VI | EN
Tham tụng Nguyễn Nghiễm và bài văn tế danh tướng Phạm Đình Trọng (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (114) 2012; tr.55 - 60)
Tham tụng Nguyễn Nghiễm và bài văn tế danh tướng Phạm Đình Trọng (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (114) 2012; tr.55 - 60)

THAM TỤNG NGUYỄN NGHIỄM VÀ

BÀI VĂN TẾ DANH TƯỚNG PHẠM ĐÌNH TRỌNG

TS. VƯƠNG THỊ HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trên Tạp chí Hán Nôm số 3 (100) - 2010 trong bài "Bài văn tế Phạm Đình Trọng của Tiến sĩ Trần Danh Lâm" tác giả Nguyễn Minh Tường và Đỗ Lan Phương viết "Bài Văn tế Phạm Đình Trọng của Trần Danh Lâm, không phải là bài Văn tế do triều đình Lê - Trịnh "sai quan kính tế" Phạm Đình Trọng. Vì trong bài Văn tế do quan triều đình Lê - Trịnh kính tế, có câu: "Núi Hoành Sơn có thể mài gươm; Sông La Hà có thể rửa áo giáp...". Trong bài Văn tế của Trần Danh Lâm không có câu này". Phạm Đình Trọng là một danh tướng dưới thời Lê - Trịnh(1). Trong buổi tiễn đưa Phạm Đình Trọng, vua Lê chúa Trịnh đều vô cùng thương tiếc. Chúa Trịnh đích thân làm một đôi câu đối để bày tỏ tấm lòng mình. Các sử sách đều ghi vua Lê sai quan tới dự tế và làm một bài văn kính tế. Và đúng như Nguyễn Minh Tường và Đỗ Lan Phương nhận định, bài văn tế của Tiến sĩ Trần Danh Lâm không phải là bài văn được vua Lê chúa Trịnh ủy thác trong buổi chính tế. May mắn trong quá trình nghiên cứu mối liên hệ tư tưởng của các văn sĩ dưới thời Lê - Trịnhtôi đã tìm thấy một bài văn tế của Nguyễn Nghiễm viết về danh tướng Phạm Đình Trọng(2) trong cuốn gia phả họ Phạm ở Khinh Dao, Chí Linh, Hải Dương. Cuốn gia phả được viết chữ đá thảo, gồm 2 phần: phần Tiền biên viết về hành trạng Phạm Đình Trọng, phần Chính biên viết về thế thứ từng người trong dòng họ. Tên người và thứ tự các đời đều được viết to đài lên cao, còn dòng cước chú viết chữ nhỏ và thấp hơn. Phần chính biên được coi là tư liệu rất thú vị về cuộc đời Phạm Đình Trọng, có nhiều chi tiết bổ sung cho chính sử. Trong đó có những ghi chép về thơ văn thù đáp của ông với người đời, và đặc biệt là những ghi chép về hoàn cảnh ngày ra đi của Phạm Đình Trọng.

Theo gia phả họ Phạm Khinh Dao cho biết thì vào năm Giáp Tuất (1754), khi nghe tin Phạm Đình Trọng mất ở quân doanh trấn Nghệ An, Chúa Trịnh Doanh sai Thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Công Thái đến tế và tặng 16 chữ: "phủ dân, tiễu khấu, cố bản, an biên, ái quốc, trung quân, hoàn danh, cao tiết" (nghĩa là: yên dân, diệt giặc, vững gốc, an biên, yêu nước, trung quân, danh thơm, cao tiết).Gia phả cũng ghi việc, vua Lê Hiển Tông vô cùng thương xót Phạm Đình Trọng nên đã sai quân thủy bộ hộ tống linh cữu ông về làng Khinh Dao mai táng, đồng thời sai quan Thượng thư Trần Cảnh đến tận nơi dự tế, sai Tham tụng Nguyễn Nghiễm soạn bài văn tế. Tìm hiểu kĩ thì thấy bài văn tế Phạm Đình Trọng do vua Lê sai Nguyễn Nghiễm viết chính là bài văn kính tế với những câu "Núi Hoành có thể mài đao; Sông La có thể rửa áo giáp..." mà các nhà nghiên cứu đang đi tìm.

Với bài văn tế này Nguyễn Nghiễm đã diễn tả sâu sắc tình cảm, sự kính trọng của mình với Phạm Đình Trọng. Đồng thời bài văn tế cũng diễn tả niềm tiếc thương, cảm kích của triều đình Lê - Trịnh với một danh tướng lẫy lừng như Phạm Đình Trọng.

Trước khi giới thiệu bài văn tế, chúng tôi muốn giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Nghiễm. Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775),người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh. Ông có tên hiệu Nghi Hiên , biệt hiệu Hồng Ngư cư sĩ , tự Hy Tư và thụy là Trung Cần . Ông nội Nguyễn Nghiễm là Nguyễn Thể làm Điển binh, cha là Nguyễn Quỳnh làm Chánh đội trưởng. Nguyễn Nghiễm sinh năm Mậu Tí niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 4 (1708). Sau khi đỗ thi Hương (1723), Nguyễn Nghiễm được vào học Quốc tử giám (1724). Khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 3 (1731) Nguyễn Nghiễm thi Hội xếp thứ 8, thi Đình được ban Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, tức Hoàng giáp. Sau khi thi đỗ, Nguyễn Nghiễm được cử đi truyền chiếu ở Nghệ An; rồi làm Giám khảo trường thi Hương ở Thanh Hoa. Năm 1734 ông được nhận chức Hàn lâm viện Đãi chế. Sau đó trong hai năm liền ông phải trở về quê cư tang cha, rồi tiếp đến cư tang mẹ. Tháng 11 năm 1737, Nguyễn Nghiễm trở lại triều được bổ chức Hiến sát sứ Thanh Hoa. Từ niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 4 (1739) Nguyễn Nghiễm với chức Hiến sát sứ Thanh Hoa đã cùng với Trấn thủ Liễn Quận công Vũ Tá Liễn đi đánh Lê Duy Mật ở đạo Khang Chính miền Tây Thanh Hóa. Đầu năm 1740 triều đình triệu ông về kinh để đi đánh dẹp ở Cẩm Giàng, Hải Dương. Năm1740 làm Quyền Tán lý, hiệp đồng với Nghiêm Quận công Trịnh Trạch đi đánh dẹp ở đạo Đông Bắc. Năm 1740 cùng Trương Trang và Đôn Lãng hầu hiệp đồng với Cổn Quận công Trương Khuông đi đánh dẹp ở các xã Phạm Lâm, Đoàn Lâm (Thanh Miện, Hải Dương). Cuối năm 1740 Nguyễn Nghiễm đi tuyển mộ lính ở Nghệ An, rồi ngay đầu năm 1741 với đội quân hầu như chưa được luyện tập đó ông đã phải dàn trận ở bến Kim Luông để đối phó với quân của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ đang bao vây uy hiếp kinh đô ở bờ bắc sông Nhị Hà. Từ đó liên miên ngót 20 năm đầu đời Cảnh Hưng, Nguyễn Nghiễm phải vất vả hành quân đánh dẹp: đi đánh Lê Duy Mật ở miền Tây Thanh Hoá, đến Sơn Tây đánh Nguyễn Danh Phương, lên Hưng Hóa đánh Hoàng Công Chất, về Sơn Nam Hạ đánh quân Ngân Già, sang Kinh Bắc dẹp quân của Nho Bồng, cùng Hoàng Ngũ Phúc, Bùi Thế Đạt đi đánh chúa Nguyễn Đàng Trongv.v…

Ông là người sinh ra đại thi hào Nguyễn Du. Trong truyện về cha con cụ Đại Tư đồ, Phạm Đình Hổ viết: “Nguyễn Nghiễm xuất thân bạch đinh, tuổi trẻ đỗ Tiến sĩ, sau ra làm quan các đài bộ, vào tham tụng chốn phủ đường… Khi mất được phong phúc thần, vinh hiển đến thế là cùng”. Còn sử gia Phan Huy Chú nhận xét: "Ông tài lược văn võ, lúc nhỏ học giỏi thi đỗ. Trải thờ 3 triều, quanh quẩn chỗ đài thự, vào làm tướng văn ra làm tướng võ, ở ngôi Tể tướng 15 năm. Ông sắp đặt gọn mọi việc bề bộn, đối xử ứng tiếp lúc nào cũng như lúc nào, Ân vương (Trịnh Doanh) thường khen là người có đức vọng tài trí. Là bậc nguyên lão trong nước, làm cột đá cho triều đình, công lao và danh vọng long trọng, đời bấy giờ ai cũng khen ngợi".

Không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực chính trị, mà người đời còn biết đến ông với tư cách là một nhà thơ, nhà văn, nhà sử học tài năng. Ông từng viết tựa cho cuốn Trung quân liên vịnh tập 中軍聯詠 trong Danh gia thi tạp vịnh 名家詩雜, kí hiệu A.1104, đề năm Cảnh Hưng Tân Dậu 1741; tập Gia phả họ Ngô Trảo Nha năm 1748; viết tựa cho cuốn Lạng Sơn Đoàn thành đồ 諒山團城圖năm 1758; … Thơ, văn của ông nằm rải rác trong các sách Cố Lê nhạc chương thi văn tạp lục 故黎樂章詩文雜錄, Quốc âm thi 音詩AB.179, Thanh Hóa Vĩnh Lộc huyện chí 清化永祿縣誌 VHv.1371/a; VHv.1371/b, v.v… Ông cũng chính là người biên tập các sách: Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả 驩州宜家世VHv.1852., Nguyễn tộc gia phả 阮族家譜VHv.369. Thể Phú ông có bài Khổng Tử mộng Chu Công; về văn bia ông có 2 bài ký cho bia Tiến sĩ khoa Canh Thìn Cảnh Hưng thứ 21 (1760) và khoa Bính Tuất Cảnh Hưng thứ 27 (1766); viết Từ vũ bi kí ở sinh từ Quận công Phạm Huy Đĩnh ở làng Cao Mỗ huyện Đông Hưng, Thái Bình(2). Bài thơ Sư để Hội An phố đề Quan Phu Tử miếu và bài tán “Quan Phu tử miếu tán hiện đang treo ở miếu Quan Thánh, phố cổ Hội An. Đúng như PGS.TS Ngô Đức Thọ nhận định các tác phẩm "của Nguyễn Nghiễm đến nay đều chưa được nghiên cứu công bố"(3). Chính vì bài văn tế Phạm Đình Trọng của ông rất hay và cũng vì nhằm giới thiệu thêm một tác phẩm của Nguyễn Nghiễm góp phần làm dày dặn thêm sưu tập về tác phẩm của ông nên chúng tôi xin giới thiệu bài văn tế này.

Nguyên văn bài văn tế Phạm Đình Trọng do Nguyễn Nghiễm viết như sau:

!

可以磨刀

羅河可以洗甲.

山河長在而公今安在哉 ?

此古人聞磬声則思封強之臣而余心之所深慨也 ?

惟公一身胆氣

萬甲胸中.

餘十年冒雪衝霜,紏紏壯猶靡辞矢石

經百戰摧山壓浪彰彰洪烈可縑緗

未酬

萬里之馳.

每謂長城重寄方期声壯於唐臣

胡然五丈遙屯忽报燈殘於漢將

細柳門如

旄之軍令

.

.

, ,

激昂 ,

.

,

.

.

 

Phiên âm:

Ô hô!

Hoành Sơn khả dĩ ma đao,

La Hà khả dĩ tẩy giáp,

Sơn hà trường tại nhi công kim an tại tai?

Thử cổ nhân văn khánh thanh tắc tư phong cương chi thần, nhi dư tâm chi sở thâm khái dã?

Duy công nhất thân đảm khí,

Vạn giáp hung trung.

Dư thập niên mạo tuyết xung sương, củ củ tráng do mị từ thỉ thạch,

Kinh bách chiến tồi sơn áp lãng, chương chương hồng liệt khả kỉ kiêm tương.

Thiên chung chi ưu ốc vị thù,

Vạn lí chi trì khu diđốc.

Mỗi vị trường thành trọng kí phương kì thanh tráng ư Đường thần,

Hồ nhiên ngũ trượng dao đồn hốt báo đăng tàn ư Hán tướng.

Tế liễu chi viên môn như tạc,

Tiền mao chi quân lệnh mang văn.

Dư phương hoài Thái Dĩ chi tư,

Công nhẫn hốt cập qua chi ước .

Tưởng công chi hùng phong lẫm liệt, tặc đảm mao hàn,

Khái công chi trung khổn kích ngang, thiên tâm vĩnh giám.

Ai tai, tích tai,

Quân thần đại nghĩa.

Vạn cổ trường tồn,

Thị dụng sai quan dụ tế công kì hưởng chi.

 

Dịch là:

Ô hô!

Hoành Sơn có thể mài đao ,

Sông La có thể rửa giáp.

Núi sông còn mãi, mà ông nay đang ở nơi đâu?

Đó là việc, người xưa nghe tiếng khánh thì nhớ đến người bề tôi gìn giữ biên cương, bởi thế mà lòng tôi vô cùng cảm khái.

Mình ông, một thân can đảm,

Muôn vàngiáo mác trong lòng.

Hơn mười năm gối tuyết nằm sương, mạnh mẽ hiên ngang, không quản gì tên đạn,

Trải trăm trận đè non cưỡi sóng, công lao rực rỡ, còn ghi trong sử xanh.

Ơn muôn hộc chưa được đền bù,

Thân ruổi rong dặm ngàn vẫn gắng.

Thường nghĩ, đem trọng trách bề tôi giỏi gửi Trường Thành, đang mong đợi ở bậc bề tôi nhà Đường(4) ,

Cớ sao từ đồn Ngũ Trượng xa xôi, bỗng tin báo đèn tàn nơi tướng Hán(5).

Cửa quân doanh quang cảnh liễu vẫn như xưa,

Quân mang cờ tiên phong không còn nghe lệnh.

Tôi đang mang hoài vọng như bàithơ Thái dĩ(6) ,

Ông sao nỡ vội quay về theo lời ước(7) .

Nghĩ phong thái ông lẫm liệt oai hùng, khiến giặc sợ run mất mật,

Thương ông lòng trung trinh tiết liệt, có trời cao soi xét.

Xót xa! Tiếc thương thay!

Quân thần đại nghĩa,

Vạn cổ trường tồn.

(Vua) sai quan dụ tế, mong ông về hâm hưởng.

 

Một vài nhận xét

Bài văn tế trên được làm theo lối Đường luật, gồm đủ 4 phần: Lung khởi, Thích thực, Ai vãn Kết. Phần Lung khởi của bài văn tế luận bàn về lẽ sinh tử bắt đầu bằng từ "Ô hô", phía sau luận giải về sự trường tồn của trời đất và đưa ra lời đúc kết đầy ai oán còn "ông nay đang ở nơi đâu?”. Sự so sánh giữa trường tồn và phù du. Song sự phù du ấy không phải là sự mất đi vĩnh viễn mà nó chỉ chuyển trạng thái tồn tại khác. Chính phẩm hạnh, nhân cách của người được tế là cái trường tồn mãi mãi cùng trời đất. Phần Ai điếu bày tỏ lòng xót thương: Công nhẫn hốt cập qua chi ước. Phần Kết khép lại bằng câu: Thị dụng sai quan dụ tế công kì hưởng chi.

Bài văn tế được gieo theo lối liên vận. Luật bằng trắc được giám sát chặt chẽ. Các vế đối chỉnh cả về hình thức (số chữ, ngắt câu) và nội dung, như:

"Tưởng công chi hùng phong lẫm liệt, tặc đảm mao hàn,

Khái công chi trung khổn kích ngang, thiên tâm vĩnh giám".

Do hoàn cảnh có nhiều nét tương đồng với Phạm Đình Trọng, cùng đỗ đại khoa, từng tham gia xông pha trận mạc nên Nguyễn Nghiễm cảm khái viết ra bài văn tế bày tỏ sự thương xót vô hạn nhưng lời lẽ không ủy mị mà rất hào sảng tráng ca. Câu chữ mạnh mẽ dùng để ca ngợi phong thái của người anh hùng:

"Dư thập niên mạo tuyết xung sương, củ củ tráng do mị từ thỉ thạch,

Kinh bách chiến tồi sơn áp lãng, chương chương hồng liệt khả kỉ kiêm tương".

Kết luận

Qua bài văn tế Phạm Đình Trọng người đọc được tiếp xúc thêm một tác phẩm của đại bút Nguyễn Nghiễm. Sự diễn đạt tinh tế cảm giác vừa xót xa thương tiếc đối với sự ra đi của người đồng triều vừa hào hùng ca ngợi công lao của người đã khuất khiến người đọc được trải nghiệm từ cảm xúc này tới cảm xúc khác thật khó diễn tả. Chính thể loại văn tế với lối văn biền ngẫu giàu nhạc điệu và nhất là tính nhân văn sâu sắc của Nguyễn Nghiễm thiết nghĩ đã ảnh hưởng không nhỏ tới văn phong và tình cảm của đại thi hào Nguyễn Du sau này.

Còn về cuộc đời người được tế - Phạm Đình Trọng có lẽ cũng được an ủi phần nào nơi chín suối. Nghi án ông mất là do Đỗ Thế Giai đầu độc có người cho rằng vì ghen ghét cá nhân, lại cũng có người cho rằng vì Phạm Đình Trọng quá đa tài nên bị triều đình đố kị v.v… dẫu sao qua sự cử hành tang lễ trọng thể của triều đình và nhất là qua bài văn tế mà vua Lê Hiển Tông sai Nguyễn Nghiễm viết chứng tỏ ông là một bậc anh hùng. Một bậc anh hùng được triều đình công nhận cả khi sống lẫn khi đã mất.

Chú thích:

(1) Về danh tướng Phạm Đình Trọng, ông người làng Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, trấn Hải Dương, nay là thôn Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ông là người có tài văn võ, tương truyền gọi là Thần Ngũ hồ giáng sinh. Năm Kỷ Mùi (1739), ông đỗ Tiến sĩ lúc 25 tuổi. Ngay khi đỗ đạt ông đã được bổ làm Phó đô Ngự sử, rồi vào phủ chúa Trịnh làm Bồi tụng, tước Dao Lĩnh hầu. Ít lâu sau, ông đổi làm Hiệp trấn ba đạo Đông Nam Bắc, thống lĩnh quân đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa thời bấy giờ. Ông từng được phong Tả Thị lang Bộ Công, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Dương võ tuyên lực công thần, giữ chức Thượng thư Bộ Binh, Thiếu bảo, tước Hải Quận công, Trấn thủ Nghệ An, kiêm lĩnh Đốc suất quân dân ở châu Bố Chính (Quảng Bình). Ông mất năm Giáp Tuất (1754), tương truyền do bị Đỗ Thế Giai đầu độc. Triều đình truy phong ông là Đại vương, Phúc thần và lập đền thờ ở làng Càn Sơn, huyện Kỳ Hoa. Phạm Đình Trọng là người đã nhiều lần tham gia và chỉ huy các cuộc dẹp loạn khởi nghĩa nông dân. Với một bộ phận dân chúng chống lại triều đình nhà Lê - Trịnh, ông đã trở thành kẻ đối địch với họ. Tuy vậy ông vẫn được sử sách công nhận là một người văn võ toàn tài, một bậc quân tử, sống cương trực và thẳng thắn. Bởi vậy, sau khi ông mất, nhân dân nhiều vùng đã lập đền thờ để tưởng nhớ công đức của ông vì đã giúp họ sống yên ổn.

(2) Theo Phạm Minh Đức trong Tạp chí Hán Nôm số 2/2008.

(3) Theo http://ngoducthohn.blogspot. com/2012/06/te-tuu-nguyen-tri-quoc-tu-giam-xuan.html

(4)(5) Bề tôi nhà Đường, chỉ Bùi Độ đời Đường được phong làm Thượng thư Hữu thừa. Thủa nhỏ có vị tăng xem tướng bảo là phải tu nhân hành thiện nếu không sẽ chết đói. Bùi Độ ra sức hành thiện, một thời gian sau khi vị tăng ấy xem tướng lại cho ông và ngạc nhiên thấy ông có tướng làm Tể tướng. Ở đây ý chỉ Phạm Đình Trọng làm nhiều việc thiện như thi hành chính sách đức trị, coi dân là gốc, thương quý dân như con nên khắp vùng Nghệ An, Bố Chính do ông cai quản dân an cư, lạc nghiệp, đời sống ấm no, giống như việc Bùi Độ hành thiện. Tướng nhà Hán: chỉ việc Gia Cát Lượng làm tướng nhà Hán thấy điềm sao sa ở gò Ngũ Trượng, sau mắc bệnh nặng mất trên đường hành quân, giống như Phạm Đình Trọng mất khi ông thấy sao Mão rơi vào người.

(6) Cập qua: sách Tả truyện hết một mùa dưa, là hạn thay quân. Ở đây muốn nói tới việc ông đi đánh dẹp ở Nghệ An đang sắp đến hạn quay về.

(7) Thái dĩ:bài thơ trong phần Tiểu nhã ở Kinh Thi nói về việc tướng quân đời Chu là Phương Thúc dạy quân cẩn thận nên khi đánh phạt quân man di toàn thắng. Ý chỉ Phạm Đình Trọng người mưu lược, văn võ song toàn dẹp yên các cuộc nổi dậy của Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu…

* Bài viết được sự tài trợ của Quĩ Phát triển khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), và được sự góp ý của PGS.TS Nguyễn Tá Nhí - PGS.TS Trần Thị Băng Thanh. Nhân đây người viết xin được cảm ơn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Gia phả họ Phạm ở thôn Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

2. Thượng tướng công Việp công Hoàng Ngũ Phúc, Trịnh Khắc Mạnh (Chủ trì) Nxb. KHXH, H. 2011.

3. Nguyễn Minh Tường - Đỗ Lan Phương: Bài văn tế Phạm Đình Trọng của Tiến sĩ Trần Danh Lâm. Tạp chí Hán Nôm số 3 (100) - 2010, tr.51-57.

4. Đặng Xuân Bảng: Việt sử cương mục tiết yếu, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. KHXH, H. 2000.

5. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb. Giáo dục, H. 2008.

6. Goole: http://ngoducthohn.blogspot. com/2012/06/te-tuu-nguyen-tri-quoc-tu-giam.

7. Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2006./.

(Tạp chí Hán Nôm; Số 5(114) 2012; Tr.55-60)

Vương Thị Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm