Phạm Đình Trọng và bài Tượng đầu đoán tụng ký (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(88) 2008; Tr.50-59)
PHẠM ĐÌNH TRỌNG VÀ BÀI TƯỢNG ĐẦU ĐOÁN TỤNG KÝ
PGS.TS. NGUYỄN MINH TƯỜNG
Viện Sử học
Phạm Đình Trọng (1714-1754), người xã Khinh Dao huyện Giáp Sơn trấn Hải Dương (nay là thôn Khinh Dao, xã An Dương, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng). Ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi (1739), niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 đời vua Lê Ý Tông. Đầu đời Cảnh Hưng (1740-1786), ông giữ chức Phó Đô Ngự sử, vào phủ chúa Trịnh làm Bồi tụng, tước Dao Linh hầu. Sau đó, được bổ giữ chức Hiệp trấn 3 đạo Đông, Nam, Bắc. Năm 1750, vì có công đánh dẹp cuộc nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) ông được thăng chức Thượng thư Bộ Binh, hàm Thái tử Thiếu bảo(1), tước Hải Quận công.
Phạm Đình Trọng là người tài cao, chí lớn, được đương thời và hậu thế hết sức nể trọng. Sử gia Phan Huy Chú ở phần Nhân vật chí, sách Lịch triều hiến chương loại chí, khi lựa chọn 39 "Người phò tá có công lao tài đức" dưới thời Lê Trung hưng (1533-1789) đã ghi tên Phạm Đình Trọng tề danh với các bậc tài năng kiệt xuất như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Duy Thì, Đặng Đình Tướng, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Thái, Nguyễn Nghiễm... Phan Huy Chú phẩm bình về con người Phạm Đình Trọng bằng những lời khen ngợi như sau: "Ông sinh ra đã có vẻ khôi ngô. Năm lên 8 tuổi học vỡ lòng, đã hiểu được luật thơ. Khi lớn, văn chương hùng hồn... Ông tài kiêm văn võ, làm bậc nguyên thần của nước, là danh tướng làng nho, công lao sự nghiệp kỳ vĩ, gần đây chưa thấy có"(2).
Năm 1750, khi Phạm Đình Trọng mới 36 tuổi, được thăng Thượng thư Bộ Binh (tức tương đương với chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay), trong lời Chế phong, vua Lê Hiển Tông đã biểu dương ông như sau: "... Xét Phạm Đình Trọng: tài năng dùng làm cột trụ, làm đá tảng cho nhà nước, khí độ cao như núi cao. Trời phú cho văn chương, tuổi trẻ nổi tiếng khoa giáp. Tỏ khí nghiệp từ lúc làm quan nhỏ, sẵn có mong ước công hầu..."(3).
Năm 1912, khi soạn bộ Nam Hải dị nhân liệt truyện (Truyện những người kỳ
lạ ở đất Nam Hải), Phan Kế Bính lựa chọn tất cả 50 nhân vật, sắp xếp theo trật tự 8 bậc:
I. Các bậc đại anh kiệt: 5 người
II. Các bậc danh thần: 6 người
III. Các bậc danh hiền: 4 người
IV. Các bậc văn tài: 8 người
V. Các bậc mãnh tướng: 9 người
VI. Các vị thần linh ứng: 8 người
VII. Các vị tiên tích: 6 người
VIII. Các người có danh tiếng: 4 người.
Phạm Đình Trọng được ông xếp vào hàng các bậc danh thần, tức bậc thứ II, chỉ sau các bậc Đại anh kiệt (trong số các bậc danh thần, có: 1. Lý Thường Kiệt; 2. Trần Hưng Đạo; 3. Nguyễn Trãi; 4. Trịnh Kiểm; 5. Lương Hữu Khánh; 6. Phạm Đình Trọng)(4). Ngày nay, chúng ta có thể không hoàn toàn tán đồng với cách đánh giá và sắp xếp của họ Phan về nhân vật Phạm Đình Trọng trong bảng giá trị các danh nhân lịch sử phong kiến ở nước ta, nhưng dù sao chăng nữa cũng phải thừa nhận Phạm Đình Trọng thuộc loại tài năng kiệt xuất hiếm có vào nửa đầu thế kỷ XVIII. Chẳng thế mà vào năm Giáp Tuất (1754), khi nghe tin Phạm Đình Trọng chết ở quân doanh trấn Nghệ An, vua Lê Hiển Tông vô cùng thương xót, sai quân thủy bộ hộ tống linh cữu về làng Khinh Dao an táng, đồng thời sai quan Thượng thư là Trần Cảnh đến tận nơi dự tế. Chúa Trịnh Doanh cũng sai Thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Công Thái đến tế và tặng 16 chữ: "Phủ dân, Tiễu khấu, Cố bản, An biên, Ái quốc, Trung quân, Hoàn danh, Cao tiết" (có nghĩa là: yên dân, diệt giặc, vững gốc, an biên, yêu nước, trung quân, danh thơm, cao tiết). Ngoài ra, chúa Trịnh Doanh lại đặc biệt ban cho một đôi câu đối để thờ, như sau:
蓋世英雄今古少
在人功德地天長
Phiên âm:
Cái thế anh hùng kim cổ thiểu.
Tại nhân công đức địa thiên trường.
Dịch nghĩa:
Anh hùng cái thế xưa nay hiếm.
Công đức với dân trời đất dài.
Một người từng được sử gia Phan Huy Chú ca ngợi là "tài kiêm văn võ", và "văn chương hùng hồn" như Phạm Đình Trọng thì chắc rằng họ Phạm trước thư lập ngôn không thể nói là không nhiều. Tiếc rằng, cho đến nay, chúng ta chưa sưu tầm được là bao trong số di cảo thi văn của ông. Vào năm 1759, Lê Quý Đôn (1726-1783) khi biên soạn phần Nghệ văn chí(5) sách Đại Việt thông sử và năm 1819, Phan Huy Chú (1782-1840) biên soạn xong phần Văn tịch chí sách Lịch triều hiến chương loại chí, không thấy hai ông kể tên một tác phẩm nào của Phạm Đình Trọng.
Năm 1962, trong Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập I: Tác gia các sách Hán Nôm - Trần Văn Giáp (chủ biên), cho biết tác phẩm của Phạm Đình Trọng có: "- Hai bài thơ (văn), in trong Hoàng Việt thi tuyển (Q.5, tờ 23); - Tượng đầu đoán tụng ký (văn), chép trong Hoàng Việt văn tuyển (Q.2, tờ 19)"(6).
Trước khi đi sâu phân tích bài Tượng đầu đoán tụng ký, chúng tôi muốn giới thiệu bài thơ dưới đây của Phạm Đình Trọng, qua đó, để bạn đọc có được đôi chút nhận thức về thơ của họ Phạm. Chúng tôi đã tìm đọc bộ Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích (1744-1802) tại Thư viện Viện Sử học, nhưng không rõ vì sao trong đó chỉ còn có 1 bài thơ Thất ngôn bát cú - Đường luật của Phạm Đình Trọng, đó là bài: Tiễn nhập thị Tham tụng Kiều Quận công Nguyễn Công Thái trí sĩ.
Nguyên văn chữ Hán như sau:
餞入侍參從喬郡公阮公寀致仕
珪璋譽播斗南天
一遇緣諧魚水緣
捧出重輪升海上
光開入座映雲邊
阿衡復政遑居寵
香社歸閒樂度年
出處行藏關世運
高擎國拄望勳賢
Phiên âm:
Khuê chương dự bá Đẩu Nam thiên.
Nhất ngộ duyên hài ngư thủy duyên.
Phủng xuất(7) trùng luân thăng hải thượng
Quang khai nhập tọa ánh(8) vân biên.
A hành phục chính hoàng cư sủng
Hương xã quy nhàn lạc độ niên
Xuất xử, hành tàng quan thế vận
Cao kình quốc trụ vọng huân hiền.
Tạm dịch:
Văn chương tài đức của ông xếp vào bậc sao Bắc Đẩu của trời Nam.
Ông gặp được đấng minh quân, tựa như cá gặp được nước.
Chí lớn bưng mặt trời mọc lên từ biển cả.
Rạng rỡ bước vào tòa (cơ quan Tể tướng), sáng rực bên mây
Trả lại chức Tể tướng(9) cho triều đình, nhàn nhã hưởng ân sủng thong thả về nghỉ ngơi.
Hương xã(10) về hưu nhàn vui vẻ qua tháng năm
Việc xuất xử, hành tàng của ông đều có ảnh hưởng đến vận mệnh của thời cuộc.
Ông là cột trụ của quốc gia, được mọi người ngưỡng vọng tài năng và công lao lớn.
Bài Tượng đầu đoán tụng ký của Phạm Đình Trọng là bài tản văn duy nhất của ông được tuyển trong bộ Hoàng Việt văn tuyển(11) của Bùi Huy Bích vào cuối thế kỷ XVIII.
I. Nguyên văn chữ Hán
象頭斷訟記
辛未年余奉命赴鎮常於近民亭問民疾苦一日見一老丈年八十餘口著草手擎單偃樓亭堵之下問之言老的布政州安山社人民控單原被傍近先陵社強爭田界事因且泣且訴辭情悲切聞者感慨余亦不能為情即差張三李二勾被鳴社就查迨彼陳由則又援引證據某溪為昆𢄂某頂為峒庵某處為注沉某田為乖鑊
且云前此舊任州官曾經分解縱橫四石遺蹟宛然既而拘集于庭聽其辭則麌芮相爭是非莫辯繼又差人踏勘按其圖則山溪曲徑描寫難真余亦心疑秋以徂冬未決壬申春余視師南陲料理邊事偶經其地記其事即喚象奴使象陟彼高崗左顧鳧涇岩岩矗矗右瞻水域鬱鬱蒼蒼
南眄爭之水水藍青
東望沙之山山雪白
凝眸四顧盡收布政江山
即景生情朗吟詩曰:
橫山天一握
南海水千重
吟畢因俯察先陵安山二社地形身親見之豁然如有所得.
時兩造數十人懼拜象頭之左余一一指問此非峒庵寺之山乎此非昆市溪之水乎此又非爾等所爭之處者乎眾曰唯獨先陵社數刁爭辨不已諄諄然以寺與石為言
余曉之曰爾可謂敝民矣寺可廢也山其可移乎石可轉也溪其可變乎爾觀沿山一帶從西北來經隴溪抵峒公接峒高連至峒庵而止山止而溪溪之東一頃鹹田不是注沉處耶
溪盡而河河之北壹條大路不是乖鑊處耶.
再者須知古簿安山田畔西至庵寺南界中溪昭昭然山頂別東西溪心分上下之西之上為先陵地分之東之上即是安山二百年前憲司官已經斷論陳迹依然爾乃偏起邪心以強夌弱故違論跡妄啟爭端即侵鄰之罪彌彰而徙石之奸頑可惡是何理也汝知罪乎.
先陵社面面相覷如士如癡如啞真所謂無情者不得盡其辭也即治其刁者數人餘皆叱退.
尋命安山社投石于江且戒以嗣後爾等毋得相爭鄰畔自有溪山為界眾皆悅服因錄其事以視將來.
時景興十三年歲在壬申春參之日.
賜己未科弟三甲同進士出身特進金紫榮祿大夫揚武宣力功臣兵部尚書太子少保奉差鎮守乂安處兼布政州督率寧鎮軍營上柱國海郡公斷記.
1. Phiên âm:
Tượng đầu đoán tụng ký
Tân Mùi niên, dư phụng mệnh phó trấn, thường ư cận dân đình, vấn dân tật khổ. Nhất nhật kiến nhất lão trượng, niên bát thập dư, khẩu trước thảo, thủ kình đơn, yển lâu đình đổ chi hạ. Vấn chi; ngôn: lão đích Bố Chánh châu, An Sơn xã nhân dân. Khống đơn nguyên bị bàng cận Tiên Lăng xã cưỡng tranh điền giới sự; nhân thả khấp thả tố, từ tình bi thiết, văn giả cảm khái. Dư diệc bất năng vi tình, tức sai Trương Tam, Lý Nhị câu bị minh xã tựu tra, đãi bỉ trần do, tắc hựu viện dẫn chứng cứ: mỗ khê vi Con Chợ, mỗ đính vi Động Am, mỗ xứ vi Chú Trầm; mỗ điền vi Quai Vạc.
Thả vân: tiền thử cựu nhậm châu quan tằng kinh phân giải, tung hoành tứ thạch, di tích uyển nhiên. Ký nhi câu tập vu đình, thính kỳ từ tắc Ngu Nhuế tương tranh, thị phi mạc biện. Kế hựu sai nhân đạp khám, án kỳ đồ tắc sơn khê khúc kính, miêu tả nan chân, dư diệc tâm nghi, thu dĩ tồ đông vị quyết.
Nhâm Thân xuân, dư thị sư Nam thùy, liệu lý biên sự, ngẫu kinh kỳ địa, ký kỳ sự, tức hoán tượng nô sử tượng trắc bỉ cao cương(12), tả cố phù kênh nham nhan sực sực, hữu chiêm thủy vực uất uất thương thương.
Nam miến tranh chi thủy, thủy lam thanh;
Đông vọng sa chi sơn, sơn tuyết bạch.
Ngưng mâu tứ cố, tận thâu Bố Chánh giang sơn.
Tức cảnh sinh tình, lãng ngâm thi viết:
"Hoành Sơn thiên nhất ác
Nam Hải thủy thiên trùng..."
Ngâm tất, nhân phủ sát Tiên Lăng, An Sơn nhị xã hình, thân thân kiến chi, khoát nhiên như hữu sở đắc.
Thời lưỡng tạo sổ thập nhân, cụ bái tượng đầu chi tả, dư nhất nhất chỉ vấn: thử phi Động Am tự chi sơn hồ? Thử phi Con Chợ khê chi thủy hồ? Thử hựu phi nhĩ đẳng sở tranh chi xứ giả hồ? Chúng viết: dụy, độc Tiên Lăng xã sổ điêu tranh biện bất dĩ, chuân chuân nhiên dĩ tự dữ thạch vi ngôn.
Dư hiểu chi, viết: nhĩ khả vị tệ dân hỹ. Tự khả phế dã, sơn kỳ khả di hồ? Thạch khả chuyển dã, khê kỳ khả biến hồ? Nhĩ quan duyên sơn nhất đới tòng Tây - Bắc lai, kinh Lũng Khê để động Công, tiếp động Cao liên chí động Am nhi chỉ ? Sơn chỉ nhi khê, khê chi đông nhất khoảnh hàm điền, bất thị Chú Trầm xứ da?
Khê tận nhi hà, hà chi bắc, nhất điều đại lộ, bất thị Quai Vạc xứ da?
Tái giả, tu tri cổ bộ: An Sơn điền bạn, Tây chí Am tự, Nam giới trung khê. Chiêu chiêu nhiên, sơn đính biệt đông tây, khê tâm phân thượng hạ, chi tây chi thượng vi Tiên Lăng địa phận; chi đông chi thượng tức thị An Sơn, nhị bách niên tiền, Hiến ty quan dĩ kinh đoán luận, trần tích y nhiên. Nhĩ nãi thiên khởi tà tâm, dĩ cường lăng nhược, cố vi luận tích, vọng khải tranh đoan, tức xâm lân chi tội di chương nhi tỉ thạch chi gian ngoan khả ố, thị hà lý dã, nhữ tri tội hồ?
Tiên Lăng xã diện diện tương thứ, như thổ, như si như á. Chân sở vị: "Vô tình giả bất đắc tận kỳ từ dã". Tức trị kỳ điêu giả sổ nhân, dư giai sất thoái.
Tầm mệnh An Sơn xã đầu thạch vu giang, thả giới dĩ tự hậu nhĩ đẳng, vật đắc tương tranh, lân bạn tự hữu khê sơn vi giới. Chúng giai duyệt phục. Nhân lục kỳ sự, dĩ thị tương lai.
Thời: Cảnh Hưng thập tam niên, tuế tại Nhâm Thân, xuân tam chi nhật.
Tứ Kỷ Mùi khoa, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại phu, Dương Vũ tuyên lực công thần, Binh bộ Thượng thư, Thái tử Thiếu bảo, phụng sai Trấn thủ Nghệ An xứ, kiêm Bố Chánh châu đốc suất, Ninh Trấn quân doanh, Thượng trụ quốc, Hải Quận công, đoạn ký.
2. Dịch nghĩa:
Bài ký xử kiện trên đầu voi
Năm Tân Mùi (1751), ta phụng mệnh đi trấn thủ(13), thường đến các đình sở để thăm hỏi về nỗi thống khổ của dân chúng. Một hôm, thấy một ông lão, tuổi ngoài tám mươi, miệng ngậm cỏ, tay cầm đơn, đứng nép ở dưới chân tường.
- Ta hỏi: Ông muốn gì?
- Ông đáp: Tôi là người dân xã An Sơn, châu Bố Chánh, đệ đơn kêu về việc bị xã Tiên Lăng bên cạnh cưỡng đoạt, tranh chiếm địa giới... Ông lão vừa khóc vừa kêu, lời lẽ rất thảm thiết, ai nghe cũng phải thương cảm. Ta cũng chẳng thể làm ngơ, lập tức sai hai tên Trương Tam, Lý Nhị đi đòi xã bị kiện đến để tra xét. Khi bọn ấy đến trình bày lý do, thì lại viện dẫn chứng cứ: Khe kia gọi là Con Chợ; núi kia gọi là Động Am; xứ kia gọi là Chú Trầm; đám ruộng kia gọi là Quai Vạc. Lại nói thêm rằng: đây là do các quan châu trước đã từng phân giải, dọc ngang bốn phía, cho chôn đá làm giới hạn, dấu tích vẫn còn nguyên.
Nhưng đến khi cho bắt tất cả về trấn để nghe lời khai, thì cũng giống như việc tranh ruộng đất của hai nước Ngu, Nhuế xưa kia(14), phải trái thật khó phân biệt.
Kế đó, ta lại sai người đến tận nơi để điều tra, xét trong bản đồ địa giới, thì núi khe khuất khúc, thực khó vẽ đúng, cho nên ta cũng sinh hồ nghi trong lòng. Kể từ mùa thu sang đến mùa đông, mà án chưa thể quyết định được.
Mùa xuân năm Nhâm Thân (1752), ta được sai trông nom việc quân ở phía Nam, xử lý mọi công việc biên giới(15), ngẫu nhiên đi qua nơi đó, nhớ lại vụ kiện năm qua, bèn bảo viên quản tượng cho voi leo lên ngọn núi cao kia. Nhìn sang bên tả kênh phù lởm chởm, ngó sang bên hữu vực nước xanh trong; ngoảnh lại dòng phía Nam, nước nhuộm màu chàm, ngó sang đồi phía Đông, cát trắng như tuyết. Phóng tầm mắt ra bốn phía, thu trọn núi sông của châu Bố Chánh. Tức cảnh sinh tình, ngâm lên mấy vần thơ rằng:
"Hoành Sơn cách lưng trời một sải
Nam Hải phơi mặt nước ngàn trùng"
Ngâm xong câu thơ, nhìn xuống địa hình hai xã Tiên Lăng, An Sơn, chính mình được mục kích, lòng cảm thấy khoan khoái như bắt được vật gì.
Bấy giờ, hai bên nguyên, bị độ mấy chục người, sợ sệt bái phục ở bên tả đầu voi, ta bèn nhất nhất chỉ vào từng nơi để hỏi: đây chẳng phải là núi Động Am tự đó sao? Chỗ kia chẳng phải là khe nước Con Chợ đó sao? Vả lại, đó chẳng là nơi các người tranh giành đó sao?
Mọi người đều vâng dạ răm rắp, chỉ riêng có mấy tên điêu ngoan ở xã Tiên Lăng, vẫn còn tranh biện không chịu, khăng khăng lấy chùa và đá để làm mốc. Ta phải chỉ bảo cho bọn ấy biết: các ngươi quả đáng gọi là lũ mọt dân vậy! Chùa thì có thể bị đổ nát, thử hỏi núi kia có thể dời đi được chăng? Đá thì có thể bị khuân đi, nhưng còn khe suối kia có thể biến đổi được chăng?
Các ngươi thử nhìn xem, một dải từ ven núi phía Tây - Bắc kéo lại, đi qua khe Luống(16) thẳng đến động Công, nối tiếp động Cao, liền tới tận động Am mới dứt, chỗ núi dứt ấy, là khe suối, một khoảng ruộng nhiễm mặn ở bên đông suối, chẳng phải là xứ Chú Trầm đó sao? Chỗ tận cùng của khe nước là sông, phía Bắc của sông có con đường cái, chẳng phải là xứ Quai Vạc đó sao? Hai là, các ngươi nên biết, trong sổ địa bạ xưa, ruộng đất của xứ An Sơn, phía Tây đến chùa Am, phía Nam đến sát khe giữa, rõ ràng núi cách biệt Đông - Tây, dòng suối chia đôi trên dưới, phía tây trở lên là địa phận xã Tiên Lăng, phía đông trở lên là xã An Sơn, hai trăm năm trước, chính vị quan Hiến ty(17) đã từng đoán luận, dấu cũ vẫn còn nguyên, thế mà các ngươi nổi sinh lòng gian tà, cậy mạnh ăn hiếp kẻ yếu, cố ý làm sai sự đoán định và dấu tích xưa, gây mối tranh giành xằng bậy, thì tội xâm lấn láng giềng càng thêm rõ rệt, mà việc dời trộm mốc đá, thực là gian ngoan đáng ghét. Hỏi còn lý gì đây? Các ngươi đã biết tội chưa?
Dân xã Tiên Lăng nghe xong, nhìn vào mặt nhau, đứng trơ như đất, như ngốc như câm. Thật đúng như người xưa từng nói: "Phải khiến cho những kẻ muốn giấu giếm sự thật, không được giở hết tài bẻm mép của họ"(18). Rồi lập tức trị tội mấy kẻ điêu ngoa, số còn lại thì đuổi về hết.
Sau đó mới cho phép dân xã An Sơn, chôn đá cạnh sông và răn bảo từ nay các ngươi không được tranh bậy, bờ đất làng bên đã có khe suối, mốc đá để làm giới hạn. Chúng đều vui vẻ phục tình, nhân thế, ta bèn ghi sự việc để lại sau này.
Bấy giờ là vào một ngày tháng 3, mùa xuân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13, tức là năm Nhâm Thân (1752).
Đệ tam giáp, Đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi (1739), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Dương võ Tuyên lực công thần, Thượng thư Bộ Binh, Thái tử Thiếu bảo, phụng mệnh Trấn thủ xứ Nghệ An, kiêm chức Đốc suất châu Bố Chánh, tại doanh Ninh Trấn quân, hàm Thượng trụ quốc, phong tước Hải Quận công, viết bài ký.
II. Mấy lời nhận xét:
1. "Ký" là thể loại văn học trong nền văn học cổ phương Đông, xuất hiện từ khá sớm tại Trung Quốc và Việt Nam. Ký vốn dùng để chuyên ghi chép một sự kiện, một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh mà người ghi là người trong cuộc tham gia vào mọi diễn biến của sự kiện, của câu chuyện. Trong văn học sử phương Đông còn lưu giữ được khá nhiều bài ký nổi tiếng như: Đào hoa nguyên ký của Đào Tiềm đời Tấn, Nhạc Dương lâu ký của Phạm Trọng Yêm, Túy Ông đình ký của Âu Dương Tu, Hỷ Vũ đình ký của Tô Đông Pha đời Tống... của Trung Quốc hay Dục Thúy sơn Linh tế tháp ký của Trương Hán Siêu đời Trần, Thanh Hư động ký của Nguyễn Phi Khanh đời Hồ... của Việt Nam.
Bài Tượng đầu đoán tụng ký của Phạm Đình Trọng cũng thuộc thể loại ký vừa nói trên.
2. Tượng đầu đoán tụng ký của Phạm Đình Trọng là một bài tản văn không dài, chỉ khoảng trên 700 chữ Hán, nhưng thông qua tác phẩm ngắn này, người đọc biết được nhiều điều: từ tài năng văn chương, đến nhân cách đạo đức của tác giả.
Trong sách Luận ngữ, thiên Nhan Uyên, Khổng Tử có bàn một câu về cách xử kiện và mục đích của việc xử kiện như sau: "Tử viết: thính tụng, ngô do nhân dã. Tất dã, sử vô tụng hồ". (Nghĩa là, Khổng Tử nói rằng: xử kiện thì ta cũng như người khác thôi. Nhưng nhất định phải làm sao cho không còn kiện tụng thì hơn). Sau này trong sách Đại học, tương truyền do Tăng Tử - học trò Khổng Tử viết ra, đã chép rõ hơn câu nói trên của Khổng Tử, nguyên văn như sau: "Tử viết: thính tụng, ngô do nhân dã. Tất dã, sử vô tụng hồ; vô tình giả bất đắc tận kỳ từ, đại úy dân chí, thử vị tri bản, thử vị tri chi chí dã". (Nghĩa là, Khổng Tử nói: xử kiện ta cũng như người khác thôi. Nhưng nhất định phải làm sao không còn kiện tụng thì hơn. Khiến cho những kẻ muốn giấu giếm sự thật, không được giở hết tài bẻm mép của họ, khiến cho dân chúng trong lòng cảm thấy kính sợ. Như vậy có thể nói là biết đến nơi đến chốn).
Rõ ràng Phạm Đình Trọng đã chịu ảnh hưởng của lời dạy trên đây của Khổng Tử khi viết Tượng đầu đoán tụng ký. Năm Nhâm Thân (1752), ông ngồi trên đầu voi xử kiện, nghe hai bên nguyên bị trình bày rõ sự tình. Rồi ông đến tận hiện trường xảy ra việc kiện tụng lâu dài, xem xét cụ thể từng hòn đá cắm mốc, từng dòng khe, con suối, từng ngọn núi, lạch sông... và phân xử hết sức có tình, có lý, vừa tỏ ra đức độ vừa thể hiện đầy uy nghiêm khiến dân chúng hai xã An Sơn và Tiên Lăng đều kính phục. Cuối cùng dân xã Tiên Lăng là bên "bị" - bên xâm chiếm ruộng đất của xã An Sơn buộc phải cúi đầu không thể biện bác, tranh cãi được nữa. Đúng như Khổng Tử từng khuyên phải làm cho "vô tụng hồ" (không còn kiện tụng nữa), điều đó, Phạm Đình Trọng đã thực hiện được!
Thông qua Tượng đầu đoán tụng ký, ta thấy viên quan Trấn thủ Phạm Đình Trọng có đầy đủ tài năng và học vấn, vừa rất sâu sát việc thế thái nhân tình, vừa thông minh, mẫn tiệp, khiến cho dân chúng trong vùng Nghệ An - Bố Chánh hết sức tâm phục, khẩu phục.
3. Về mặt nghệ thuật, ở Tượng đầu đoán tụng ký, văn rất bình dị, nhưng không vì vậy mà không gợi cảm. Cảnh đẹp của giang sơn châu Bố Chánh, thật đẹp và hùng vĩ. Đây là bài tản văn không có vần, nhưng có khá nhiều câu trọng luật đối. Ta phải công nhận rằng bố cục của bài viết rành mạch và nhiều câu thanh nhã, hình ảnh đẹp đẽ, lời du dương:
"Tả cố phù kênh, nham nham sực sực
Hữu chiêm thủy vực, uất uất thương thương"
(Nhìn sang bên tả kênh phù lởm chởm
Ngó sang bên hữu vực nước xanh trong).
"Nam miến tranh chi thủy, thủy lam thanh
Đông vọng sa chi sơn, sơn tuyết bạch"
(Ngoảnh lại dòng phía Nam, nước nhuộm màu chàm
Ngó sang đồi phía Đông, cát trắng như tuyết).
"Sơn đính biệt đông tây
Khê tâm phân thượng hạ"
(Ngọn núi cách biệt đông tây
Dòng suối chia đôi trên dưới).
Hoặc có đoạn, lời lẽ rất mạnh mẽ, chặt chẽ:
"Dư hữu chi viết: Nhĩ khả vị tệ dân hỹ!
Tự khả phế dã, sơn kỳ khả di hồ?
Thạch khả chuyển dã, khê kỳ khả biến hồ?"
(Ta phải hiểu bảo cho bọn ấy biết: Các ngươi quả đáng gọi là lũ mọt dân vậy!
Chùa có thể bị đổ nát, thử hỏi núi kia có thể dời đi đâu được chăng?
Đá có thể bị khuân đi, nhưng còn khe suối kia có thể biến đổi được chăng?).
Bố cục của bài theo lối cổ điển mà cân xứng: đoạn mở đầu và đoạn kết dài ngang nhau; đoạn giữa gồm hai cảnh, đối chiếu với nhau: một cảnh Phạm Đình Trọng đi thực địa, quan sát địa thế vùng núi non châu Bố Chánh ở chân dãy Hoành Sơn, một cảnh ông thung dung ngồi trên đầu voi xử kiện.
Bài viết tuy ngắn gọn nhưng có hô ứng: mở đầu nêu bật nỗi đau khổ của người dân xã An Sơn vì bị tranh chiếm ruộng đất, thông qua hình ảnh một cụ già hơn 80 tuổi, ngậm cỏ, đầu đơn; đoạn cuối nói mọi người cả bên "nguyên" (An Sơn), lẫn bên "bị" (Tiên Lăng) đều vui vẻ tâm phục việc xử tụng của tác giả. Khéo nhất là câu kết: "Tiên Lăng xã diện diện tương thứ, như thổ, như si, như á,..." chính là để minh họa câu: "Vô tụng hồ" của Đức Khổng Tử trong Luận ngữ.
Đọc xong cả bài văn, nhất là đoạn cuối, ta thấy rõ tấm lòng và tư cách cao thượng của tác giả. Thật đúng như sử gia Phan Huy Chú nhận xét: "... Công lao sự nghiệp của ông kỳ vĩ, gần đây chưa từng có". Ngày nay, chúng ta đọc lại bài Tượng đầu đoán tụng ký này, càng hiểu thêm lời nhận xét của sử gia họ Phan là có cơ sở. Và theo tôi, công lao, tài đức của Phạm Đình Trọng xứng đáng được hậu thế nghiên cứu sâu hơn và cần thiết được ghi nhận đúng mức.
Chú thích: