VI | EN
Phát triển văn hóa và giáo dục thời Lê - Trịnh (Tạp chí Hán Nôm, Số 5(102) 2010; Tr.27-35)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(102) 2010; Tr.27-35)

PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC

THỜI LÊ - TRỊNH

ĐINH KHẮC THUÂN

PGS.TS. Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Nói đến thời Lê - Trịnh là nói đến thời kỳ chúa Trịnh tồn tại đồng thời với vua Lê cùng điều hành đất nước. Thời kỳ này nằm gọn trong hai thế kỷ XVII và XVIII. Đây là hai thế kỷ khá quan trọng với nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội nổi bật gắn liền với Thăng Long - Hà Nội. Để củng cố địa vị thống trị và cai quản đất nước, triều đình đã hết sức chú trọng đến phát triển văn hóa và giáo dục.

1. Đề cao giáo dục và khoa cử Nho học

Thời Lê - Trịnh, giáo dục và khoa cử Nho học được tôn trọng và đề cao. Chúa Trịnh luôn ban hành các điều luật nhằm chấn chỉnh sai lệch, tệ đoan trong khoa cử, định hình quy chế cho từng giai đoạn cụ thể.

1.1. Chấn chỉnh thể lệ giáo dục và khoa cử

Chấn chỉnh thể lệ giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê - Trịnh được biết đến trước hết trong các nguồn sử liệu, mà cụ thể là trong Đại Việt sử ký tục biên, bộ sử ghi lại sự kiện thời Lê - Trịnh từ năm 1676 đến 1789. Trong bộ sử này, các sự kiện về giáo dục và khoa cử thời Lê - Trịnh tiêu biểu xin được điểm ra sau đây:

Năm Vĩnh Trị thứ 3 (1678), ban hành 16 điều về thể lệ thi Hương. Ra lệnh các quan châu, huyện khảo hạch sĩ nhân người nào thông văn lý là hạng tứ trường, thông vừa là hạng tam trường. Sĩ nhân tứ trường cũng với Sinh đồ các khoa được chọn đưa đi khảo thí riêng. Do đó người có học ít kẻ bị bỏ rơi hay đọng lại (Đại Việt sử ký tục biên, tr.19).

Năm Chính Hòa thứ 14 (1693), khôi phục thể văn đời Hồng Đức. Từ trung hưng đến nay những người học hành, chuyên chuộng tầm chương trích cú, văn chương ngày càng thấp kém và dở. Nay phép thi nhất nhất dùng thể văn đời Hồng Đức. Lúc làm bài văn tùy câu hỏi, cốt dùng ý mình nghĩ mà viết ra, hơi văn hồn nhiên, không được viết trầm theo lời văn cũ đã thuộc (Sđd., tr.40).

Quy định phép thi Hương và khảo hạch ở các trường hương học và quốc học.

Trường quốc học dùng Tế tửu và Tư nghiệp làm chức quan giảng dạy. Con cháu các quan văn, võ công thần đều được vào học cùng với những học trò khác. Mỗi tháng, học quan cho thi một kỳ tiểu tập để thi khảo các học trò đã được vào học; bốn tháng trọng (tức tháng 2, 5, 8 và 11), quan giám khảo cho thi đại tập để khảo các sinh đồ và cử nhân. Ai thi bốn kỳ đều trúng tuyển thì cho quan giám khảo đứng ra bảo cử, Bộ Lại sẽ bổ dùng.

Trường hương học, dùng Hiệu quan để giảng dạy các sinh đồ và đồng sinh tuấn tú trong phủ mình tình nguyện vào học. Mỗi tháng có hai khóa thi khảo. Ai trúng được 8 kỳ thi, mà là Sinh đồ thì được miễn các kỳ thi khảo hàng năm, còn là đồng sinh thì cho được vào trường thi Hương. Cho phép huyện quan khảo hạch các sĩ tử, số ngạch lấy đỗ hạn định theo huyện: lớn, vừa và nhỏ (huyện lớn 200 người, huyện vừa 150 người, huyện nhỏ 100 người). Sau đó chọn lấy những người trội nhất đem dẫn lên cho quan Phủ doãn và hai ty Thừa chính, Hiến sát khảo hạch lại kỹ càng hơn: có sự phân biệt ra hạng xảo thông và thứ thông rồi cho thi với nhau để định ra hạng giỏi, hạng kém (Sđd., tr.81).

Thời Lê - Trịnh, bắt đầu đặt các khoa thi võ theo quy chế khoa thi văn. Mùa đông năm Quý Mão niên hiệu Bảo Thái thứ 4 (1723), bắt đầu đặt khoa thi võ. Lấy những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi sở cử, những năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi bác cử; cả hai đều ba năm thi một lần. Phép thi: trước hết hỏi qua về Vũ kinh, rồi sau nhiều lần thi đua võ nghệ đến kỳ cuối cùng thi một bài văn sách. Thi sở cử: tỉ thí võ nghệ, người nào trúng cách được làm sinh viên; quan viên tử, quan viên tôn được làm biền sinh. Đợt thi văn sách mà hợp cách thì được làm học sinh; quan viên tử, quan viên tôn mà hợp cách, được làm biền sinh hợp thức thi bác cử; đến kỳ cuối cùng mà trúng cách được làm tạo sĩ. Người nào kỳ đệ tam được dự vào hạng toát thủ cùng được bổ dụng như tạo sĩ (Sđd., tr.94).

Vì thế số khoa thi, người thi ngày một tăng nhanh.

Tân Hợi, Vĩnh Khánh thứ 3 (1731), mùa Hạ tháng tư, sai quan ở các và viện hiệu duyệt văn bản Ngũ kinh để khắc in ban bố.

Nhâm Tý, Vĩnh Khánh thứ 4 (1732), quy định văn kinh nghĩa trong kỳ thi Hương, thi Hội, thay dùng thể thức văn bát cổ, lệnh cho số đông sĩ tử học theo để các khoa thi Hương, thi Hội về sau sẽ thi hành. Bấy giờ Tể thần Nguyễn Công Hãng thích lối văn bát cổ, thường đem khảo hạch nho thần, ai trúng tuyển thì biểu dương, nhưng người học thường ngại vì thể ấy khó. Đến dịp Hãng mất hết chức vị, chưa kịp ai thi hành mà bãi đi (Sđd., tr.135).

Tiếp đó, khôi phục quy chế cũ về khảo hạch năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730) thi Hương. Trước đây phép khảo hạch các khoa thi Nho sinh, sĩ nhân khảo ở huyện, ai giỏi văn thì khảo hạch tại phủ. Đầu năm Bảo Thái (1720), mới bắt đầu cho quan phủ làm chủ khảo, quan huyện cũng dự hội đồng. Việc ít quan nhiều, dần dần thành tệ. Đến đây vì dư luận bàn tán sôi nổi nên ra lệnh khảo và xét cử học trò như cũ (Sđd., tr.136).

Giáp Dần, Đức Long thứ 3 (1734), bản in Ngũ kinh khắc xong, sai chứa ván ở nhà quốc học (Sđd., tr.143).

Tân Dậu, Cảnh Hưng thứ 2 (1741), khôi phục thi Hương. Thể chế thi hương cũ đầu đời Trung hưng là xã khảo hạch học trò chiếu theo xã lớn vừa và nhỏ, lấy số trúng tuyển nạp lên quan huyện. Quan huyện chọn người thông hiểu nghĩa lý văn chương huyện lớn 20 người, huyện vừa 15, huyện nhỏ 10, gọi là tứ tràng... (Sđd., tr.177).

Đinh Mão, Cảnh Hưng thứ 8 (1747), mùa đông, tháng 10 thi Hương. Mỗi huyện định lấy số xuất sĩ tử được đi thi có khác nhau. Trước đây cho thi theo chế độ tứ trường, con em thế gia có lợi trong việc thi, đến kỳ khảo hạch thường cầu cạnh quan huyện lấy trúng. Nhiều người vô học cũng lạm dự, mà người học giỏi nhưng nghèo thì bị bỏ sót. Chúa Trịnh Doanh biết cái tệ ấy, bèn bãi phép thi tứ trường và cho khôi phục phép thi sảo thông như gần đây đã thi hành (Sđd., tr.211).

Thời Trung hưng, phép thi rất nghiêm, con nhà hát xướng không được ứng cử, cho nên Lộc Khê hầu Đào Duy Từ là người có tài, giỏi văn chương, thi Hội đã trúng cách mà vì cái cớ là con nhà hát xướng nên bị tước bỏ tên trong danh sách thi đỗ.

Khảo quan mà dụng tình riêng lấy đỗ, pháp chế cũng rất nghiêm. Tào Sơn Lương Nghi, Lãm Sơn Nguyễn Văn Bàng đều do tư túi mà phải chịu tội đồ. Tam Sơn Ngô Sách Dụ, rồi Sách Tuần đều cũng vì chuyện ấy mà bị xử giảo.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn những đồi bại trong thi cử, như dung tha cho những chuyện lén lút. Chẳng hạn, có lời đồn rằng bài văn sách thi Hội của Lan Khê Nguyễn Hoãn là do hợp sức của sáu vị danh sĩ để làm. Chẳng biết đúng sai thế nào. Có người nói: cha ông ta là Tham tụng Phong Quận công Nguyễn Hiệu, một mình làm văn tướng đã lâu, các quan không ai không sợ oai mà nghe theo. Chính vì thế mà triều đình luôn chấn chỉnh thể lệ thi cử.

1.2. Chính sách khuyến học

Chính sách khuyến học thể hiện trước hết ở việc cấp phát tiền, ruộng của Nhà nước nhằm hỗ trợ việc dạy và học.

Nhà nước cấp ruộng, tiền để chi phí cho các trường quốc học và khích lệ người đi thi. Quý Mão năm Bảo Thái thứ 4 (1723), cấp ruộng cho trường quốc học và hương học, nhiều ít có khác nhau: trường quốc học được cấp 60 mẫu ruộng, trường ở phủ lớn 20 mẫu ruộng, phủ vừa 18 mẫu, phủ nhỏ 16 mẫu (Đại Việt sử ký tục biên, tr.92).

Theo qui chế cũ, cấp học điền cho các phủ, tùy thuộc vào nơi đó có đất hay không. Chưa có lệ định. Niên hiệu Bảo Thái thứ 6 (1725), bắt đầu chuẩn cấp học điền cho các trường. Mỗi phủ được 20 mẫu. Đã dùng lệ này.

Bộ Hộ còn chiếu lệ cấp phát tiền cho người đi thi và đỗ đạt:

- Lệ khoa thi Hương, Bộ Hộ điểm số người thi, các viên Giám sinh đều được Ngự ban tiền, chiếu số phát mua để làm các thứ.

- Lệ khoa thi Hội: trước kì đệ nhất trường một ngày có làm lễ tế các thần bên cung vua, Bộ Hộ lĩnh tiền gạo, chiếu số phát cho cai nha môn làm.

- Lệ khoa Đông Các: Bộ Hộ lĩnh tiền ở Hộ phiên, phát cho quan Ty lễ hai bộ làm.

- Lệ ban yến cho Tạo sĩ: Bộ Hộ lĩnh tiền gạo ở Hộ phiên, phát cho Thái quan Lương Uẩn làm.

- Lệ khoa Thư toán: Bộ Hộ lĩnh tiền tại Hộ phiên mua làm các thứ.

Chính sách đãi ngộ người đi học đi thi được cụ thể bằng cách miễn tuyển lính, cùng phu phen tạp dịch. Những người đỗ trong kỳ thi ở lộ thì được miễn lao dịch và được bổ vào Quốc tử giám. Tuy nhiên, nếu những người này thi không đỗ hoặc đã đỗ rồi mà học hành không tiến bộ thì sẽ bị mất quyền ưu tiên đó. Theo thể lệ nhà Lê treo bảng vàng, xướng danh, ban yến ban mũ áo, vinh quy bái tổ cho người đỗ tiến sĩ. Đồng thời cho khắc bia đề danh.

Cũng chính thời Lê - Trịnh, văn bia đề danh được tái dựng. Trong số 82 văn bia đề danh ở Văn miếu Hà Nội hiện còn, thì năm 1484 còn 7 bia, số còn lại chủ yếu được dựng vào thời Lê - Trịnh, cụ thể là năm 1653 dựng 25 bia, năm 1717 dựng 21 bia.

Chúa Trịnh rất quan tâm đến việc tu sửa Quốc tử giám và bái yết nhà Thái học. Năm Chính Hòa thứ 16 (1695), mùa Đông tháng 10 chúa đến nhà Thái học, bái yết Tiên Thánh, thân làm thơ ca tụng đạo đức thánh nhân, khắc vào bia dựng ở nhà Thái học (Sđd, tr.42). Bài thơ này hiện còn treo trên biển gỗ nhà Thái học, có lời dẫn viết bằng chữ Hán, được dịch ra như sau: “Lời dẫn: Thánh nhân đạo cao đức trọng, khắc ở bia lớn để lại muôn đời. Ngày khánh thành ta đến thăm lại, xem xét khắp chung quanh, thấy thể chế ngay ngắn nghiêm chỉnh, hình thức và nội dung đều tốt đẹp, thật đáng trân trọng, bèn làm bài thơ quốc âm”. Sau lời dẫn này là bài thơ Quốc âm.

Đến thời chúa Trịnh Sâm (1767-1782), Văn miếu Quốc tử giám cũng được tu bổ. Trong lần tu bổ này, một quả chuông đồng được viên quan đứng đầu Quốc tử giám là Nguyễn Nghiễm tổ chức đúc vào năm Cảnh Hưng thứ 29 (1768), hiện đang được treo tại nhà Thái học.

Ngoài việc tổ chức thi Hương, thi Hội, thi Đình ra, nhà nước thời Lê - Trịnh còn tổ chức nhiều hình thức thi cử, khảo khóa khác để lựa chọn giáo viên, viên chức hành chính nhằm nâng cao năng lực chuyên môn của họ.

Bên cạnh hệ thống trường học của nhà nước ở Kinh đô và học hiệu ở phủ lộ, làng xã cũng có hệ thống hương học khá đa dạng. Để duy trì việc dạy và học ở nơi làng xã, chính quyền cho đặt học điền. Ruộng "học điền" này thông qua hai hình thức là trích ruộng công của làng xã và huy động ruộng tư trong dân. Điều này đã được phản ánh khá rõ qua tư liệu văn bia khuyến học nơi làng xã. Chẳng hạn văn bia Học điền bi ký ở xã Phù Chính huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc ghi: “Hạn định về số ruộng học, mỗi năm mỗi mẫu nộp 500 đấu thóc. Thuế công về số ruộng học do bản xã lĩnh chịu”. Với tư liệu như vậy, việc đặt học điền khá phổ biến nơi làng xã do người dân đảm nhận, do hai nguồn hoặc là ruộng đất công, hoặc là do cá nhân đóng góp. Số ruộng này khoán cho dân cày cấy nộp sản. Hoa màu thu được do làng xã quản lý chi dùng vào việc dạy và học của làng.

Chính sách khuyến khích việc dạy và học như vậy góp phần mở rộng việc học trong cả nước.

2. Việc trọng dụng nhân tài

Đối với công chức, triều đình chú trọng việc khảo hạch thường xuyên nhằm bồi dưỡng phẩm chất và chuyên môn. Vì thế thường tổ chức khảo khoá Lại thuộc ở các nha môn, như năm Chính Hòa thứ 14 (1689) chuẩn lệ rằng:

- Người nào liêm chính, cần kiệm, rèn luyện thành thục trong công việc, chiếu lệ thăng chức, sung chức.

- Người nào trung bình, không mắc lỗi, cho lưu lại làm việc.

- Người nào lười biếng, bỉ ổi, đưa ra ngoài phiên trấn ít việc.

- Người nào tham nhũng, giảo quyệt, đuổi về chịu lao dịch. Còn như người nào ở lại nha môn đó đã lâu năm mà không phạm lỗi, chuyển sung đến nha môn khác làm việc.

Niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (1726) vâng khảo khóa thành tích:

- Đối với Vương thân: lấy việc nơi mình cai quản, binh dân bằng lòng hay kêu ca, kho công tiền đủ, thiếu bao nhiêu, chầu hầu đủ thiếu thế nào, để làm mức thưởng hay phạt.

- Đối với Võ ban: lấy việc binh số nơi cai quản đủ thiếu bao nhiêu, binh dân bằng lòng hay kêu ca, tiền kho công đủ thiếu thế nào, khảo đánh trận, bắn, chèo thuyền, sai làm công vụ ra sao… để định mức thưởng phạt.

- Đối với Văn ban: lấy thành tích khảo khóa xử kiện hàng năm ở nơi nhậm chức. Quan trong ngoài Kinh được dân chúng bằng lòng hay kêu ca và chăn dắt dân được dân bằng lòng hay kêu ca, chầu hầu đủ hay thiếu, sai làm sự vụ... để định mức thưởng phạt.

- Thị trung giám: lấy việc dân binh nơi cai quản bằng lòng hay kêu ca, tiền trong kho đủ hay thiếu bao nhiêu? Thành tích khảo khóa về chăn dắt dân, khảo về đánh trận, bắn, chèo thuyền. Sai làm các sự vụ được thưởng hay bị phạt, chầu hầu, trực canh đủ hay thiếu, để làm mức thưởng phạt.

Thành tích khảo khóa của Vương thân, văn, võ quan, tra từ năm Canh Tý đến năm Ất Tỵ, tất cả là 6 năm. Thành tích khảo khóa của Thị nội giám tra từ năm Kỉ Hợi đến năm Ất Tỵ tất cả là 7 năm. Chiếu theo đó phân thành Thượng khảo, Trung thượng, Trung trung, Trung hạ và Hạ khảo có chênh lệch.

Phàm lục sự (ghi lại quá trình làm việc của quan lại) của các quan viên bị luận tội biếm chức, bãi chức, nha môn Bộ Lại vâng được tờ khải đưa đến thì chiếu theo viên nào bị luận biếm chức, giao cho ty Thuyên khảo viết sắc thị thi hành. Bị luận tội bãi chức, thu sắc mệnh.

Một khía cạnh khác trong việc sử dụng nhân tài là việc thuyên bổ.

Năm Chính Hòa thứ 13 (1692), định phép thuyên bổ của Bộ Lại. Chín năm có 1 kỳ thuyên chuyển lớn. Về bổ thì tùy những nơi khuyết mà mỗi năm làm một lần, tại chức lấy 6 năm làm hạn. Các chức tân tá ở các doanh, thì đợi kỳ thuyên chuyển lớn mới nhận lệnh chỉ thi hành (Đại Việt sử ký tục biên, tr.39).

Khảo quan: năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), tháng 2 định lại phép khảo công các quan trong kinh ngoài trấn. Trong ba năm đã khảo đủ theo thể lệ thượng, trung, hạ rồi thì dùng phép trên làm chuẩn để cân nhắc thăng hay giáng (Sđd, tr.61).

Tân Sửu, Bảo Thái thứ 2 (1721), quy định phép thi Hương và khảo khóa ở các trường hương học và quốc học.

Mùa thu, tháng 7 Nhâm Dần Bảo Thái thứ 3 (1722), định phép bảo cử các quan văn võ: từ Tam phẩm trở lên phải do lệnh chỉ đặc biệt mới quyết định, từ tứ phẩm trở xuống nếu có chức vụ nào khuyết thì hàng năm một kỳ, giao cho Đô đường bảo cử xin lệnh chỉ quyết định hàng võ từ Chánh nhất phẩm đến Tòng ngũ phẩm 92 viên, hàng văn từ Tòng nhị phẩm đến Tòng ngũ phẩm 52 viên, Lục phẩm trở xuống cả văn lẫn võ đều không hạn chế số viên chức. Lại quy định thể lệ phong tặng cấp tuất và thờ cúng cho các quan văn, võ tùy theo phẩm trật thứ bậc có khác nhau (tr.89).

Bính Ngọ, Bảo Thái thứ 7 (1726), định phép khảo công các xã trưởng. Trước đây sai bầu đặt Xã trưởng, căn cứ vào xã lớn, xã vừa hay xã nhỏ mà định số. Cho phép quan trấn thủ, cai mục giao cho việc coi giữ xóm làng, và thu nộp thuế tô và dung. Xã trưởng qua hai lần khảo công đều xứng đáng với nhiệm vụ thì được trao cho chức phẩm. Đến nay họp bàn định ba năm khảo công một lần, bắt đầu từ năm nay (Sđd, tr.103).

Mùa hạ tháng 5, chúa Trịnh Giang thân sức về các điều giáo hóa. Chỉ dụ cho quân dân cả nước rằng: tiên thánh vương đời xưa thống ngự thần dân, giữ nước trị dân, tất lấy giáo huấn làm đầu. Nhà nước ta thiện chính chói sáng, quy chế đều đủ, giáo điều ban bố, lời giáo huấn rất rõ. Nhưng đã lâu, dần dần nảy sinh kiêu bạc. Đứa khinh thường thì cho là lưới luật pháp có thể lọt, kẻ ngu muội thì bị bọn thầy cò xúi giục, kiện càn kiện quấy, bị giam bị chấp. Thậm chí phải quỳ gối ở công đình, giao thân cho ô lại, khuynh gia phá sản, không thể nói hết. Khổ gì bằng không nghe giáo điều làm bậy mắc vào tội lỗi. Từ sau này ai có lỗi phải đổi, thấy điều thiện nên làm, biết ngũ hình đáng sợ thì ngày tháng bảo nhau, biết pháp luật không tây vị, thì luôn luôn gắng giữ. Lính thì vui luyện tập võ nghệ, dân thì một lòng tôn vua kính bề trên. Tập tục tốt đẹp thì không cần bày ra hình phạt nữa (Sđd, tr.143).

Ất Mão, Vĩnh Hựu thứ 1 (1735), chúa Trịnh Giang thích văn nghệ, thường những khi ngoài buổi triều hội, mời các bầy tôi thi tụng vào ăn yến trong lầu gác. Có lúc ở nhà Dưỡng chính, đình Bát giác, Tây tung, Phượng các cho các bầy tôi được xem, bàn học sách vở, nghiên cứu đúng rõ nghĩa văn. Hoặc cho xem phép viết chữ chân, thảo, triện. Hoặc hạn vần bảo làm thơ... Như thế nho thần ai cũng được khích lệ (Sđd, tr.148).

Tân Dậu, Cảnh Hưng thứ 2 (1741), cấp lộc điền cho quan văn. Trước kia quan văn được cấp quân tùy hành, coi phẩm cao thấp mà cấp nhiều ít. Quan Nhất phẩm được cấp 24 người tùy hành, giảm dần mãi xuống đến Ngũ phẩm, cứ mỗi phẩm trật rút đi 4 người. Người được cấp lấy tiền đi làm thuê của mấy người ấy làm lộc. Đến nay hộ khẩu hao hụt và do sai khiến lính nhiều, không đủ số mới sai cấp ruộng để thay vào, gọi là liêm điền. Bãi việc quan văn thu tiền của quân tùy hành. Liêm điền của quan nhất phẩm là 50 mẫu giảm dần xuống đến bát phẩm, mỗi phẩm giảm đi 5 mẫu. Hộ phiên tìm ruộng nơi tiện gần mà cấp cho các quan (Sđd, tr.179).

Quý Mùi, Cảnh Hưng thứ 24 (1763), chúa Trịnh dụ các quan văn võ và các ty ngoại nhậm rằng: “Vừa rồi nhân sau khi đánh dẹp, phép tắc quan trường bị lơi lỏng, các quan tùy ý làm bừa. Ta đã tham khảo quy chế điển lệ định lại chức trách của các ty. Đến nay đã hơn 10 năm rồi, thế mà các quan vẫn coi thường lần nữa, ít ai làm tròn chức vụ. Nay ta sửa đổi lệ cũ, đổi mới chính trị. Vậy các ngươi ai nấy đều phải kính giữ chức nghiệp, phát huy tài năng, chớ làm trái phép để mưu lợi riêng, bỏ việc công, chỉ cầu tiền của. Phải bỏ hẳn thói trễ biếng, thói theo hùa. Đưa nhau trở lại con đường công bình chính trực”. Sai quan đem dụ này đi hiểu thị các trấn ngoài biên (Sđd, tr.275).

Giáp Thân, Cảnh Hưng thứ 25 (1764), xét định lệ thuyên bổ bảo cử: ấm tử con quan nhất phẩm bổ ngang với người tam trường tứ trúng; ấm tử con quan nhị phẩm ngang với tam trường tam trúng; ấm tử con quan tam phẩm ngang với tam trường nhị trúng. Người trúng khoa Hoành từ ngang với người tam trúng. Nếu có người nào lý lịch, sự trạng giống nhau thì tính theo khoa trường đỗ trước hay đỗ sau và so sánh xem làm việc ở nơi nhiều việc hay ít việc, mà châm chước cho thỏa đáng. Lý lịch làm việc, công trạng thưởng phạt, đều phải khai trong thời hạn sự thực rõ ràng. Ai ẩn lậu phát giác ra thì phạt nặng, còn ngoài ra tham chước lệ cũ mà thi hành (Sđd, tr.279).

Trong giai đoạn thời Lê - Trịnh, triều đình rất coi trọng luật pháp, nên đã cho soạn thảo luật lệ, làm thành các bộ thiện chính thi hành rộng khắp. Ngoài ra, ở làng xã mở rộng việc biên soạn và thực thi hương ước. Có thể nói đây là giai đoạn hưng thịnh nhất của việc văn bản hóa hương ước. Điều đó giúp ích việc duy trì trật tự xã hội. Bên cạnh đó, phép bảo cử như trình bày ở trên rất được triều đình Lê - Trịnh coi trọng. Đây là cách thức tiến cử và sử dụng người tài giai đoạn này. Phép tắc rất nghiêm ngặt và thưởng phạt rõ ràng. Điều đó có tác dụng nhất định trong việc giảm thiểu nhũng nhiễu, tiêu cực của đội ngũ quan lại.

3. Văn hóa thời Lê - Trịnh

Lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất về nghệ thuật và văn học dân gian, trong đó có sự đóng góp đáng kể của những sáng tác văn học bằng chữ Nôm. Chính Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm là những vị chúa tài hoa thích thơ phú, từng sáng tác rất nhiều thơ Nôm.

Thực tế, đã có không ít tư liệu thư tịch cho biết các vị chúa này đã làm khá nhiều thơ Nôm và từng được người đời khâm phục, ngợi khen. Trong kho tư liệu văn bia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có khá nhiều bia đá, biển gỗ khắc thơ Nôm, trong đó có thơ Nôm của chúa Trịnh. Hiện biết 2 bài thơ Nôm của Trịnh Căn và 2 bài của Trịnh Cương khắc trên biển gỗ.

Trong 2 bài của Trịnh Căn, một bài khắc trên biển gỗ treo tại nhà Thái học, Văn miếu, Hà Nội đề năm Ất Hợi quý đông; một bài khác khắc trên biển gỗ chùa Đậu tức chùa Pháp Vũ xã Gia Phúc huyện Thường Tín (Hà Nội) có ghi niên đại là Chính Hoà Mậu Dần mạnh xuân cốc đán (Ngày lành tháng giêng năm Chính Hoà Mậu Dần: 1698). Còn 2 bài của Trịnh Cương thì 1 bài cũng khắc trên chùa Pháp Vũ xã Gia Phúc huyện Thường Tín có ghi niên đại là Vĩnh Thịnh thập tứ niên thập nguyệt thập cửu nhật (Ngày 19 tháng 10 năm Vĩnh Thịnh thứ 14: 1718), 1 bài khác khắc trên biển gỗ chùa Nhạc Lâm xã Tiên Lữ huyện Quốc Oai (Hà Nội) có niên đại là Vĩnh Thịnh thập tam niên thất nguyệt thập thất nhật (Ngày 17 tháng 7 năm Vĩnh Thịnh thứ 13: 1717).

Thơ Nôm chúa Trịnh được chép trong các sưu tập thơ Nôm khác, tiêu biểu là trong Khâm định thăng bình bách vịnh tậpLê triều ngự chế quốc âm thi.Sách Khâm định thăng bình bách vịnh tập hiện ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu AB.587, được Di sảnHán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu giới thiệu như sau: “1 bản viết, 83 tr., 90 bài thơ của Trịnh Tùng đề vịnh về đền chùa, danh lam thắng cảnh, thiên văn, địa lí, thời tiết...”(Di sản Hán Nôm..., Sđd. tr.23). Còn sách Lê triều ngự chế quốc âm thi, Thư mục đề yếu ghi: “1 bản viết, 72 tr., 27 x 15cm, kí hiệu AB.8, MF.1795. 40 bài ca Nôm và 46 bài thơ Nôm của vua Lê vịnh phong cảnh và danh thắng trong lúc đi tuần du các địa phương: Cảnh Bồ Đề, chùa Tháp Nhạn, bến Lai Triều, chùa Thiên Phúc, núi Dục Thúy...” (Di sản Hán Nôm..., Sđd. tr.156). Sách này được sao chép về sau và đầu đề sách do người sưu tập đặt ra, nhưng lại là hợp các thơ, khúc của Trịnh Cương với tiêu đề là Tuần tỉnh ký trình khúc.

Những tác phẩm Nôm này phản ánh nhiều mặt về xã hội thời Lê - Trịnh cuối thế kỉ XVII đầu XVIII, mà cụ thể là những nét đặc sắc về cuộc sống thăng bình, thịnh trị của đất nước.

Các chúa Trịnh thường đi tuần du, thăm thú cảnh vật thiên nhiên, vãn cảnh chùa, mến mộ đạo Phật. Chính các thành viên trong Hoàng tộc chúa Trịnh đã bỏ nhiều tiền của, công sức tu sửa, xây dựng chùa Phật. Hiện có khá nhiều tư liệu văn bia ghi lại các hoạt động này của gia đình họ Trịnh. Thực tế đã có khá nhiều chùa, quán thế kỉ XVII, XVIII được xây dựng và tu bổ với sự đóng góp to lớn của các vị trong phủ chúa, như Vương phủ Thị nội cung tần Lương Thị Ngọc Tiến, Thái Hòa cung Phó tướng thiếu phó Vĩnh Quận công Trịnh Thụ, Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Bính, Trịnh ThịNgọc Khải, Trịnh Thị Ngọc Diệp, Cai quan Tùng Quận công họ Trịnh... Chuông chùa Phổ Hóa xã Quảng Bị huyện Chương Mỹ, Hà Nội đúc năm Cảnh Trị 3 (1665) doQuận chúa Ưu bà di Trịnh Thị Ngọc Trâm hiệu Diệu Quang hưng công. Chuông chùa Diên Phúc huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh đúc năm Phúc Thái 6 (1648) do các vị Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Đảo, Trịnh Thị Ngọc Nga, Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Bằng, nữ tử Trịnh Thị Ngọc Bả cúng tiền hưng công. Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) do Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Trúc xây dựng vào thế kỉ XVII, chùa Tây Phương do Trịnh Tráng tu sửa năm 1660, đền Quán Thánh do chúa Trịnh Tạc dựng và đúc pho tượng đồng lớn năm 1677, ...

Tiếp theo Trịnh Căn, Trịnh Cương là Trịnh Doanh và đặc biệt là Trịnh Sâm, chính Trịnh Sâm hiện để lại khá nhiều thơ Nôm ở các di tích danh thắng, như chùa Hương, chùa Thày, cũng như hàng loạt danh thắng vùng đất Thanh Hóa khác. Trịnh Sâm còn là người sáng tác nhiều khúc ca cho hát nói, ca trù. Nhà nghiên cứu ca trù Ngô Linh Ngọc, cho là tác giả Trịnh Sâm chính là người làm ra điệu Thổng trong lối hát thơ Thiên Thai của nghệ thuật ca trù (Trịnh Sâm cuộc đời và sự nghiệp).

Có thể nói, các chúa Trịnh đều rất thích sáng tác thơ Quốc âm, lại thường thù tạc, nên đã tạo ra đội ngũ sáng tác thơ Nôm ngày một đông đảo, cũng như mở ra một không khí sôi động sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm, chữ Hán. Trong số thi nhân đó, tiêu biểu là Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Mậu Áng, Vũ Thạnh, Đinh Nho Hoàn, Lê Anh Tuấn... Trong các sáng tác bằng chữ Nôm ở thời chúa Trịnh có một mốc hết sức quan trọng là xuất hiện lần đầu tiên một cuốn từ điển song ngữ Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, được in lại vào năm Cảnh Hưng thứ 22 (1761). Hàng loạt truyện Nôm khuyết danh ra đời ở thời kỳ này, trong đó có tập diễn Nôm sự tích Nguyên phi Ỷ Lan theo thể lục bát có tới 606 câu, tương truyền là tác phẩm của bà Trương Thị Ngọc Trong, phi của An vương Trịnh Cương. Đây là sự đóng góp vào quá trình hoàn thiện thể truyện thơ lục bát mà đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du ở đầu thế kỷ sau đó - thế kỉ XIX.

Tóm lại, các chúa Trịnh thời Lê - Trịnh kể từ Trịnh Căn, Trịnh Cương, và sau đó là Trịnh Doanh và Trịnh Sâm là các vị chúa có vai trò hết sức to lớn góp phần hưng thịnh đất nước trong nhiều lĩnh vực, nhất là văn hoá và giáo dục. Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất nghệ thuật điêu khắc dân gian, với hàng loạt ngôi đình, chùa làng được dựng lên đồ sộ, lộng lẫy như những lâu đài kiến trúc dân gian đặc sắc nhất của làng quê người Việt. Đây cũng là thời kỳ phát triển của văn học dân gian, nhất là văn học chữ Nôm. Chính các vị chúa này đã đặt móng xây nền cho sự nở rộ tác phẩm Nôm vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII. Tuy nhiên sự sưu tập và nghiên cứu toàn diện về các tác phẩm chúa Trịnh trong giai đoạn này còn nhiều hạn chế. Bài viết này xem như việc đặt vấn đề cho sự nghiên cứu và đánh giá lại vị thế của các vị chúa này trong văn học chữ Nôm, cũng như phát triển văn hóa giáo dục thời Lê - Trịnh.

Tài liệu tham khảo

1. Lịch triều hiến chương loại chí, Bản dịch, q.XXVI, Sử học, 1960-1961.

2. Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Bản dịch, Nxb. KHXH, H. 1991.

3. Các làng khoa bảng Thăng Long - Hà Nội: Bùi Xuân Đính, Nguyễn Viết Chức chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004.

4. Các nhà khoa bảng Việt Nam. Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, H.1993.

5. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa-François Gros đồng chủ biên,T2, KHXH, H. 1993, tr.23.

6. Trần Văn Giáp: Lược khảo khoa cử Việt Nam, từ khởi thủy đến khoa Mậu Ngọ, in trong Nhà sử học, Nxb. KHXH, H. 1996.

7. Nguyễn Thế Long: Nho giáo Việt Nam giáo dục và thi cử, Nxb. Giáo dục, H. 1995.

8. Nguyễn Vinh Phúc: Văn hiến Thăng Long, Nxb. Trẻ, H. 2004.

9. Nguyễn Quang Thắng: Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1993.

10. Trịnh Sâm cuộc đời và sự nghiệp, Kỷ yếu Hội thảo, H. 2009.

11. Đinh Khắc Thuân: Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê qua tài liệu Hán Nôm, Nxb. KHXH, H. 2009./.
                   
                                                                              (Tạp chí Hán Nôm, Số 5(102) 2010; Tr.27-35)

Đinh Khắc Thuân
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm