Nhân kỷ niệm 100 năm bài thơ Trị mệnh của Nguyễn Khuyến (Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 33 - 39)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 33 - 39)
NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM
BÀI THƠ TRỊ MỆNH CỦA NGUYỄN KHUYẾN
NGUYỄN THẾ NỮU
Xã Yên Bắc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam
Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của tỉnh Hà Nam, cũng là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, người thôn Vĩ Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, sinh năm 1835, mất ngày 5-2-1909 (rằm tháng giêng năm Kỷ Dậu). Ông đã để lại một di sản thơ ca Hán Nôm đồ sộ, có nhiều bài giá trị nói lên tư tưởng tình cảm của ông, trong đó có bài Trị mệnh (Di chúc), từ khi viết đến nay đã được tròn trăm năm. Bài thơ tuy không nói lên một tư tưởng gì lớn lao, nhưng toát lên một nỗi chán chường với thời thế và cuộc đời. Trong di chúc ông chán ngán nhận mình một đời không có chút công lao gì với dân với nước. Khi chết đưa ma, ông không cho viết văn tế, câu đối, minh tinh, thần chủ, và nêu cách đề mộ chí là ông muốn quên mình đi, muốn cuộc đời quên mình đi, quên một con người không có gì đáng khen ngợi, thờ cúng. Trong di chúc ông muốn xóa bỏ một số lệ tục tang ma hồi đó, với một thái độ cương quyết với mười chữ "bất khả" (không được) dứt khoát mạnh mẽ. Thơ ông vừa giản dị dễ hiểu, lại vừa bác học uyên thâm. Bài thơ viết bằng chữ Hán, đã có bản dịch Nôm mà trước kia vẫn cho nhầm là tác giả tự dịch. Sách Tam nguyên Yên Đổ - Nguyễn Khuyến - Tiểu sử - Hành trang thơ ca của Tú tài Hoàng Ý Viên cho bản dịch là của Cử nhân Đào Vũ Môn, sau này có người nói đó là bản dịch của Trần Tán Bình, học trò ông. Nhưng rồi người ta lại thấy Trần Tán Bình không phải là học trò Nguyễn Khuyến và cũng không có cơ sở để cho rằng Trần Tán Bình là người dịch những bài thơ đó. Trọng Văn Nguyễn Duy Mỹ có sưu tầm được một bản dịch Nôm khác ở Hà Nam, nhưng xét ra cơ bản vẫn gần giống như bản cũ, so với bản cũ chỉ khác 42 chữ, chiếm 15% số chữ cả bản dịch cũ, có thể xem chỉ là một bản nhuận sắc bản dịch cũ. Sau đó Ngô Linh Ngọc dịch lại bài thơ. Đến nay việc dịch bài Trị mệnh vẫn còn nhiều thiếu sót, nhiều chỗ chưa chính xác, chưa đúng chữ đúng ý tác giả.
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày ra đời bài Trị mệnh, một bài thơ quan trọng trong di sản thơ văn Nguyễn Khuyến, tôi chưa có bình luận gì về nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ, mà chỉ xin chú thích những chữ và tích quan trọng, dịch nghĩa bài thơ và góp thêm hai bản dịch, một bản theo thể gốc năm chữ và một bản theo chuyển thể song thất lục bát biến thể. Bản chữ Hán sử dụng bản của Trọng Văn Nguyễn Duy Mỹ. Tất nhiên tôi vẫn chưa thỏa mãn với các bản dịch của mình, nhưng xin cứ mạnh dạn công bố trao đổi cùng các bạn yêu thơ Nguyễn Khuyến và mong được chỉ vẽ sửa chữa để hoàn thiện dần bản dịch.
值命Trị mệnh *
我年值八八 Ngã niên trị bát bát*
我數逢九九 Ngã số phùng cửu cửu*
嗟哉我德凉 Ta tai ngã đức lương*
壽紀迈先考 Thọ kỷ mại tiên khảo
嗟哉我學淺 Ta tai ngã học thiển
魁然占龍首 Khôi nhiên chiếm long thủ*
豈非先考齡 Khởi phi tiên khảo linh
留以錫爾父 Lưu dĩ tích *nhĩ phụ
豈非先考名 Khởi phi tiên khảo danh
不做以遺後 Bất tố dĩ di hậu
平日無寸功 Bình nhật vô thốn công
俯仰已慚負 Phủ ngưỡng* dĩ tàm phụ
死幸得全歸 Tử hạnh đắc toàn quy
葬幸得村阜Táng hạnh đắc thôn phụ*
只矣亦何求Túc hĩ diệc hà cầu
死葬勿淹九 Tử táng vật yêm cửu
棺衾不可美 Quan khâm bất khả mỹ
只以斂足手 Chỉ dĩ liệm túc thủ
具饌不可丰 Cụ soạn bất khả phong
足以答奔走 Chỉ dĩ đáp bôn tẩu*
不可寫祝文 Bất khả tả chúc văn
不可為對句 Bất khả vi đối cú
不可書銘旌 Bất khả thư minh tinh*
不可題神主 Bất khả đề thần chủ*
不可達門生 Bất khả đạt môn sinh
不可仆僚友 Bất khả phó liêu hữu
宾客不可招Tân khách bất khả chiêu
賵吊不可受Phúng điếu bất khả thụ
此皆纍於生 Thử giai lụy ư sinh
死者亦烏有 Tử giả diệc ô hữu*
且已重吾過 Thả dĩ trọng ngô quá
將來更多口 Tương lai cánh đa khẩu
惟於葬之日 Duy ư táng chi nhật
旂匾導前柩 Kỳ biển đạo tiền cữu
芋工八九人 Vu công bát cửu nhân
吹送列左右 Xuy tống liệt tả hữu
草草葬我完 Thảo thảo táng ngã hoàn
酹我以杯酒 Lỗi ngã dĩ bôi tửu
所得新敕憑 Sở đắc tân sắc bằng
封還納使俯 Phong hoàn nạp sứ phủ*
題於墓石碑 Đề ư mộ thạch bi
皇阮故休叟Hoàng Nguyễn cố hưu tẩu
Một số chú thích chủ yếu:
Trị mệnh (值命): lời di chúc (trăng trối khi còn tỉnh táo). Do điển Ngụy Thù thời Xuân Thu (Trung Quốc) lúc còn khỏe dặn con; "Khi ta chết, cho người hầu của ta đi lấy chồng". Khi Ngụy Thù sắp chết lại dặn: "Khi ta chết thì đem người hầu của ta chôn sống với ta". Lúc Ngụy Thù chết, con Ngụy Thù cho người hầu của bố đi lấy chồng, và nói rằng: "Ta làm theo lời bố ta dặn khi còn tỉnh táo chứ không làm theo lời bố ta khi đã lẫn (tòng trị mệnh bất tòng loạn mệnh)".
Bát bát (八八): có ba cách giải thích: Cách thứ nhất lầm cho từ "bát bát" là cách tính tuổi. Tuấn Thành - Anh Vũ trong Nguyễn Khuyến - tác phẩm và dư luận chú thích: Về chữ "bát bát" này trước đây có người đã hiểu lầm thành "tuổi tám mươi tám" và dịch cả câu thành "Kém hai tuổi xuân đầy chín chục", hoặc cho là sáu mươi tư (8x8=63). Cách thứ hai chú là già. Theo sách Nguyễn Khuyến tác phẩm của Nguyễn Văn Huyền chú giải là già yếu. Theo Từ hải "bát bát" còn được phát âm là "ba ba" để gọi những người tuổi tác theo cách gọi của các tộc người phía nam Trung Quốc. Tác giả dùng chữ này với nghĩa ấy và cũng để đối với chữ "cửu cửu" ở câu dưới. Nghĩa này theo chú giải của sách Thông nhã của Phương Dĩ Trí đời Minh: "Bát bát" ba ba dã, xưng lão thành giả viết bát bát hoặc ba ba". Nghĩa là bát bát là già, gọi người già là bát bát hoặc ba ba. Cách thứ ba cho "bát bát" là một quẻ trong Kinh Dịch, là quẻ Bát thuần, một quẻ xấu vì không còn biến đổi được. Tức tuổi đời của Nguyễn Khuyến đến đây cũng đã hết. Nguyễn Văn Điềm trong Tạp chí Sông Châu đã dùng cách tính dịch số đơn giản của dân gian tính rằng: Cặp quái (quẻ) âm dương "bát bát", "cửu cửu" vế trên 2 hào, vế dưới 3 hào nên (8x8)=64 và (9x9)+3=84, cộng cả hai vế chia đôi (66+84):2=75. 75 là tuổi thọ chính xác tính theo âm lịch.
Cửu cửu (九九): quẻ dương cùng, quẻ hết. Lấy ý từ câu "Dương cùng cửu". Cửu là số dương, mà số dương đến cửu là hết. Bài thơ Chính khí ca của Lục Du đời Tống có câu: "Ta dư cấu dương cửu, lệ dã thực bất lực" nghĩa là "Ôi ta đã gặp hào dương cửu, cùng cực, kẻ tôi tớ này đã thành bất lực".
Long thủ (龍首): đầu rồng, theo lệ xưa, những người thi đình đậu Tiến sĩ được ghi tên trên một bảng dán giấy báo danh màu vàng vẽ rồng, người đỗ đầu được ghi tên lên trên đầu rồng, các người đỗ khác thứ tự ghi ở dưới.
Tích (錫): để cho. Ca dao ta có câu: Kính già già để tuổi cho. Lấy từ chữ "tích linh" (錫齡) là cho tuổi. Theo Kinh Lễ, Văn Vương nhà Chu bảo Vũ Vương: "Số ta 100 tuổi, số mày 90 tuổi, ta cho mày ba tuổi". Sau đó Văn Vương thọ 97 tuổi, Vũ Vương thọ 93 tuổi. Lại theo Đại Việt sử ký toàn thư quyển V, Trần Nhật Duật là Chiêu Văn đồng tử được thượng đế cho giáng sinh với thời hạn là 4 kỷ (48 tuổi). Năm ông 48 tuổi, ốm hơn một tháng, các con làm chay xin giảm bớt tuổi của mình để cho cha được sống lâu, được thượng đế cảm thông chấp nhận, nên ông được sống thêm 2 kỷ 5 năm nữa là 77 tuổi. Lại theo gia phả chi thứ họ Nguyễn ở thôn Vỵ Hạ (xã Trung Lương, Bình Lục, Hà Nam), Nguyễn Khuyến khi 18 tuổi bị ốm nặng, cụ thân sinh đã cầu khẩn được chết thay cho con, quả nhiên sau đó, cụ mất còn ông khỏi. Chữ "tích" ở đây ý nói Nguyễn Khuyến sống được lâu là nhờ cha để tuổi cho.
Phủ ngưỡng (俯仰): ngẩng, cúi, là những động tác nghi thứ làm lễ gồm tiến, thoái, phủ, ngưỡng (tiến, lui, ngửa, cúi). Ngửa lên thì thấy trời, cúi xuống thì thấy đất, tác giả nghĩ thân phận mình mà thẹn với trời đất.
Toàn quy (全歸): được về toàn vẹn thân xác. Người xưa đi xa khi chết có hai nguyện vọng là giữ được toàn vẹn thân xác, nghĩa là giữ mình là người lương thiện may mắn không bị hình phạt hay tai nạn rủi ro làm tổn thất một phần thân thể và được đưa về chôn cất ở quê hương. Nguyễn Khuyến đã từ quan về chết già ở quê hương nên thực hiện được hai mong muốn đó.
Thôn phụ (村阜) đất quê hương, tức quê quán, nơi sinh. Có bản ghi là "thân phụ" (亲父) và chú là bên cạnh cha mẹ.
Bôn tẩu (奔走): lấy chữ từ Kinh Thi, là lo lắng hoạt động nhiều mặt để làm tốt một công việc, ở đây là nói lo việc đám ma.
Minh tinh (銘旌): là mảnh lụa, vải hay giấy viết tên hiệu, tên thụy, tuổi, chức tước, địa vị của người chết dán vào một khung tre rất cao rước đi trước linh cữu, khi mai táng xong thì đốt. Cũng có lúc buộc vào một cây nêu rước đi trước linh cữu gọi là cờ triệu.
Thần chủ (神主): mảnh ván ghi tên hiệu, tên thụy, tuổi, chức tước, địa vị của người chết, bên cạnh ghi tên người thờ cúng, được để trong một cái khám để lên bàn thờ để thờ cúng. Viết thần chủ thường phải mời người có học thức và uy tín.
Môn sinh (門生): học trò trong hội đồng môn. Ngày xưa học trò cùng học một thầy được tổ chức thành hội, gọi là hội đồng môn. Lúc thầy còn sống thì săn sóc, thăm hỏi, khi thầy chết thì để tang và hàng năm làm giỗ thầy.
Ô hữu (烏有): không có gì, không được gì. Lấy chữ từ phú Tử Hư của Tư Mã Tương Như hư cấu nhân vật Tử Hư, gọi là Ô Hữu tiên sinh, nên khi nói đến Ô Hữu là nói đến việc không có. Có sách ghi là "hề hữu" (奚有) là vô nghĩa.
Sứ phủ (使俯): phủ sứ, phủ thống sứ. Sau khi nhà Nguyễn dâng đất Bắc Kỳ cho Pháp, thực dân Pháp đặt chức quan thống sứ để cai trị. Nhưng thực dân Pháp xảo quyệt, các việc thưởng phạt đều dùng danh nghĩa "Triều đình Huế", thực ra quan chức người Việt chỉ là bù nhìn còn định đoạt mọi việc là do chúng. Nguyễn Khuyến biết rõ điều đó, nên mới dặn con trả các thứ bằng sắc cho phủ Sứ.
Dịch nghĩa: (Những chữ đặt trong dấu ( ) là những chữ thêm vào cho rõ nghĩa, không có trong nguyên bản).
Bản di chúc (khi còn tỉnh táo, sáng suốt)
Tuổi thầy gặp quẻ bát thuần (đã hết)
Số thầy gặp quẻ dương cùng (đã hết)
Thương thay thầy đức mỏng
(Mà) sống lâu hơn ông
Thương thầy học nông cạn
(Mà) đậu đầu bảng rồng
Há không (phải là) tuổi (của) ông
Để lại cho cha (các) con
Há không (phải là) danh (của) ông
(Ông) không làm (là) để lại cho đời sau (chú: ở đây là tác giả)
Ngày thường không (làm nên) chút công lao (gì)
(Khi) ngửa cúi đã xấu hổ (với trời đất)
(Khi) chết may (giữ) được toàn (thân mà) về
May được chôn (ở nơi) quê hương
(Được) đủ vậy còn mong gì?
(Thầy) chết (là) chôn chớ để lâu
Quan tài, (vải) khâm liệm không được (dùng thứ) đẹp
Chỉ (đủ) để liệm (kín) chân tay
Làm cỗ bàn không được to
Chỉ (đủ) để đáp (lại người) giúp đám
Không được viết văn tế
Không được làm câu đối
Không được viết minh tinh
Không được đề thần chủ
Không được gọi học trò (trong) hội đồng môn
Không được báo (cho các) bạn quan (của thầy biết)
Không được mời khách
Không được nhận (của) phúng điếu
(Những thứ) đó đều (làm) lụy người sống
(Mà) cũng không ích gì (cho) người chết.
Lại làm nặng tội (của) thầy
Sau này càng (bị) nhiều miệng (đời chê trách)
Còn trong ngày đưa ma (thầy)
Cờ, biển (vua ban) dàn đi trước
Thợ kèn tám chín người
Đi hai bên (linh cữu) thổi (kèn) tiễn đưa
Chôn thầy qua loa xong
Rưới cho thầy chén rượu
(Các) bằng sắc mới được (ban tặng)
Gói gửi nộp phủ sứ
Đề trên mộ chí đá:
"Ông già về hưu triều Nguyễn"
Bản dịch của Ngô Linh Ngọc:
Tuổi ta kể cũng đà đến cõi,
Số ta nay vận cuối khôn qua.
Than ôi, đức mỏng như ta!
Mà sao ta lại hơn cha tuổi trời?
Sức học ta còn vơi, còn cạn,
Mà đè đầu chiếm bảng khôi nguyên!
Phải chăng ý của cha hiền?
Cho ta tuổi thọ mãi trên cõi đời.
Há chẳng phải ý người không vội?
Đường công danh nhường lại đàn sau.
Công lênh chưa chút bấy lâu
Đòi phen cúi ngửa xiết bao thẹn lòng
Đầy đủ bấy, còn mong gì nữa
Thác chôn ngay lần lữa làm chi?
Về nay toàn vẹn mọi bề
Táng may lại được gần kề mẹ cha.
Khâm liệm chớ xa hoa vóc lụa
Miễn chân tay chẳng hở thì thôi.
Cỗ bàn không được vẽ vời
Hễ ai đến giúp thì mời người ăn.
Cũng không được soạn văn đọc chúc,
Câu đối thờ, bỏ tất không làm.
Minh tinh bày đặt thêm nhàm
Mượn người đề chủ lại càng không nên.
Môn sinh chớ bổ tiền đạt giấy,
Giấu bạn bè hết thẩy không mời,
Xa gần khách khứa cũng thôi,
Có ai phúng viếng liệu lời khước đi.
Người chết có hưởng gì thứ đó,
Kẻ sống thêm mắc nợ vào người,
Mà ta thêm lỗi với đời,
Om sòm chi lắm, kẻ cười người chê
Chỉ cần nhớ đến khi chôn cất
Cờ biển xưa rước trước quan tài,
Thợ kèn thuê tám chín người
Hai bên tả hữu thổi bài đưa vong.
Táng qua quýt cho xong mọi chuyện,
Tưới mồ ta một chén rượu đầy,
Mấy tờ bằng sắc trước đây,
Niêm phong trả Sứ phủ ngay tức thì,
Mồ ta bia đá nhớ đề:
"Ông già triều Nguyễn cáo về đã lâu"
Bản dịch mới theo thể thơ gốc 5 chữ
Tuổi thầy quẻ tám thuần,
Số thầy quẻ dương cùng
Thầy sống lâu hơn ông.
Thương thay thầy đức bạc
Thầy đỗ đầu bảng rồng
Thương thay thầy học ít
Há đó không tuổi ông
Nhường lại cho thầy được?
Há đó không danh ông
Giành thường không chút công,
Ngửa cúi thẹn trời đất.
Chết may toàn thân về,
Nơi quê hương chôn cất.
Đủ thế, mong gì hơn,
Chết chôn mau là được.
Liệm đủ kín chân tay
Quan tài không cần đẹp
Dọn cỗ chỉ xuyềnh xoàng
Đủ đón người giúp việc
Câu đối không được làm.
Văn tế không được viết
Minh tinh không được làm
Thần chủ không được viết
Đồng môn không được gọi
Bạn quan không cho biết
Khách khứa không được mời
Điếu phúng từ chối hết
Chỉ lụy cho người sống
Ích gì cho người chết?
Lại nặng thêm tội thầy
Miệng đời sau chê trách.
Trong ngày đưa đám thầy
Cờ, biển dàn đi trước
Thợ kèn tám chín người
Đi hai bên tiễn biệt
Chôn thầy qua loa xong
Rưới thầy chén rượu nhạt.
Bằng sắc mới được ban
Gói nạp phủ Sứ hết
"Ông già hưu triều Nguyễn".
Đề mộ chí thế là được.
Bản dịch mới chuyển thể song thất lục bát
Tuổi thầy quẻ tám thuần đã hết,
Số thầy cũng quẻ hết dương cùng.
Thầy sống lâu hơn ông ngày trước,
Thầy đi thi, chiếm được đầu rồng,
Thương thay, sức học thầy nông,
Đức thầy lại mỏng, thực không xứng nào!
Há không là tuổi ông trao lại?
Há không phải danh ông để giành?
Thầy sống lâu, được nên danh,
Là nhờ phúc ấm ông giành lại đây!
Chút công lao hàng ngày chẳng có,
Cúi ngửa thêm xấu hổ đất trời!
Chết may về được nguyên người,
Chôn nơi quê quán thế thời là may.
Thế là đủ, mong gì hơn nữa,
Thầy chết rồi con nhớ mau chôn.
Liệm vừa đủ kín tay chân,
Quan tài không phải đẹp sang làm gì.
Dọn cỗ bàn, không nên thịnh soạn
Đủ đáp người giúp đám là hay.
Văn tế không viết làm gì
Câu đối con cũng chước đi cho rồi.
Còn minh tinh, con thời cũng bỏ
Và thần chủ, cũng chớ viết chi
Đồng môn chẳng gọi làm gì
Bạn quan của thầy cũng chẳng báo ai
Các con không được mời quan khách
Đồ phúng viếng trả hết không thu
Người sống mang lụy về sau
Người chết cũng được gì đâu, lại phiền
Làm cho thầy càng thêm nặng lỗi
Để đời sau mãi mãi chê bai.
Còn trong ngày đưa đám thầy,
Cờ biển vua, con rước đi hàng đầu
Người thổi kèn theo sau tám chín
Đi hai bên linh cữu tiễn đưa
Chôn cất chỉ cần qua loa
Rưới thầy chén rượu thế là xong xuôi
Những bằng sắc mới rồi ban tặng
Gói trả về phủ Sứ hết đi
Ở trên mộ chí chỉ ghi
"Ông già hưu triều Nguyễn", chữ này mà thôi.
Tài liệu tham khảo
1- Trọng Văn: "Về bài: Di chúc của Nguyễn Khuyến", Tạp chí Văn học, số 5/1976, tr.145-152.
2- Thơ văn Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu giới thiệu, Nxb. Văn học, 1971, tr.418-421 và 150-153.
3- Nguyễn Khuyến - Tác phẩm. Nguyễn Văn Huyền biên soạn Nxb. KHXH, H. 1984.
4- Thi hào Nguyễn Khuyến - Thơ và đời, Nguyễn Huệ Chi chủ biên. Nxb. Giáo dục, 1994, tr 580-596.
5- Nguyễn Khuyến: Tác phẩm và dư luận, Tuấn Thanh, Anh Vũ tuyển chọn, Nxb. Văn học 2002, tr.309-316.
6- Tuyển tập thơ Nguyễn Khuyến, Trần Văn Nhĩ dịch, Nxb. Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh 2005, tr.592-599.
7- Nguyễn Văn Điềm: Một nghi án trong văn chương, Tạp chí Sông Châu (Hà Nam) số Xuân Kỷ Sửu, tr.15./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 33 - 39)