Những biến động chính trị của triều đình Nguyễn ở Kinh đô Huế từ năm 1883 - dưới góc nhìn lịch sử và ấn chương hành chính .(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(98) 2010; Tr. 53 - 59)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(98) 2010; Tr. 53 - 59)
NHỮNG BIẾN ĐỘNG CHÍNH TRỊ CỦA TRIỀU ĐÌNH NGUYỄN Ở KINH ĐÔ HUẾ TỪ NĂM 1883 - DƯỚI GÓC NHÌN LỊCH SỬ VÀ ẤN CHƯƠNG HÀNH CHÍNH
NGUYỄN CÔNG VIỆT
TS. Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Ngày 19 tháng 7 năm 1883 (tức ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi) sau 36 năm trị vì, vua Tự Đức đã qua đời ở Huế và cũng từ đây lịch sử phải ghi nhận sự phế truất đổi thay quân vương của các phụ chính đại thần phe phái mà đứng đầu là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết. Chỉ hơn 4 tháng trời hai vị vua kế vị là Kiến Phúc và Hiệp Hòa đã bị ám hại đi liền với sự đối trọng căng thẳng giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa trong triều đình Huế. Sự rối loạn nguyên thủ với hàng ngũ lãnh đạo cấp cao cùng những thắng lợi liên tiếp của quân xâm lược đã buộc triều đình Nguyễn cúi đầu cùng người Pháp kí Hiệp ước Hòa bình tại kinh đô Huế ngày 25 tháng 8 năm 1883.
Việc kí Hiệp ước, đại diện triều đình Nguyễn là Hiệp biện Đại học sĩ Trần Đình Túc, Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hiệp. Đại diện chính phủ Pháp là Harmrand; do đó Hiệp ước Hòa Bình còn được gọi là hiệp ước Harmrand hay Hiệp ước Quý Mùi (1883). Hiệp ước gồm 27 điều khoản mà nội dung chính là triều đình Nguyễn phải thừa nhận và chấp nhận chế độ thuộc địa của Pháp ở Nam kì, chế độ bảo hộ của Pháp ở Bắc kì và Trung kì.
Ngay trong ngày kí Hiệp định, thực dân Pháp buộc triều đình Nguyễn phải thống nhất thực thi việc phân chia 3 khu vực hành chính mà mở đầu là việc sáp nhập tỉnh Bình Thuận vào Nam kì. Khu vực Nam kì tính từ phía bắc Bình Thuận trở vào Nam gọi là Cochinchine. Từ địa phận phía bắc Bình Thuận ngược ra tới Đèo Ngang là khu vực Trung kì gọi là An Nam. Từ Đèo Ngang trở ra hết miền Bắc là khu vực Bắc kì gọi là Tonkin. Nam kì hoàn toàn theo chế độ thuộc địa Pháp. Bắc kì và Trung kì hợp thành vương quốc An Nam vẫn duy trì nhà nước quân chủ do nhà vua An Nam đứng đầu, song phải chịu dưới chế độ bảo hộ của chính quyền Pháp.
Huế vẫn được đặt làm Kinh đô của chính phủ Nam triều, đồng thời người Pháp đặt chức Trú sứ quản lí khu vực Trung kì mà vua tôi Nam triều trước những việc quốc gia đại sự không được toàn quyền thực hiện như trước nữa. Tuy nhiên hệ thống hành chính trung ương và địa phương của Nam triều ở Trung kì vẫn hoạt động ngoài một số quy định như việc mở cửa khẩu Đà Nẵng, Xuân Đài thông thương buôn bán và dành những khu nhượng địa cho Pháp… Trước và sau Hiệp ước Harmand quân Pháp vẫn liên tiếp đánh chiếm các tỉnh, phủ ở miền Bắc. Dưới sự chỉ huy của những văn quan võ tướng yêu nước như Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản, Đề đốc Nam Định Tạ Hiện, Thự Tuần phủ Hưng Hóa Nguyễn Quang Bích… quân dân ta đã chiến đấu kiên cường không chịu khuất phục. Triều đình Huế đã triệu tập Nguyễn Quang Bích về Kinh, song ông đã không về và đem nộp trả ấn tín. Hiện nay vẫn còn dấu tích ấn Quan phòng này in trên bản tấu năm 1880.
Ngày 6 tháng 6 năm 1884 (tức ngày 13 tháng 5 năm Giáp Thân), triều đình Huế và Pháp lại kí Hiệp ước mới gọi là Hiệp ước Patenôtre hay Hiệp ước Giáp Thân gồm 19 điều khoản với nội dung là nước An Nam thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp, mọi quan hệ đối ngoại của An Nam do nước Pháp điều trách. Đồng thời là việc quy định lại địa phận 3 miền Trung - Nam - Bắc. Từ phía nam Bình Thuận trở vào gọi là Nam kì; từ nam Bình Thuận trở ra đến phía Nam tỉnh Ninh Bình gọi là Trung kì; từ nam Ninh Bình trở ra tới biên giới Việt - Trung gọi là Bắc kì. Nam kì vẫn là thuộc địa của Pháp, Bắc kì và Trung kì vẫn được gọi là vương quốc An Nam dưới sự bảo hộ của Pháp. Ở Trung kì chức Trú sứ Pháp đã được thay bằng chức Tổng Trú sứ với quyền hạn như cũ song thêm quyền chỉ đạo hoạt động của các Công sứ Pháp các tỉnh ở Bắc kì. Ngay sau ngày kí Hiệp ước, chính phủ Nam triều đã phải mang ấn bạc mà vua Thanh trước đây ban phong cho vua nước ta đến Tổng trú sứ pháp ở Huế để hủy phá đúc thành bạc khối để cắt đứt quan hệ lệ thuộc với Mãn Thanh - Trung Quốc.
Tháng 7 năm 1884, Nam triều đã kiện toàn bộ máy quan lại hành chính ở Kinh đô, giảm biên những người yếu kém năng lực và dư thừa, tăng phụ cấp cho người có tài đức giỏi chuyên môn song chỉ đối với quan chức mà không áp dụng đối với thư lại và vị nhập lưu thư lại.
Ngày 2 tháng 8 năm 1884, triều đình Huế phế truất Kiến Phúc đưa Ưng Lịch lên ngôi đổi niên hiệu là Hàm Nghi. Từ đây nội bộ Nam triều càng thêm căng thẳng giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa. Đến ngày 5 tháng 7 năm 1885 Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn chỉ huy phấn nghĩa quân tấn công Pháp ở Huế. Chiến sự ác liệt song quân Pháp đã thắng thế công phá Kinh thành. Kinh đô thất thủ, Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi cùng tam cung bôn tẩu rút về sơn phòng Quảng Trị, sau đó phát động phong trào Cần vương chống Pháp. Khi rút khỏi kinh thành, Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chỉ kịp mang theo một số Kim Ngọc Bảo Tỉ như Ngự tiền chi bảo, Văn lí mật sát… cùng quan phòng ấn tín và những báu vật khác. Họ không kịp mang đi những bảo vật truyền quốc và thanh bảo kiếm Thái a truyền từ đời Gia Long.
Theo tài liệu tiếng Pháp thì trong thời gian trước ngày 5 tháng 7 năm 1885 phía chính quyền Pháp cũng có quan điểm bất đồng đối với vấn đề Việt Nam. Một phái gồm những tướng lĩnh cao cấp cùng các giáo sĩ đã lăn lộn ở Đông Dương, họ muốn xóa bỏ hoàn toàn chế độ quân chủ phong kiến An Nam, thiết lập một chính quyền mới trên toàn lãnh thổ, biến nước ta trở thành thuộc địa 100% như Nam kì. Họ chủ trương dùng sức mạnh quân sự, trong số đó có Thống tướng De Courcy Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc kì và Trung kì.
Phái thứ hai gồm những quan chức dân sự nhiều người đã ở Đông Dương mà tiêu biểu là Lemaire Tổng Trú sứ Pháp tại Huế. Họ chủ trương giữ lại thể chế quân chủ An Nam, chủ yếu là các đặc quyền của vua và sự quản lí hành chính của một triều đình chịu mất quyền hành dưới sự giám hộ của nước Pháp. Chủ trương này sẽ làm đỡ phí tổn của ngân khố quốc gia Pháp chưa được hồi phục sau chiến tranh 1870 và cuộc chinh phục Mexico. Phái này đã được đa số quan chức chính phủ ở Paris ủng hộ. Song lúc này nước Pháp vẫn cần đến những tướng lĩnh tài ba và cần xoa dịu đối trọng nội bộ, nên chính phủ Pháp đã để Lemaire từ chức thay vào Palasne Cham peaux người cùng cấp với Thống tướng De Courcy.
Ngày Kinh đô Huế thất thủ quân Pháp thả sức cướp phá và lấy đi nhiều báu vật trong đó có Bảo Tỉ truyền quốc và Thái a kiếm của vua Gia Long truyền lại. Theo tư liệu sách An Nam - Tonkin của Charles Fourniau thì chính Courcy đã không ngần ngại lấy cây kiếm của vua An Nam và gửi tặng cho Bộ trưởng Bộ Chiến tranh tướng Campernon, khi mang chiến lợi phẩm về thủ đô nước Pháp.
Tại sơn phòng Quảng Trị vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết hạ chiếu Cần vương và tổ chức lực lượng chống Pháp (bản chiếu Cần vương này hiện vẫn còn được lưu trữ trong bộ sưu tập hiện vật của Bảo tàng tư gia ông Thierry d’Argenlien ở Pháp. Ông này nguyên là Cao ủy viên Pháp đến Đông Dương giai đoạn 1945). Hưởng ứng phong trào Cần vương, quan, tướng, sĩ phu khắp mọi nơi đã tập hợp quân dân chống Pháp mà tập trung chủ yếu ở khu vực Trung bộ. Tiêu biểu như Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Trần Xuân Soạn, Nguyễn Phạm Tuân v.v...
Tại Huế ngày 19 tháng 9 năm 1885 thực dân Pháp đưa Ưng Đường lên ngôi, song niên hiệu Đồng Khánh nguyên niên mãi đến tháng Giêng năm Bính Tuất (4- 2-1886) mới được dùng. Đồng Khánh chú trọng ngay đến việc làm Bảo Tỷ để thay thế cho số bị Tôn Thất Thuyết mang đi cùng những ấn tín khác bị thất lạc bởi chiến sự tao loạn.
Về hai Bảo ấn nhỏ song quan trọng dùng trong cơ quan văn phòng Hoàng đế. Bảo ấn Ngự tiền chi bảo trước kia được đúc bằng vàng hình bầu dục, Đồng Khánh cho rằng nếu đúc theo khuôn cũ sẽ nhầm với Bảo ấn cũ mà Hàm Nghi giữ, nên mới sai làm hai Bảo ấn mới thay thế. Bảo Ngự tiền chi bảo làm theo hình bát giác, Bảo Văn lí mật sát làm hình vuông song kích cỡ tự dạng khác biệt hẳn. Vì không đủ điều kiện nên Đồng Khánh cho làm tạm bằng ngà voi. Đến tháng 3 năm 1886 Đồng Khánh lệnh cho đúc lại hai Bảo ấn này bằng chất liệu vàng, núm khắc hình rồng. Tháng 11 năm 1885 Đồng Khánh cho đổi chức Cai tổng thành Chánh tổng để kiêng tôn húy cha đẻ là Kiên Thái vương (Hồng Cai). Chúng ta sẽ thấy thay đổi này trong triện của cấp tổng giai đoạn này.
Tháng 12 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) Chính phủ Pháp tặng Đồng Khánh và triều đình Huế một ấn vàng pha đồng khắc 4 chữ triện Triều đình lập tín. Hai nước quy định những văn kiện có tính chất báo cáo, thông báo với nước Pháp thì nhà Nguyễn đóng ấn này làm tin(1).
Quân Pháp cùng lính Nam triều truy sát Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết. Ngày 8 tháng 4 năm 1887 họ đã tập kích thắng lợi căn cứ của Nguyễn Phạm Tuân cùng con trai Tôn Thất Thuyết và thu được cả Ấn tín của vua Hàm Nghi ở nơi này, song sử liệu đã không ghi rõ đây là ấn tín gì. Phong trào Cần vương kháng chiến chống Pháp ngày một mạnh rải rác khắp Bắc kì và Trung kì. Tháng 2 năm 1887 để ngăn ngừa phong trào và cũng để thuận lợi cho việc cai trị, phòng thủ Tổng Trú sứ Pháp đã cho gộp tổ chức hành chính tỉnh Hưng Yên vào Hà Nội nằm dưới sự quản lí của Công sứ Hà Nội. Tổ chức hành chính tỉnh Ninh Bình được nhập vào tỉnh Nam Định, dưới sự quản lí của Công sứ Nam Định. Đây được gọi là cơ cấu liên tỉnh do một viên Tổng đốc đứng đầu. Hà Nội - Hưng Yên gọi là Hà - An Tổng đốc, Nam Định - Ninh Bình gọi là Định - Ninh Tổng đốc (cách gọi này có khác với liên tỉnh trước)(2).
Tháng 8/1887 Pháp trả cho Nam triều 2 tỉnh Bình Thuận và Khánh Hòa. Chính phủ Nam triều cử Khâm sai Tả Trực kì Phan Liên (quản Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa) giữ chức Tổng đốc liên tỉnh Bình Khánh. Cử Nguyễn Thân (nguyên Tham tri Bộ Binh sang sơn phòng sứ Quảng Ngãi - Bình Định) thay làm Khâm sai Tả trực kì. Việc này đã được Đồng Khánh và khâm sứ Trung kì mật bàn trước đó.
Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp kí sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) gồm Việt Nam và Cao Miên. Trong đó Việt Nam phân làm 3 xứ: Nam kì (thuộc địa), Trung kì và Bắc kì (bảo hộ). Cao Miên cũng được coi là xứ bảo hộ do Viên Tổng trú sứ cai trị. Đến tháng 4/ 1899 nước Lào được sát nhập vào Liên bang Đông Dương đặt dưới chế độ bảo hộ của Tổng Trú sứ Pháp. Đứng đầu Liên bang Đông Dương là Toàn quyền Đông Dương. Liên Bang Đông Dương trực thuộc vào Bộ Hải quân và thuộc địa Pháp. Đến tháng 3 năm 1894 Pháp thành lập Bộ Thuộc địa thì Liên bang Đông Dương trực thuộc Bộ Thuộc địa. Toàn quyền Đông Dương do Tổng thống Pháp bổ nhiệm thông qua Hội đồng Bộ trưởng. Toàn quyền Đông Dương thay mặt chính phủ Pháp cai trị Đông Dương, mọi lĩnh vực Chính trị, quân sự, ngoại giao, dân sự… với quyền Tam pháp rõ ràng.
Tháng 9, 1889 Tổng thống Pháp ra sắc lệnh bãi bỏ Tổng trú sứ Trung - Bắc kì. Đặt Thống sứ Bắc kì và Khâm sứ Trung kì đều là Ủy viên Hội đồng tối cao Đông Dương dưới quyền Toàn quyền Đông Dương. Khâm sứ Trung kì có quyền hạn lập pháp, hành pháp tư pháp và trực tiếp ban cấp phẩm hàm cho những người làm ở nha sở Pháp ở Trung kì. Khâm sứ chịu trách nhiệm trước Toàn quyền Đông Dương về các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội, giáo dục... ở khu vực Trung kì. Điều đặc biệt là Khâm sứ có quyền duyệt chiếu các đạo dụ của vua Nguyễn trước khi cho ban hành.
Dưới mỗi tỉnh ở Trung kì ngay từ Quyết định ngày 30 tháng 7 năm 1885 người Pháp đã đặt chức Công sứ đầu tỉnh quản mặt thương chính và công chính. Đến năm 1886 Công sứ còn được thi hành chức năng Lãnh sự ở tỉnh, rồi dần dần vai trò quyền hạn của Công sứ ngày một lớn quản lí mọi lĩnh vực trong một tỉnh và chịu trách nhiệm trước Khâm sứ Trung kì.
Triều đình nhà Nguyễn bắt đầu từ niên hiệu Đồng Khánh đã có sự thay đổi rất nhiều trong hệ thống chính trị - hành chính từ trung ương xuống địa phương. Hội đồng phụ chính được thành lập gồm 4 viên quan đại thần hàm chánh nhất phẩm tước hiệu Đại học sĩ với chức năng Phụ chính đại thần tư vấn cho vua, nhất là các vua con nhỏ tuổi. Nhưng những việc quốc gia đại sự họ vẫn phải thực hiện theo định hướng của Toàn quyền Đông Dương và Khâm sứ Trung kì. Đến tháng 9-1897 Hội đồng Phụ chính bị bãi bỏ và những đại thần phụ chính chuyển thành cố vấn đặc biệt của vua Nam triều.
Viện Cơ mật vẫn được duy trì đặt dưới sự chỉ đạo của vua, kề cận và giúp vua những việc trọng đại. Vai trò của Viện Cơ mật giai đoạn này về hình thức lớn hơn triều Minh Mệnh, song nó cũng chịu sự chi phối và quyết định của Khâm sứ Trung kì.
Vào giai đoạn đầu đời Đồng Khánh chính phủ Nam triều vẫn thiết lập hệ thống Lục Bộ như cũ gồm Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công. Cơ cấu tổ chức, Trưởng quan và các bộ cũng như chức năng nhiệm vụ về cơ bản vẫn không có gì thay đổi nhưng số thuộc Ti và lại thuộc phải giảm thiểu đi nhiều. Theo thế cuộc chung vai trò của hệ thống Lục Bộ không còn được lớn như trước nữa, mặc dù họ đã hình thành Hội đồng Thượng thư gồm 6 Thượng thư đứng đầu mỗi Bộ. Mãi sau này thực dân Pháp đưa Bảo Đại trở về Việt Nam ngự trị ngai vàng thực hiện chính sách canh tân cải cách hệ thống chính quyền Trung ương, thay đổi hàng ngũ đại thần quan lại. Đến đây Bộ Binh bị bãi bỏ và thay vào là Bộ Học với cơ cấu như các bộ khác để duy trì hệ thống Lục Bộ.
Ở hệ thống giám sát, Viện Đô sát sứ vẫn tồn tại nhưng với chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bị thu hẹp lại trong phạm vi khu vực Trung kì. Cho đến năm 1897 Viện Đô sát hoàn toàn thuộc quyền quản lí chỉ đạo của Khâm sứ Pháp. Tôn nhân phủ - cơ quan quản lí Hoàng tộc qua bao đời vua Nguyễn với những đặc quyền đặc lợi riêng, song đến thời kì này do vua An Nam trực tiếp nắm giữ và đến năm 1897 đặt dưới sự chủ tọa quyết định của Khâm sứ Trung kì.
Bằng các điều khoản trong Hiệp ước Patenôtre và bằng sức mạnh quân sự, chủ trương giữ lại thể chế quân chủ An Nam dưới sự giám hộ của nước Pháp mà đại biểu là cựu Tổng Trú sứ Lemaire đề xướng trước đây đã thành công rực rỡ. Chính thể Nam triều tồn tại dần như những cái bóng lấp sau tòa Khâm sứ Trung kì và Toàn quyền Đông Dương. Bên cạnh phủ Khâm sứ Trung kì trong vài thập niên từ cuối thế kỉ XIX đến hết thế kỉ XX, Toàn quyền Đông Dương đã ra các nghị định thành lập các tổ chức cấp khu vực Trung kì nhằm kết hợp với tòa Khâm sứ thực thi chế độ bảo hộ. Tháng 5 năm 1897 phòng Tư vấn liên hợp Thương mại - Canh nông Trung kì được thiết lập. Ngày 8 tháng 6 năm 1900 thành lập Hội đồng Bảo hộ Trung kì mà chức Chủ tịch do Khâm sai đảm trách với chức năng thông qua dự thảo nghị định của Khâm sứ Trung kì. Cơ cấu ủy viên Hội đồng gồm quan chức và tướng lĩnh người Pháp cộng với các Thượng thư của Nam triều, trong đó có Thượng thư Bộ Hình Bộ Lại và Bộ Hộ là chính thức còn Thượng thư Bộ Lễ, Bộ Binh và Bộ Công chỉ là ủy viên dự khuyết.
Ngày 18 tháng 9 năm 1923 Hội đồng học chính Trung kì ra đời với nhiệm vụ giúp chính quyền trong việc lập quy chế, chính sách, quản lí trong lĩnh vực giáo dục ở Trung kì. Ngày 24 tháng 2 năm 1926 Viện Dân biểu Trung kì được thành lập mà tiền thân từ phòng Tư vấn Trung kì có từ năm 1920, các ủy viên là đại diện của các tầng lớp dân chúng. Viện Dân biểu có nhiệm vụ đóng góp ý kiến về các vấn đề kinh tế tài chính, xã hội cho chính phủ Nam triều. Hơn 2 năm sau tháng 11 năm 1928 Hội đồng lợi ích kinh tế và tài chính của người Pháp ở Trung kì ra đời. Đến tháng 12 năm 1937 Ủy ban khai thác thuộc địa Trung kì được thiết lập, đây là tổ chức nhánh ở cấp ‘kì” của Hội đồng khai thác thuộc địa tối cao Đông Dương.
Ngoài những tổ chức trên sau khi thành lập Liên bang Đông Dương tại Trung phần người Pháp còn thành lập các Sở như Tư pháp, Cảnh sát, Công chính, Thương chính, Học chính, Bưu chính và Điện tín, Nông chính, Lâm chính, Thú y...
Ở các cấp chính quyền địa phương Nam triều vẫn duy trì các cấp đơn vị hành chính là tỉnh, phủ, huyện (châu) và dưới là tổng, xã. Từ năm 1919 về sau thì phủ, huyện, đạo, châu được xếp chung vào một cấp tương đương nhau mặc dù mỗi loại đã được phân theo hạng riêng. Chức vụ quản hạt ở mỗi cấp tương đương cũng vẫn được thực hiện theo mô hình cũ với chức Tổng đốc, Tuần phủ ở liên tỉnh và tỉnh lớn. Chức Bố chánh sứ và Án sát sứ quản ty Phiên ty và ty Niết. Song ở thời kì này việc kiêm nhiệm chức vụ ở mỗi địa phương khá nhiều bởi sự thiếu hụt quan lại nhất là những người có năng lực. Ở một số trường hợp, Bố chánh sứ là chức quyền quyết cao nhất trong một tỉnh khi địa phương thiếu khuyết chức Tuần phủ; tuy nhiên họ phải hội đồng với Án sát sứ ở những việc lớn cấp tỉnh. Cho đến khoảng thập niên thứ ba thế kỉ XX dưới sự can thiệp của Ngưới Pháp thì chức Bố chánh sứ không còn tồn tại nữa, quan chức cấp tỉnh chỉ thấy ghi Tổng đốc, Tuần phủ và dưới là Án sát. Điều này chúng ta sẽ tìm thấy trong các nghị định, thượng dụ tiếng Pháp của Toàn quyền Đông Dương.
Về ấn tín của quan chức cấp tỉnh cơ bản vẫn duy trì theo hình thức cũ. Tổng đốc, Tuần phủ vẫn sử dụng Quan phòng chức vụ và kiềm nhỏ liền cặp. Bố chính sứ và Án sát sứ vẫn dùng ấn kiềm cơ quan trong công vụ. Về hình thức chất liệu Quan phòng và ấn quan vẫn được làm bằng đồng, nội dung văn khắc ở mỗi con dấu vẫn không thay đổi. Tuy nhiên về mặt hình thức ấn, bố cục sắp xếp, khuôn chữ, nét chữ có những nét khác biệt ở một số ấn tín. Từ đời Đồng Khánh trở đi ấn được làm có hình thức kém hơn trước về độ vuông vức phẳng nhẵn, đều đặn ở cả mặt núm và nét khắc gờ cạnh cùng nét chứ. Ấn dấu từ đời Tự Đức trở về trước khuôn chữ dài, nét uốn lượn đẹp mắt. Cỡ chữ, nét chữ bằng nhau, bố cục cân đối hài hòa, trên mặt núm ấn ghi dòng niên hiệu ngày tháng và nhiều ấn ghi rõ trọng lượng. Còn ấn đời Đồng Khánh về sau, bố cục chữ khác hẳn, nét chữ thô ngắn và xấu, cỡ chữ không đều, tổng thể trông không cân đối hài hòa. Còn niên đại chỉ ghi đơn giản ở mép gờ cạnh với 2 chữ tên niên hiệu vua mà không ghi ngày tháng. Ở một số ấn, bố cục văn khắc sắp xếp cũng khác hẳn ấn cùng loại hình của thời kì trước. Ví dụ ấn dấu Bình Thuận Án sát sứ ty chi ấn mà chúng tôi mới sưu tầm trong những năm gần đây ở Nam Bộ. Ấn có chất liệu bằng đồng, mặt dấu hình vuông kích thước 8 x 8cm. Dòng niên hiệu chỉ ghi 2 chữ Đồng Khánh khắc ở chỗ mép cạnh phần độ dày của ấn. Văn khắc nội dung dấu với 8 chữ Triện phân làm 3 hàng dọc, 6 chữ 2 hàng bên và 2 chữ xếp hàng giữa. Ở những dấu cấp Án sát sứ trước đây, bố cục văn khắc được phân làm 4 hàng dọc, mỗi hàng hai chữ cân đối hài hòa hơn.
Ấn tín cấp phủ, huyện, đạo, châu nếu nơi nào có những thay đổi phải cấp ấn tín mới thì cũng có một vài sự khác biệt về mặt hình thức, còn nội dung văn khắc trong dấu vẫn duy trì như cũ. Mặt dấu thường khắc 4 chữ chia 2 dòng, 2 chữ là tên địa danh hai chữ còn lại là phủ ấn, huyện (hay đạo, châu) ấn.
Về chức Công sứ đầu tỉnh thuộc Tòa Khâm sứ trong hệ thống chính quyền bảo hộ. Cơ cấu tổ chức Tòa Công sứ gồm một văn phòng phụ trách chung; một khối phòng, ban phụ trách các việc có liên quan đến người Âu; một khối phòng ban có liên quan đến người Việt ở Trung kì. Tòa công sứ vừa là cơ quan tổng hợp chỉ đạo mọi hoạt động vừa là cơ quan hành pháp và tư pháp của tỉnh. Trên thực tế công việc phải liên quan với quan lại, chức dịch tổng lý người Việt rất nhiều, do đó Công sứ được sử dụng hai loại ấn tín khác nhau, một loại ấn tròn chữ Pháp và một loại Quan phòng chức vụ khắc chữ Triện. Xem xét một số văn bản chữ Hán có xen chữ Pháp thuộc niên hiệu từ đời Đồng Khánh trở đi, chúng tôi thấy trên văn bản có đóng 3 dạng hình dấu khác nhau thuộc hai loại ấn tín như đã nói ở trên. Dấu Quan phòng lớn hình chữ nhật đứng đóng ở dòng ghi niên đại. Dấu để rìa cạnh đường viền, văn khắc là 8 chữ Triện chia 2 hàng theo mô hình: Tên địa phương + 6 chữ Công sứ đại thần Quan phòng公使大臣關防. Các dấu kiềm hình vuông khắc 4 chữ Triện: Tên địa phương + 2 chữ Công sứ 公使được đóng ở những chỗ tên riêng, tên chức vụ trên văn bản. Ví dụ dấu của Công sứ Quảng Nam là “Quảng Nam Công sứ đại thần quan phòng”, dấu kiềm là “Quảng Nam công sứ”. Hai dấu tròn chữ Pháp được đóng ở giữa văn bản và dưới chỗ ghi ngày tháng kí tên bằng tiếng Pháp.
Nhìn chung Quan phòng kiềm dấu ở đây được khắc đẹp, khuôn chữ nét chữ đều đặn tinh tế, bố cục cân đối hài hòa, thêm 1 đường viền vuông vức ở rìa cạnh; Nó khác hẳn ấn dấu của Quan phòng cấp tỉnh thuộc chính quyền Nam triều. Phải chăng ấn tín của quan chức người Pháp được coi trọng hơn nhiều ấn tín của quan chức An Nam? Hay người Pháp ý thức được hơn trong việc sử dụng ấn tín in trên văn bản hành chính? Vấn đề này cùng nhiều vấn đề khác trong ấn chương hành chính, chúng tôi hy vọng sẽ được trình bày tiếp vào những bài viết sau này.