn Quyền | A.2819/1 |
7 | Canh Thìn, Chính Hòa thứ 21 | 1700 | 7. Nguyễn Hiệu | A.2819/1 |
8 | Quý Mùi, Chính Hòa thứ 24 | 1703 | 8. Nguyễn Trí Cung | A.2819/1 |
9 | Bính Tuất, Vĩnh Thịnh thứ 2 | 1706 | 9. Đỗ Công Đĩnh | A.2819/1 |
10 | Canh Dần, Vĩnh Thịnh thứ 6 | 1709 | 10. Nguyễn Đồng Lâm | A.2819/1 |
11 | Canh Dần, Vĩnh Thịnh | | 11. Phạm Khiêm Ích | VHv.335/5 |
12 | Ất Mùi, Vĩnh Thịnh thứ 11 | 1715 | 12. Nguyễn Công Thái 13. Bùi Sĩ Tiêm | A.2819/1 A.2819/1 |
13 | Mậu Tuất, Vĩnh Thịnh 14 | 1718 | 14. Vũ Công Tể 15. Nguyễn Công Hoàn | A.2819/1 A.2819/1 |
14 | Tân Sửu, Bảo Thái thứ 2 | 1721 | 16. Nguyễn Tông Quai 17. Nguyễn Đức Đôn | A.2819/1 A.2819/1 |
15 | Giáp Thìn, Bảo Thái thứ 5 | 1724 | 18. Chu Nguyên Lâm | A.2819/1 |
16 | Đinh Mùi, Bảo Thái thứ 8 | 1727 | 19. Đặng Công Diễn 20. Nguyễn Đức Vĩ 21. Vũ Khâm Thận | A.2819/1 A.2819/1 A.2819/1 |
17 | Tân Hợi, Vĩnh Khánh thứ 3 | 1731 | 22. Nguyễn Bá Lân 23. Trần Danh Ninh 24. Trần Lê Lân | A.2819/1 A.2819/1 A.2819/1 |
18 | Quý Sửu, Long Đức thứ 2 | 1733 | 25. Nhữ Trọng Đài 26. Nguyễn Hồ Hiệp 27. Nguyễn Hành | VHv.335/5 A.2819/1 A.2819/1 |
19 | Bính Thìn, Vĩnh Hựu thứ 2 | 1736 | 28. Nhữ Đình Toản 29. Trần Bá Tân 30. Trịnh Tuệ | VHv.555/4 VHv.335/5 A.2819/4 |
20 | Kỷ Mùi, Vĩnh Hựu thứ 5 | 1739 | 31. Nguyễn Lâm Thái | |
21 | Quý Hợi, Cảnh Hưng thứ 4 | 1743 | 32. Nguyễn Hoản 33. Lê Hoàng Vĩ 34. Trần Văn Trứ | A.2819/1 |
22 | Bính Dần, Cảnh Hưng thứ 7 | 1746 | 35. Trần Danh Tố | A.2819/4 |
23 | Mậu Thìn, Cảnh Hưng thứ 9 | 1748 | 36. Nguyễn Huy Oánh 37. Lê Trọng Tín | VHv.335/5 A.2819/4 |
24 | Nhâm Thân, Cảnh Hưng thứ 13 | 1752 | 38. Lê Quý Đôn | VHv.335/5 A.2819 |
25 | Giáp Tuất, Cảnh Hưng thứ 15 | 1754 | 39. Phan Cẩn | A.2819/4 |
26 | Đinh Sửu, Cảnh Hưng thứ 18 | 1757 | 40. Phạm Tiến | A.2819/4 |
27 | Canh Thìn, Cảnh Hưng thứ 21 | 1760 | 41. Nguyễn Khản | A.2819/4 |
28 | Quý Mùi, Cảnh Hưng thứ 24 | 1763 | 42. Nguyễn Lệnh Tân | A.2819/4 |
29 | Nhâm Thìn, Cảnh Hưng thứ 33 | 1772 | 43. Hồ Sĩ Đống 44. Nhữ Công Thận | A.2819/4 |
30 | Ất Mùi, Cảnh Hưng thứ 36 | 1775 | 45. Phan Huy Ích 46. Hoàng Bình Chính 47. Lê Trọng Điềm | A.2819/3 VHv.336/2 |
31 | Mậu Tuất, Cảnh Hưng thứ 39 | 1778 | 48. Ninh Tốn | VHv.336/1 |
32 | Kỷ Hợi, Cảnh Hưng thứ 40 | 1779(8) | 49. Phạm Nguyễn Du 50. Nguyễn Duy Khiêm | VHv.336/3 |
33 | Tân Sửu, Cảnh Hưng thứ 42 | 1781 | 51. Nguyễn Cầu | A.2819/2 |
34 | Ất Tỵ, Cảnh Hưng thứ 46 | 1785 | 52. Nguyễn Bá Lan | - |
35 | Đinh Mùi, Chiêu Thống thứ 1 | 1787 | 53. Bùi Dương Lịch | - |
| Cộng | 35 khoa | 53 bài | |
Trong thời kỳ nhà Lê, từ thời Lê sơ, Mạc đến Lê - Trịnh hiện còn sao chép được cả thảy 53 kỳ thi, với 75 bài thi, trong đó có 35 khoa thi với 53 bài thi thời Lê - Trịnh.Bài văn sách sớm nhất hiện còn là bài văn sách đình đối của Đào Sư Tích, đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Dần, niên hiệu Long Khánh thứ 2 (1374) đời vua Trần Duệ Tông. Ngoài ra là 18 bài văn sách thời Lê sơ và 3 bài văn sách thời Mạc là Dương Phúc Tư khoa Đinh Mùi (1547), Đỗ Cung khoa Canh Thìn (1580) và Nguyễn Tuấn Ngạn khoa Quý Mùi (1583). Phần lớn số bài thi văn sách hiện còn là thuộc về thời Lê - Trịnh. Vì thế, số liệu về các kỳ thi và bài thi văn sách đình đối hiện còn ở thời Lê -Trịnh là khá phong phú.
Các đề thi văn sách đình đối thời Lê sơ, chủ yếu về đạo trị nước và sử dụng nhân tài. Thời Lê - Trịnh, các đề tài này tiếp tục được duy trì, song đã mở rộng sang một số lĩnh vực khác, như bàn về lý số, quân sự, kinh tế,… Đề bài tuy hỏi một vấn đề, song lại bao gồm nhiều câu hỏi cụ thể, có loại ngắn, có loại khá dài, nhiều câu hỏi cùng được đặt ra. Có đề bài đặt ra đến vài chục câu hỏi, thậm chí trên 100 câu hỏi như bài văn sách năm Phúc Thái thứ 1 (1643) mà Nguyễn Năng Thiệu đỗ Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) đã phải viết đến trên dưới một vạn chữ.
Bài thi của Lê Quý Đôn, khoa thi năm Nhâm Thân đời vua Lê Cảnh Hưng thứ 13 (1752) cho thấy quan niệm của ông và tri thức đương thời về quốc gia, bang bản. Lê Quý Đôn viết: "Thần xin có lời đề xuất rằng, nguyên ngôi giữa được vững chắc thì bốn phía phải lìa xa, sơn hà giới hạn bởi phong vực khác biệt. Với Tống, Nguyên của Bắc triều, mỗi vua hùng cứ một phương, chỉ có các vua Đinh, Lý, Trần nước Việt ta mà thôi. Đinh Tiên Hoàng dựng nước ở Hoa Lư, lần đầu tiên lập niên hiệu. Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, dựng cơ đồ cai trị. Trần Thái Tông thụ thiền từ tay triều Lý, định đô ở Phượng Thành. Ba đời ấy thuộc chính thống kế tiếp nhau trị nước.
Nhà Đinh thì định ra văn võ triều nghi, đặt ra quân hiệu mười đạo, tước phẩm có ban, sắc phục được định. Triều Lý thì đời Long Thụy hạ chiếu khuyến nông, đời Chương Thánh định ngạch cho chư quân, đời Thiên Thành định Hình thư, đời Hội Phong định khóa pháp, những việc tạo dựng đều quy mô, nhất nhất đã rõ ràng vậy. Triều nhà Trần thì đời Kiến Trung đặt ra lễ nghĩa, đời Nguyên Phong khóa pháp có thứ bậc, lập Bình Doãn đường để xét đoán ngục tụng, đặt ty Bình Bạc để coi giữ bốn thành, tu sửa điển chương sao mà đầy đủ vậy. Làm những việc đó là để duy trì phòng bị, là chế độ của một nhà. Nhưng dưới triều Lý thì “trung quốc” được thịnh cường, “tứ di” đều thuận phục. Triều Trần thì lòng dân vui mừng yêu mến, trăm họ đầy đủ an ninh, nước Nam cường thịnh chưa có thời nào hơn thế. Còn thời Đinh thì giặc Chiêm thường quấy nhiễu cướp bóc phương nam, quân Tống xâm phạm phía bắc, sao mà yếu thế đến vậy! Thời Lý thì truyền ngôi được tám đời, trải 274 năm. Thời Trần truyền ngôi hai mươi đời, trải 180 năm. Đời trước giữ nước (hưởng quốc) thời gian không dài hơn thế. Vì thời Đinh truyền ngôi hai đời, mới được 12 năm, sao mà nhanh đến vậy! Điều đó há chẳng phải do khí vận không đồng đều hay sao? Như thế thì buổi đầu nhà Đinh lập nước, nền chính thống mới được mở ra, dư đồ vừa được thống nhất, mệnh trời soi tới mới chỉ bắt đầu, lòng người yêu mến vừa được tạo dựng.
Hai triều Lý, Trần, được kế thừa cái nghiệp đã thành, há có thể quy về vận khí chăng? Có ý rằng, việc thực thi có xứng đáng hay không, vì sao được như thế? Lễ nghĩa của họ chính đáng thì dân phong thuần hậu, danh phận nghiêm thì quốc pháp sáng ngời. Đóng trọng binh ở kinh sư, không đảo lộn để mất Thái a; phong cho con cháu ở các lộ, không tự liệu tính lay chuyển cội nguồn; chọn kẻ sĩ bằng khoa cử, khơi dậy được nhân tài; đặt quan chức tất phân văn võ, mà thống nhất được quyền hành; lấy tứ di làm phên dậu, không coi nhẹ việc sửa đổi binh đoan; dùng pháp lệnh để ràng buộc tướng thần, không cho chuyên quyền việc binh bị hay việc hành chính.
Thời Lý - Trần lập nước, quy mô sở dĩ được duy trì phòng phạm đến như thế lẽ nào lại không được hưởng cái công trí trị nhiều năm hay sao? Hẳn như họ Đinh thì Ngũ Hậu được lập, mà cái đạo “Kinh thường” bị bỏ thiếu, trường học chưa được dựng lên, con đường giáo dưỡng bị làm trái, giao binh quyền mười đạo cho đại thần, sắp đặt xử trí công việc không rõ ràng, ngợi khen bằng sự sủng ái, để Đỗ Tiệm nắm việc phòng bị. Đến như việc trong cửu trùng cũng bất cẩn, để cho lòng gian tà nẩy sinh, đoán hình quyết ngục lại quá nghiêm, khiến cho lòng người tản tác khó bề tập hợp. Như thế còn làm sao mà giữ được cái công trị nước đến vô cùng được? Việc trị nước tất có ưu có liệt, năm tháng cai trị có ngắn có dài khác nhau, bởi việc làm có đắc có thất không thống nhất vậy".
Lê Quý Đôn hết sức đề cao ba triều đại là Đinh, Lý, Trần, song đặc biệt nhấn mạnh hai triều đại Lý và Trần, xem đó như các triều đại huy hoàng nhất đáng tự hào và noi theo. Cũng chính từ đó mà thấy được sự khiếm khuyết trong xã hội đương thời, cần được chấn chỉnh. Những biện pháp của ông cũng như triều đại đương thời chủ xướng là “Hưng quốc thể, chính quan liêu, sùng văn giáo, phấn vũ thuật và chấn kinh tế”. Đó là những biện pháp thiết thực nhằm đề cao quốc thể, chấn chỉnh thể chế điều hành đất nước, mở rộng giáo dục, tăng cường quân sự và phát triển kinh tế.
Nội dung bài văn sách khá phong phú, được viết với văn phong sắc xảo, xứng đáng là những kỳ bút trong lịch sử giáo dục và khoa cử Nho học nước ta, đồng thời cho thấy ông còn là một trong chiến lược gia giúp triều đình chấn hưng đất nước.
Tóm lại, thời Lê - Trịnh thế kỷ XVII - XVIII tuy ở vào giai đoạn cuối, tồn tại một số tệ đoan trong khoa cử như “Sinh đồ ba quan”, chạy thầy chấm thi,… song nhìn một cách tổng thể thì giáo dục thời kỳ này được triều đình và toàn xã hội chú trọng. Chính các chúa Trịnh, tiêu biểu là Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm thời trai trẻ, có vai trò hết sức to lớn góp phần hưng thịnh đất nước trong nhiều lĩnh vực, nhất là văn hóa và giáo dục. Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất nghệ thuật điêu khắc dân gian, với hàng loạt ngôi đình, chùa làng được dựng lên đồ sộ, lộng lẫy như những lâu đài kiến trúc dân gian đặc sắc nhất của làng quê người Việt. Đây cũng là thời kỳ phát triển của văn học dân gian, nhất là văn học chữ Nôm. Chính các vị chúa này đã đặt móng xây nền cho sự nở rộ tác phẩm Nôm vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII. Bài viết này xem như việc đặt vấn đề cho sự nghiên cứu và đánh giá lại vị thế của các vị chúa này trong phát triển văn hóa giáo dục thời Lê - Trịnh.
1Trường An tứ hổ: Xem thêm Vịnh sử thi tuyển, sách chữ Hán, A.849.
Tài liệu tham khảo
2. Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Bản dịch, Nxb.KHXH, H. 1991.
Lịch triều hiến chương loại chí, Bản dịch, q. XXVI, Sử học, 1960-1961.