VI | EN
Phạm Đình Trọng và bài Tượng đầu đoán tụng ký (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(88) 2008; Tr.50-59)
Số 3(88) 2008

PHẠM ĐÌNH TRỌNG VÀ BÀI TƯỢNG ĐẦU ĐOÁN TỤNG KÝ

PGS.TS. NGUYỄN MINH TƯỜNG

Viện Sử học

Phạm Đình Trọng (1714-1754), người xã Khinh Dao huyện Giáp Sơn trấn Hải Dương (nay là thôn Khinh Dao, xã An Dương, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng). Ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi (1739), niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 đời vua Lê Ý Tông. Đầu đời Cảnh Hưng (1740-1786), ông giữ chức Phó Đô Ngự sử, vào phủ chúa Trịnh làm Bồi tụng, tước Dao Linh hầu. Sau đó, được bổ giữ chức Hiệp trấn 3 đạo Đông, Nam, Bắc. Năm 1750, vì có công đánh dẹp cuộc nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) ông được thăng chức Thượng thư Bộ Binh, hàm Thái tử Thiếu bảo(1), tước Hải Quận công.

Phạm Đình Trọng là người tài cao, chí lớn, được đương thời và hậu thế hết sức nể trọng. Sử gia Phan Huy Chú ở phần Nhân vật chí, sách Lịch triều hiến chương loại chí, khi lựa chọn 39 "Người phò tá có công lao tài đức" dưới thời Lê Trung hưng (1533-1789) đã ghi tên Phạm Đình Trọng tề danh với các bậc tài năng kiệt xuất như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Duy Thì, Đặng Đình Tướng, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Thái, Nguyễn Nghiễm... Phan Huy Chú phẩm bình về con người Phạm Đình Trọng bằng những lời khen ngợi như sau: "Ông sinh ra đã có vẻ khôi ngô. Năm lên 8 tuổi học vỡ lòng, đã hiểu được luật thơ. Khi lớn, văn chương hùng hồn... Ông tài kiêm văn võ, làm bậc nguyên thần của nước, là danh tướng làng nho, công lao sự nghiệp kỳ vĩ, gần đây chưa thấy có"(2).

Năm 1750, khi Phạm Đình Trọng mới 36 tuổi, được thăng Thượng thư Bộ Binh (tức tương đương với chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay), trong lời Chế phong, vua Lê Hiển Tông đã biểu dương ông như sau: "... Xét Phạm Đình Trọng: tài năng dùng làm cột trụ, làm đá tảng cho nhà nước, khí độ cao như núi cao. Trời phú cho văn chương, tuổi trẻ nổi tiếng khoa giáp. Tỏ khí nghiệp từ lúc làm quan nhỏ, sẵn có mong ước công hầu..."(3).

Năm 1912, khi soạn bộ Nam Hải dị nhân liệt truyện (Truyện những người kỳ
lạ ở đất Nam Hải), Phan Kế Bính lựa chọn tất cả 50 nhân vật, sắp xếp theo trật tự 8 bậc:

I. Các bậc đại anh kiệt: 5 người

II. Các bậc danh thần: 6 người

III. Các bậc danh hiền: 4 người

IV. Các bậc văn tài: 8 người

V. Các bậc mãnh tướng: 9 người

VI. Các vị thần linh ứng: 8 người

VII. Các vị tiên tích: 6 người

VIII. Các người có danh tiếng: 4 người.

Phạm Đình Trọng được ông xếp vào hàng các bậc danh thần, tức bậc thứ II, chỉ sau các bậc Đại anh kiệt (trong số các bậc danh thần, có: 1. Lý Thường Kiệt; 2. Trần Hưng Đạo; 3. Nguyễn Trãi; 4. Trịnh Kiểm; 5. Lương Hữu Khánh; 6. Phạm Đình Trọng)(4). Ngày nay, chúng ta có thể không hoàn toàn tán đồng với cách đánh giá và sắp xếp của họ Phan về nhân vật Phạm Đình Trọng trong bảng giá trị các danh nhân lịch sử phong kiến ở nước ta, nhưng dù sao chăng nữa cũng phải thừa nhận Phạm Đình Trọng thuộc loại tài năng kiệt xuất hiếm có vào nửa đầu thế kỷ XVIII. Chẳng thế mà vào năm Giáp Tuất (1754), khi nghe tin Phạm Đình Trọng chết ở quân doanh trấn Nghệ An, vua Lê Hiển Tông vô cùng thương xót, sai quân thủy bộ hộ tống linh cữu về làng Khinh Dao an táng, đồng thời sai quan Thượng thư là Trần Cảnh đến tận nơi dự tế. Chúa Trịnh Doanh cũng sai Thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Công Thái đến tế và tặng 16 chữ: "Phủ dân, Tiễu khấu, Cố bản, An biên, Ái quốc, Trung quân, Hoàn danh, Cao tiết" (có nghĩa là: yên dân, diệt giặc, vững gốc, an biên, yêu nước, trung quân, danh thơm, cao tiết). Ngoài ra, chúa Trịnh Doanh lại đặc biệt ban cho một đôi câu đối để thờ, như sau:

Phiên âm:

Cái thế anh hùng kim cổ thiểu.

Tại nhân công đức địa thiên trường.

Dịch nghĩa:

Anh hùng cái thế xưa nay hiếm.

Công đức với dân trời đất dài.

Một người từng được sử gia Phan Huy Chú ca ngợi là "tài kiêm văn võ", và "văn chương hùng hồn" như Phạm Đình Trọng thì chắc rằng họ Phạm trước thư lập ngôn không thể nói là không nhiều. Tiếc rằng, cho đến nay, chúng ta chưa sưu tầm được là bao trong số di cảo thi văn của ông. Vào năm 1759, Lê Quý Đôn (1726-1783) khi biên soạn phần Nghệ văn chí(5) sách Đại Việt thông sử và năm 1819, Phan Huy Chú (1782-1840) biên soạn xong phần Văn tịch chí sách Lịch triều hiến chương loại chí, không thấy hai ông kể tên một tác phẩm nào của Phạm Đình Trọng.

Năm 1962, trong Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập I: Tác gia các sách Hán Nôm - Trần Văn Giáp (chủ biên), cho biết tác phẩm của Phạm Đình Trọng có: "- Hai bài thơ (văn), in trong Hoàng Việt thi tuyển (Q.5, tờ 23); - Tượng đầu đoán tụng ký (văn), chép trong Hoàng Việt văn tuyển (Q.2, tờ 19)"(6).

Trước khi đi sâu phân tích bài Tượng đầu đoán tụng ký, chúng tôi muốn giới thiệu bài thơ dưới đây của Phạm Đình Trọng, qua đó, để bạn đọc có được đôi chút nhận thức về thơ của họ Phạm. Chúng tôi đã tìm đọc bộ Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích (1744-1802) tại Thư viện Viện Sử học, nhưng không rõ vì sao trong đó chỉ còn có 1 bài thơ Thất ngôn bát cú - Đường luật của Phạm Đình Trọng, đó là bài: Tiễn nhập thị Tham tụng Kiều Quận công Nguyễn Công Thái trí sĩ.

Nguyên văn chữ Hán như sau:

Phiên âm:

Khuê chương dự bá Đẩu Nam thiên.

Nhất ngộ duyên hài ngư thủy duyên.

Phủng xuất(7) trùng luân thăng hải thượng

Quang khai nhập tọa ánh(8) vân biên.

A hành phục chính hoàng cư sủng

Hương xã quy nhàn lạc độ niên

Xuất xử, hành tàng quan thế vận

Cao kình quốc trụ vọng huân hiền.

Tạm dịch:

Văn chương tài đức của ông xếp vào bậc sao Bắc Đẩu của trời Nam.

Ông gặp được đấng minh quân, tựa như cá gặp được nước.

Chí lớn bưng mặt trời mọc lên từ biển cả.

Rạng rỡ bước vào tòa (cơ quan Tể tướng), sáng rực bên mây

Trả lại chức Tể tướng(9) cho triều đình, nhàn nhã hưởng ân sủng thong thả về nghỉ ngơi.

Hương xã(10) về hưu nhàn vui vẻ qua tháng năm

Việc xuất xử, hành tàng của ông đều có ảnh hưởng đến vận mệnh của thời cuộc.

Ông là cột trụ của quốc gia, được mọi người ngưỡng vọng tài năng và công lao lớn.

Bài Tượng đầu đoán tụng ký của Phạm Đình Trọng là bài tản văn duy nhất của ông được tuyển trong bộ Hoàng Việt văn tuyển(11) của Bùi Huy Bích vào cuối thế kỷ XVIII.

I. Nguyên văn chữ Hán

𢄂

使

收布

:

.

沿西

.

簿西西西.

退.

.

.

祿.

1. Phiên âm:

Tượng đầu đoán tụng ký

Tân Mùi niên, dư phụng mệnh phó trấn, thường ư cận dân đình, vấn dân tật khổ. Nhất nhật kiến nhất lão trượng, niên bát thập dư, khẩu trước thảo, thủ kình đơn, yển lâu đình đổ chi hạ. Vấn chi; ngôn: lão đích Bố Chánh châu, An Sơn xã nhân dân. Khống đơn nguyên bị bàng cận Tiên Lăng xã cưỡng tranh điền giới sự; nhân thả khấp thả tố, từ tình bi thiết, văn giả cảm khái. Dư diệc bất năng vi tình, tức sai Trương Tam, Lý Nhị câu bị minh xã tựu tra, đãi bỉ trần do, tắc hựu viện dẫn chứng cứ: mỗ khê vi Con Chợ, mỗ đính vi Động Am, mỗ xứ vi Chú Trầm; mỗ điền vi Quai Vạc.

Thả vân: tiền thử cựu nhậm châu quan tằng kinh phân giải, tung hoành tứ thạch, di tích uyển nhiên. Ký nhi câu tập vu đình, thính kỳ từ tắc Ngu Nhuế tương tranh, thị phi mạc biện. Kế hựu sai nhân đạp khám, án kỳ đồ tắc sơn khê khúc kính, miêu tả nan chân, dư diệc tâm nghi, thu dĩ tồ đông vị quyết.

Nhâm Thân xuân, dư thị sư Nam thùy, liệu lý biên sự, ngẫu kinh kỳ địa, ký kỳ sự, tức hoán tượng nô sử tượng trắc bỉ cao cương(12), tả cố phù kênh nham nhan sực sực, hữu chiêm thủy vực uất uất thương thương.

Nam miến tranh chi thủy, thủy lam thanh;

Đông vọng sa chi sơn, sơn tuyết bạch.

Ngưng mâu tứ cố, tận thâu Bố Chánh giang sơn.

Tức cảnh sinh tình, lãng ngâm thi viết:

"Hoành Sơn thiên nhất ác

Nam Hải thủy thiên trùng..."

Ngâm tất, nhân phủ sát Tiên Lăng, An Sơn nhị xã hình, thân thân kiến chi, khoát nhiên như hữu sở đắc.

Thời lưỡng tạo sổ thập nhân, cụ bái tượng đầu chi tả, dư nhất nhất chỉ vấn: thử phi Động Am tự chi sơn hồ? Thử phi Con Chợ khê chi thủy hồ? Thử hựu phi nhĩ đẳng sở tranh chi xứ giả hồ? Chúng viết: dụy, độc Tiên Lăng xã sổ điêu tranh biện bất dĩ, chuân chuân nhiên dĩ tự dữ thạch vi ngôn.

Dư hiểu chi, viết: nhĩ khả vị tệ dân hỹ. Tự khả phế dã, sơn kỳ khả di hồ? Thạch khả chuyển dã, khê kỳ khả biến hồ? Nhĩ quan duyên sơn nhất đới tòng Tây - Bắc lai, kinh Lũng Khê để động Công, tiếp động Cao liên chí động Am nhi chỉ ? Sơn chỉ nhi khê, khê chi đông nhất khoảnh hàm điền, bất thị Chú Trầm xứ da?

Khê tận nhi hà, hà chi bắc, nhất điều đại lộ, bất thị Quai Vạc xứ da?

Tái giả, tu tri cổ bộ: An Sơn điền bạn, Tây chí Am tự, Nam giới trung khê. Chiêu chiêu nhiên, sơn đính biệt đông tây, khê tâm phân thượng hạ, chi tây chi thượng vi Tiên Lăng địa phận; chi đông chi thượng tức thị An Sơn, nhị bách niên tiền, Hiến ty quan dĩ kinh đoán luận, trần tích y nhiên. Nhĩ nãi thiên khởi tà tâm, dĩ cường lăng nhược, cố vi luận tích, vọng khải tranh đoan, tức xâm lân chi tội di chương nhi tỉ thạch chi gian ngoan khả ố, thị hà lý dã, nhữ tri tội hồ?

Tiên Lăng xã diện diện tương thứ, như thổ, như si như á. Chân sở vị: "Vô tình giả bất đắc tận kỳ từ dã". Tức trị kỳ điêu giả sổ nhân, dư giai sất thoái.

Tầm mệnh An Sơn xã đầu thạch vu giang, thả giới dĩ tự hậu nhĩ đẳng, vật đắc tương tranh, lân bạn tự hữu khê sơn vi giới. Chúng giai duyệt phục. Nhân lục kỳ sự, dĩ thị tương lai.

Thời: Cảnh Hưng thập tam niên, tuế tại Nhâm Thân, xuân tam chi nhật.

Tứ Kỷ Mùi khoa, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại phu, Dương Vũ tuyên lực công thần, Binh bộ Thượng thư, Thái tử Thiếu bảo, phụng sai Trấn thủ Nghệ An xứ, kiêm Bố Chánh châu đốc suất, Ninh Trấn quân doanh, Thượng trụ quốc, Hải Quận công, đoạn ký.

2. Dịch nghĩa:

Bài ký xử kiện trên đầu voi

Năm Tân Mùi (1751), ta phụng mệnh đi trấn thủ(13), thường đến các đình sở để thăm hỏi về nỗi thống khổ của dân chúng. Một hôm, thấy một ông lão, tuổi ngoài tám mươi, miệng ngậm cỏ, tay cầm đơn, đứng nép ở dưới chân tường.

- Ta hỏi: Ông muốn gì?

- Ông đáp: Tôi là người dân xã An Sơn, châu Bố Chánh, đệ đơn kêu về việc bị xã Tiên Lăng bên cạnh cưỡng đoạt, tranh chiếm địa giới... Ông lão vừa khóc vừa kêu, lời lẽ rất thảm thiết, ai nghe cũng phải thương cảm. Ta cũng chẳng thể làm ngơ, lập tức sai hai tên Trương Tam, Lý Nhị đi đòi xã bị kiện đến để tra xét. Khi bọn ấy đến trình bày lý do, thì lại viện dẫn chứng cứ: Khe kia gọi là Con Chợ; núi kia gọi là Động Am; xứ kia gọi là Chú Trầm; đám ruộng kia gọi là Quai Vạc. Lại nói thêm rằng: đây là do các quan châu trước đã từng phân giải, dọc ngang bốn phía, cho chôn đá làm giới hạn, dấu tích vẫn còn nguyên.

Nhưng đến khi cho bắt tất cả về trấn để nghe lời khai, thì cũng giống như việc tranh ruộng đất của hai nước Ngu, Nhuế xưa kia(14), phải trái thật khó phân biệt.

Kế đó, ta lại sai người đến tận nơi để điều tra, xét trong bản đồ địa giới, thì núi khe khuất khúc, thực khó vẽ đúng, cho nên ta cũng sinh hồ nghi trong lòng. Kể từ mùa thu sang đến mùa đông, mà án chưa thể quyết định được.

Mùa xuân năm Nhâm Thân (1752), ta được sai trông nom việc quân ở phía Nam, xử lý mọi công việc biên giới(15), ngẫu nhiên đi qua nơi đó, nhớ lại vụ kiện năm qua, bèn bảo viên quản tượng cho voi leo lên ngọn núi cao kia. Nhìn sang bên tả kênh phù lởm chởm, ngó sang bên hữu vực nước xanh trong; ngoảnh lại dòng phía Nam, nước nhuộm màu chàm, ngó sang đồi phía Đông, cát trắng như tuyết. Phóng tầm mắt ra bốn phía, thu trọn núi sông của châu Bố Chánh. Tức cảnh sinh tình, ngâm lên mấy vần thơ rằng:

"Hoành Sơn cách lưng trời một sải

Nam Hải phơi mặt nước ngàn trùng"

Ngâm xong câu thơ, nhìn xuống địa hình hai xã Tiên Lăng, An Sơn, chính mình được mục kích, lòng cảm thấy khoan khoái như bắt được vật gì.

Bấy giờ, hai bên nguyên, bị độ mấy chục người, sợ sệt bái phục ở bên tả đầu voi, ta bèn nhất nhất chỉ vào từng nơi để hỏi: đây chẳng phải là núi Động Am tự đó sao? Chỗ kia chẳng phải là khe nước Con Chợ đó sao? Vả lại, đó chẳng là nơi các người tranh giành đó sao?

Mọi người đều vâng dạ răm rắp, chỉ riêng có mấy tên điêu ngoan ở xã Tiên Lăng, vẫn còn tranh biện không chịu, khăng khăng lấy chùa và đá để làm mốc. Ta phải chỉ bảo cho bọn ấy biết: các ngươi quả đáng gọi là lũ mọt dân vậy! Chùa thì có thể bị đổ nát, thử hỏi núi kia có thể dời đi được chăng? Đá thì có thể bị khuân đi, nhưng còn khe suối kia có thể biến đổi được chăng?

Các ngươi thử nhìn xem, một dải từ ven núi phía Tây - Bắc kéo lại, đi qua khe Luống(16) thẳng đến động Công, nối tiếp động Cao, liền tới tận động Am mới dứt, chỗ núi dứt ấy, là khe suối, một khoảng ruộng nhiễm mặn ở bên đông suối, chẳng phải là xứ Chú Trầm đó sao? Chỗ tận cùng của khe nước là sông, phía Bắc của sông có con đường cái, chẳng phải là xứ Quai Vạc đó sao? Hai là, các ngươi nên biết, trong sổ địa bạ xưa, ruộng đất của xứ An Sơn, phía Tây đến chùa Am, phía Nam đến sát khe giữa, rõ ràng núi cách biệt Đông - Tây, dòng suối chia đôi trên dưới, phía tây trở lên là địa phận xã Tiên Lăng, phía đông trở lên là xã An Sơn, hai trăm năm trước, chính vị quan Hiến ty(17) đã từng đoán luận, dấu cũ vẫn còn nguyên, thế mà các ngươi nổi sinh lòng gian tà, cậy mạnh ăn hiếp kẻ yếu, cố ý làm sai sự đoán định và dấu tích xưa, gây mối tranh giành xằng bậy, thì tội xâm lấn láng giềng càng thêm rõ rệt, mà việc dời trộm mốc đá, thực là gian ngoan đáng ghét. Hỏi còn lý gì đây? Các ngươi đã biết tội chưa?

Dân xã Tiên Lăng nghe xong, nhìn vào mặt nhau, đứng trơ như đất, như ngốc như câm. Thật đúng như người xưa từng nói: "Phải khiến cho những kẻ muốn giấu giếm sự thật, không được giở hết tài bẻm mép của họ"(18). Rồi lập tức trị tội mấy kẻ điêu ngoa, số còn lại thì đuổi về hết.

Sau đó mới cho phép dân xã An Sơn, chôn đá cạnh sông và răn bảo từ nay các ngươi không được tranh bậy, bờ đất làng bên đã có khe suối, mốc đá để làm giới hạn. Chúng đều vui vẻ phục tình, nhân thế, ta bèn ghi sự việc để lại sau này.

Bấy giờ là vào một ngày tháng 3, mùa xuân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13, tức là năm Nhâm Thân (1752).

Đệ tam giáp, Đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi (1739), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Dương võ Tuyên lực công thần, Thượng thư Bộ Binh, Thái tử Thiếu bảo, phụng mệnh Trấn thủ xứ Nghệ An, kiêm chức Đốc suất châu Bố Chánh, tại doanh Ninh Trấn quân, hàm Thượng trụ quốc, phong tước Hải Quận công, viết bài ký.

II. Mấy lời nhận xét:

1. "Ký" là thể loại văn học trong nền văn học cổ phương Đông, xuất hiện từ khá sớm tại Trung Quốc và Việt Nam. Ký vốn dùng để chuyên ghi chép một sự kiện, một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh mà người ghi là người trong cuộc tham gia vào mọi diễn biến của sự kiện, của câu chuyện. Trong văn học sử phương Đông còn lưu giữ được khá nhiều bài ký nổi tiếng như: Đào hoa nguyên ký của Đào Tiềm đời Tấn, Nhạc Dương lâu ký của Phạm Trọng Yêm, Túy Ông đình ký của Âu Dương Tu, Hỷ Vũ đình ký của Tô Đông Pha đời Tống... của Trung Quốc hay Dục Thúy sơn Linh tế tháp ký của Trương Hán Siêu đời Trần, Thanh Hư động ký của Nguyễn Phi Khanh đời Hồ... của Việt Nam.

Bài Tượng đầu đoán tụng ký của Phạm Đình Trọng cũng thuộc thể loại ký vừa nói trên.

2. Tượng đầu đoán tụng ký của Phạm Đình Trọng là một bài tản văn không dài, chỉ khoảng trên 700 chữ Hán, nhưng thông qua tác phẩm ngắn này, người đọc biết được nhiều điều: từ tài năng văn chương, đến nhân cách đạo đức của tác giả.

Trong sách Luận ngữ, thiên Nhan Uyên, Khổng Tử có bàn một câu về cách xử kiện và mục đích của việc xử kiện như sau: "Tử viết: thính tụng, ngô do nhân dã. Tất dã, sử vô tụng hồ". (Nghĩa là, Khổng Tử nói rằng: xử kiện thì ta cũng như người khác thôi. Nhưng nhất định phải làm sao cho không còn kiện tụng thì hơn). Sau này trong sách Đại học, tương truyền do Tăng Tử - học trò Khổng Tử viết ra, đã chép rõ hơn câu nói trên của Khổng Tử, nguyên văn như sau: "Tử viết: thính tụng, ngô do nhân dã. Tất dã, sử vô tụng hồ; vô tình giả bất đắc tận kỳ từ, đại úy dân chí, thử vị tri bản, thử vị tri chi chí dã". (Nghĩa là, Khổng Tử nói: xử kiện ta cũng như người khác thôi. Nhưng nhất định phải làm sao không còn kiện tụng thì hơn. Khiến cho những kẻ muốn giấu giếm sự thật, không được giở hết tài bẻm mép của họ, khiến cho dân chúng trong lòng cảm thấy kính sợ. Như vậy có thể nói là biết đến nơi đến chốn).

Rõ ràng Phạm Đình Trọng đã chịu ảnh hưởng của lời dạy trên đây của Khổng Tử khi viết Tượng đầu đoán tụng ký. Năm Nhâm Thân (1752), ông ngồi trên đầu voi xử kiện, nghe hai bên nguyên bị trình bày rõ sự tình. Rồi ông đến tận hiện trường xảy ra việc kiện tụng lâu dài, xem xét cụ thể từng hòn đá cắm mốc, từng dòng khe, con suối, từng ngọn núi, lạch sông... và phân xử hết sức có tình, có lý, vừa tỏ ra đức độ vừa thể hiện đầy uy nghiêm khiến dân chúng hai xã An Sơn và Tiên Lăng đều kính phục. Cuối cùng dân xã Tiên Lăng là bên "bị" - bên xâm chiếm ruộng đất của xã An Sơn buộc phải cúi đầu không thể biện bác, tranh cãi được nữa. Đúng như Khổng Tử từng khuyên phải làm cho "vô tụng hồ" (không còn kiện tụng nữa), điều đó, Phạm Đình Trọng đã thực hiện được!

Thông qua Tượng đầu đoán tụng ký, ta thấy viên quan Trấn thủ Phạm Đình Trọng có đầy đủ tài năng và học vấn, vừa rất sâu sát việc thế thái nhân tình, vừa thông minh, mẫn tiệp, khiến cho dân chúng trong vùng Nghệ An - Bố Chánh hết sức tâm phục, khẩu phục.

3. Về mặt nghệ thuật, ở Tượng đầu đoán tụng ký, văn rất bình dị, nhưng không vì vậy mà không gợi cảm. Cảnh đẹp của giang sơn châu Bố Chánh, thật đẹp và hùng vĩ. Đây là bài tản văn không có vần, nhưng có khá nhiều câu trọng luật đối. Ta phải công nhận rằng bố cục của bài viết rành mạch và nhiều câu thanh nhã, hình ảnh đẹp đẽ, lời du dương:

"Tả cố phù kênh, nham nham sực sực

Hữu chiêm thủy vực, uất uất thương thương"

(Nhìn sang bên tả kênh phù lởm chởm

Ngó sang bên hữu vực nước xanh trong).

"Nam miến tranh chi thủy, thủy lam thanh

Đông vọng sa chi sơn, sơn tuyết bạch"

(Ngoảnh lại dòng phía Nam, nước nhuộm màu chàm

Ngó sang đồi phía Đông, cát trắng như tuyết).

"Sơn đính biệt đông tây

Khê tâm phân thượng hạ"

(Ngọn núi cách biệt đông tây

Dòng suối chia đôi trên dưới).

Hoặc có đoạn, lời lẽ rất mạnh mẽ, chặt chẽ:

"Dư hữu chi viết: Nhĩ khả vị tệ dân hỹ!

Tự khả phế dã, sơn kỳ khả di hồ?

Thạch khả chuyển dã, khê kỳ khả biến hồ?"

(Ta phải hiểu bảo cho bọn ấy biết: Các ngươi quả đáng gọi là lũ mọt dân vậy!

Chùa có thể bị đổ nát, thử hỏi núi kia có thể dời đi đâu được chăng?

Đá có thể bị khuân đi, nhưng còn khe suối kia có thể biến đổi được chăng?).

Bố cục của bài theo lối cổ điển mà cân xứng: đoạn mở đầu và đoạn kết dài ngang nhau; đoạn giữa gồm hai cảnh, đối chiếu với nhau: một cảnh Phạm Đình Trọng đi thực địa, quan sát địa thế vùng núi non châu Bố Chánh ở chân dãy Hoành Sơn, một cảnh ông thung dung ngồi trên đầu voi xử kiện.

Bài viết tuy ngắn gọn nhưng có hô ứng: mở đầu nêu bật nỗi đau khổ của người dân xã An Sơn vì bị tranh chiếm ruộng đất, thông qua hình ảnh một cụ già hơn 80 tuổi, ngậm cỏ, đầu đơn; đoạn cuối nói mọi người cả bên "nguyên" (An Sơn), lẫn bên "bị" (Tiên Lăng) đều vui vẻ tâm phục việc xử tụng của tác giả. Khéo nhất là câu kết: "Tiên Lăng xã diện diện tương thứ, như thổ, như si, như á,..." chính là để minh họa câu: "Vô tụng hồ" của Đức Khổng Tử trong Luận ngữ.

Đọc xong cả bài văn, nhất là đoạn cuối, ta thấy rõ tấm lòng và tư cách cao thượng của tác giả. Thật đúng như sử gia Phan Huy Chú nhận xét: "... Công lao sự nghiệp của ông kỳ vĩ, gần đây chưa từng có". Ngày nay, chúng ta đọc lại bài Tượng đầu đoán tụng ký này, càng hiểu thêm lời nhận xét của sử gia họ Phan là có cơ sở. Và theo tôi, công lao, tài đức của Phạm Đình Trọng xứng đáng được hậu thế nghiên cứu sâu hơn và cần thiết được ghi nhận đúng mức.

 

Chú thích:

(1) + Bùi Huy Bích - trong Hoàng Việt văn tuyển, ở cuối bài Tượng đầu đoán tụng ký, ghi Phạm Đình Trọng được phong Thái tử Thiếu bảo.

+ Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, ghi ông được phong hàm: Thái tử Thái bảo.

+ Phan Kế Bính trong Nam Hải dị nhân, ghi ông được "gia tặng chức Thái phó".

+ Ngô Đức Thọ (chủ biên) trong Các nhà khoa bảng Việt Nam, Nxb. Văn học, H. 2006, tr.604 cũng chép: "Ông được thăng chức Thượng thư bộ Binh, hàm Thái tử Thái phó".

Ở đây, chúng tôi căn cứ vào Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích.

(2) Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb. Sử học, H. 1960, tập I, tr.243, 244.

(3) Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí. Sđd, tập I, tr.243.

(4) Phan Kế Bính: Nam Hải dị nhân. Nxb. Trẻ, S.1988, tr.36, 180.

(5) Lê Quý Đôn biên soạn xong sách Đại Việt thông sử vào năm 1759, tức là sau khi Phạm Đình Trọng chết mới được 5 năm. Có thể coi Lê Quý Đôn là người đồng thời với Phạm Đình Trọng, không hiểu vì lý do nào không thấy nhà bác học họ Lê động tới những thi văn của họ Phạm. Phải chăng, vào thời gian ấy, tác phẩm của Phạm Đình Trọng chưa được công bố rộng rãi ?

(6) Trần Văn Giáp (chủ biên): Lược truyện các tác gia Việt Nam. Nxb. Sử học, H. 1962, tập I, tr.320.

(7) Phủng xuất 捧出, xuất xứ từ chữ Phủng nhật 捧日, Từ nguyên giải thích: "Phủng nhật: Cựu dĩ nhật dụ đế vương, cố phủng nhật hữu dực đái nghĩa..." (nghĩa là: Phủng nhật (tức bưng mặt trời): Ngày xưa, lấy mặt trời để ví với bậc đế vương, cho nên nói bưng mặt trời, có nghĩa giúp đỡ tôn phò Nhà vua).

(8) Bản Hoàng Việt thi tuyển này được in vào triều Nguyễn, cho nên chữ Ánh (vốn phải viết bộ Nhật bên trái chữ Anh ), vì kỵ húy vua Gia Long (Nguyễn Ánh ) nên viết đảo vị trí như trong nguyên bản.

(9) Nguyên văn là A Hành 阿衡 là chức của Y Doãn phụ tá vua Thang phạt Kiệt, diệt nhà Hạ, dựng nên nhà Thương. A Hành tương đương với chức Tể tướng đời sau. Ở đây, chỉ chức Tham tụng (Tể tướng) của Nguyễn Công Thái.

(10) Hương xã: Tức Hương Sơn xã, Hương Hỏa xã do nhà thơ đời Đường Bạch Cư Dị và nhà sư Hương Sơn, pháp danh Như Mãn thiết lập sau khi ông về hưu để hưởng thú nhàn tản và đàm đạo.

(11) Bùi Huy Bích: Hoàng Việt văn tuyển. Bản chữ Hán - Thư viện Viện Sử học. Ký hiệu HV.63.

(12) Trắc bỉ cao cương: mượn chữ từ bài Quyển nhĩ (Quốc Phong - Kinh Thi): Ta muốn lên sống núi cao kia.

(13) Phạm Đình Trọng giữ chức Trấn thủ xứ Nghệ An, kiêm chức Đốc suất châu Bố Chánh, đóng tại dinh Ninh Trấn quận (phía Nam Nghệ An), đề phòng quân Chúa Nguyễn từ Quảng Bình kéo ra.

(14) Theo Từ nguyên. Dẫn Sử ký - Tư Mã Thiên truyện Chu Kỷ: Cuối đời Thương, dân hai nước Ngu và Nhuế có việc tranh kiện nhưng không thể quyết định. Họ bèn đi sang nước Chu (nước chư hầu của nhà Thương - do Chu Văn Vương cai trị), vào trong địa giới thấy người cầy ruộng đều nhường đất cho nhau, phong tục của người dân đều nhường nhịn bậc trưởng lão. Người dân hai nước Ngu, Nhuế tự thấy xấu hổ, họ nói với nhau: Bọn ta tranh nhau thật xấu hổ với người nước Chu, bèn nhường nhau mà quay về. Nước Ngu, nay thuộc huyện Thái Dương, tỉnh Hà Nam; nước Nhuế, tại hai huyện Bằng Dực, Lâm Tấn cùng tỉnh.

(15) Nguyên văn "Thị sư Nam thùy, biện lý biên sự", ở đây để chỉ vùng đất châu Bố Chánh, Quảng Bình, gianh giới phía Nam của Đàng Ngoài, tiếp giáp với Đàng Trong của Chúa Nguyễn.

(16) Nguyên văn chữ Hán ghi là Lũng Khê, nhưng đây là tên Nôm, nên tôi đã phiên âm như trên.

(17) Hiến ty: Thời Lê Trung hưng, ở các trấn đứng đầu là Tam ty: Trấn ty - Thừa ty - Hiến ty. Trấn ty phụ trách chung mọi công việc trong trấn. Thừa ty phụ trách việc hộ tịch, lương tiền. Hiến ty phụ trách khám xét việc kiện tụng.

(18) Câu này, xuất xứ từ sách Đại học, nguyên văn như sau: Tử viết: "Thính tụng ngô do nhân dã, tất dã, sử vô tụng hồ, vô tình giả bất đắc tận kỳ từ, đại úy dân chí, thử vị tri bản, thử vị tri chi chí dã". (Nghĩa là: Khổng Tử nói: Xử kiện thì ta cũng như người khác thôi. Nhất định phải làm sao cho không có kiện tụng thì hơn. Khiến cho những kẻ muốn giấu giếm sự thật, không giở hết tài bẻm mép của họ, khiến cho dân chúng trong lòng cảm thấy kính sợ. Như vậy có thể nói là biết đến nơi đến chốn)./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 3(88) 2008; Tr.50-59)

 

Nguyễn Minh Tường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm