VI | EN
Tìm hiểu thêm về Sa môn An Thiền (Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (86) 2008; Tr.48-55)
Số 1 (86)

T×m hiÓu thªm vÒ sa m«n an thiÒn

ThS. Thích Minh Tín

Trường Trung cấp Phật học Hà Tây

Hòa thượng Phúc Điền (1784-1863) một danh tãng tịnh hàng Phật pháp, từng được triều Nguyễn phong hàm Tãng cang Giới đao Độ điệp. Ông đã biên soạn, biên dịch nhiều tác phẩm Phật học có giá trị mà ngày nay được giới nghiên cứu Phật học đánh giá cao.

Tuy nhiên khi nghiên cứu về Hòa thượng hiện còn nhiều điều cần bàn, nhất là Pháp danh, pháp hiệu của ngài. Sa môn An Thiền có phải là pháp danh của ngài hay không ? Bài viết xin lí giải vấn đề này.

1. Tên gọi Sa môn An Thiền xuất hiện ở các sách:

Sách Đạo giáo nguyên lưu, đề là “Bồ Sơn Đại Giác Thiền tự Độ điệp Hòa thượng Lâm Tế phả Sa môn An Thiền biên tập”.

Sách Tại gia tu trì tam giáo nguyên lưu, quyển thượng, đề “Bồ Sơn Đại Giác Thiền tự Độ điệp Hòa thượng Lâm Tế phả Sa môn An Thiền biên tập”, quyển trung cũng đề Như vậy, quyển hạ đề “Bồ Sơn Đại Giác Thiền tự Độ điệp Hòa thượng Lâm Tế phái Sa môn An Thiền biên tập”.

Sách Kim Cýõng Di Đà kệ chú châm minh, đề “Đại Giác Thiền tự Độ điệp Phúc Điền Hòa thượng Sa môn An Thiền phụng tạo khắc ấn”.

Sách Phật Tổ thống kỉ kí hiệu HT180, Thư viện Quán Sứ có đề “Hà Nội tỉnh Liên Trì tự Lâm Tế phái Sa môn An Thiền Độ điệp Phúc Điền Hòa thượng”.

2. Những lý giải của các nhà nghiên cứu từ trýớc đến nay:

2.1. Những quan điểm cho rằng Sa môn An Thiền và Hòa thượng Phúc Điền là hai ngýời khác nhau.

2.1.1. Sách viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam biên soạn bằng Quốc ngữ ra
đời týõng đối sớm là sách Việt Nam Phật giáo sử lược của Hòa thượng Thích Mật Thể, xuất bản tại Hà Nội năm 1943. Trong phần viết về Phật giáo giai đoạn triều Nguyễn, tác giả chỉ giới thiệu về nhân vật An Thiền, ông viết: "An Thiền Đại sý, không rõ ngài tên họ là gì, chỉ biết ngài ở chùa Đại Giác Bồ Sơn (thuộc tỉnh Bắc Ninh). Ngài tu hành tinh tiến, học hạnh kiêm toàn...". Về nhân vật Phúc Điền, thì ông không đề cập tới.

2.1.2. Sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, học giả Trần Văn Giáp giới thiệu Sa môn An Thiền là tác giả Đạo giáo nguyên lưu.

2.1.3. Trong sách Sự phát triển của tý tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám của Trần Văn Giàu, xuất bản tại Hà Nội năm 1973. Phần thời Nguyễn, ông viết: "Trong thời Thiệu Trị, một quyển sách nhỏ ra đời, bênh vực Phật giáo, tuyên truyền Phật lý, quyển Đạo giáo nguyên lưu do một quan đại thần là Nguyễn Đăng Giai viết dýới bút danh là Sa môn An Thiền...”.

2.1.4. Sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, tập hai, công bố tại Paris năm 1978, ở chýõng XXV có tiêu đề là: Các danh Tãng đời Nguyễn. Tác giả giới thiệu thành hai nhân vật. Viết về An Thiền: "Ông là tác giả Tam giáo thông khảo. Sách cũng có tên Đạo giáo nguyên lưu, được biên tập vào khoảng giữa thế kỉ XIX, trong thời gian vua Thiệu Trị tại vị. Thiền sý An Thiền trụ trì tại chùa Đại Giác ở làng Bồ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sách Tam giáo thông khảo gồm ba quyển có lẽ sách được in năm 1845, bởi vỡ đầu sách có bài tựa ký tên Nguyễn Đại Phýõng viết năm 1845...". Giới thiệu về Phúc Điền, sách viết: "Thiền sý Phúc Điền là ngýời có công lớn trong việc bảo tồn sử liệu Phật giáo. Ông biên soạn Đại Nam thiền uyển truyền đãng tập lục. Ông trụ trì chùa Liên Tông, làng Bạch Mai, tỉnh Hà Đông. Nhưng công việc san khắc này được thực hiện tại chùa Bồ Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh...".

2.1.5. Sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, do Nguyễn Tài Thý chủ biên, xuất bản tại Hà Nội năm 1988 cũng giới thiệu là hai nhân vật khác nhau là Phúc Điền và An Thiền. Sách viết về Phúc Điền: "Ngýời có công lớn nhất trong việc sáng tác các vãn bản Phật giáo lúc bấy giờ phải kể đến Hòa thượng Phúc Điền (năm sinh và mất không rõ). Ông họ Võ, ngýời Sõn Minh Hà Nội...". Viết về An Thiền: "Đi theo hýớng của Phúc Điền và cũng có công trong việc biên khảo và giữ gìn các kinh sách của Phật giáo, đó là nhà sý An Thiền. An Thiền (năm sinh và mất chýa rõ) là ngýời họ Nguyễn. Trụ trì chùa Đại Giác, làng Bồ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông là học trò tin cậy của Phúc Điền. Tác phẩm của ông có bộ Đạo giáo nguyên lưu gồm ba quyển, khắc in năm 1845 dýới thời Thiệu Trị...”.

2.1.6. Sách Thiền sý Việt Nam của Hòa thượng Thích Thanh Từ, do Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1992, tác giả cũng giới thiệu thành hai nhân vật lịch sử là Phúc Điền và An Thiền, giống Như tác giả Nguyễn Lang.

2.1.7. Bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thý mục đề yếu, Phó giáo sư Trần Nghĩa đồng chủ biên, Nhà xuất bản KHXH năm 1993, cũng đã giới thiệu thành hai nhân vật Phúc Điền và An Thiền cùng nội dung các tác phẩm của hai nhân vật.

Như vậy về vấn đề này có ba điểm, một là Sa môn An Thiền và Phúc Điền Hòa thượng là hai ngýời khác nhau không có quan hệ; hai là Sa môn An Thiền là học trò của Phúc Điền Hòa thượng; ba là Sa môn An Thiền là bút danh của Đại thần Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai.

2.2. Những quan điểm ghi nhận Phúc Điền và An Thiền là hai tên gọi khác nhau của một nhân vật.

- Như trên đã nói, học giả Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, ở mục Đạo giáo nguyên lưu chỉ giới thiệu tác giả là Sa môn An Thiền, Nhưng đến mục giới thiệu sách Kim cýõng phát nguyện khóa hý lục giải âm, ghi tên tác giả là "Đại Giác thiền tự Độ điệp Phúc Điền Hòa thượng Sa môn An Thiền khóa hý lục giải âm". Được dịch là: Sa môn An Thiền được phong Phúc Điền Hòa thượng, ở chùa Đại Giác giải âm khóa hý lục. Qua khảo cứu chúng tôi thấy dòng lạc khoản này ghi giống Như sách Đạo giáo nguyên lưu và một số sách khác của Hòa thượng.

- Thích Minh Tâm trong luận vãn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm "Tìm hiểu lịch sử Phật giáo Việt Nam qua bản Đạo giáo nguyên lưu của Hòa thượng Phúc Điền” - Viện Nghiên cứu Hán Nôm 1998, đã býớc đầu có những lý giải chứng minh Phúc Điền Hòa thượng và Sa môn An Thiền là một.

- Học giả Lê Mạnh Thát trong sách Nghiên cứu Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản Phýõng Đông, 2001 có giới thiệu: "Hòa thượng Phúc Điền là đạo hiệu của An Thiền. Vị sý trụ trì chùa Đại Giác ở Bồ Sơn, Bắc Ninh. Ông là một dịch giả quốc âm lớn cũng Như một nhà nghiên cứu có tiếng tăm của thế kỉ XIX... An Thiền Như vậy là một tác giả lớn không những của Phật giáo thế kỉ XIX mà còn của vãn học và tý tưởng nýớc ta thế kỷ đó".

- Sách Từ điển Thiền tông Hán Việt của Hân Mẫn - Thông Thiền, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 viết: “An Thiền còn gọi là Hòa thượng Phúc Điền, thiền tãng đời Nguyễn, thuộc tông Lâm Tế đời 42. Họ Võ, quê ở Sõn Minh (Hà Nội). Sý hành hóa ở chùa Đại Giác trên núi Bồ Sơn tỉnh Bắc Ninh. Sý biên soạn, chú giải, dịch Nôm và ấn tống các tác phẩm Đạo giáo nguyên lưu...”

- Những năm gần đây còn có một vài luận vãn Thạc sĩ, Cử nhân chuyên ngành Hán Nôm nghiên cứu những tác phẩm của Hòa thượng Phúc Điền và cũng đã đýa ra quan điểm rằng Sa môn An Thiền và Hòa thượng Phúc Điền là một ngýời trong phần tác giả - tác phẩm, tuy nhiên đều chýa có đủ cứ liệu cụ thể để thuyết phục ngýời đọc.

3. Sa môn An Thiền là ai ?

Trên cõ sở các tý liệu mà các học giả đi trýớc đã đề cập tới, chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu và phân tích rồi từ đó đýa ra quan điểm nhận định về Sa môn An Thiền.

Trýớc hết chúng tôi cãn cứ vào các lạc khoản ghi trên các tác phẩm của Hòa thượng thì nhận thấy rằng: không thấy có sách nào đề độc lập tên gọi Sa môn An Thiền. Những tác phẩm có tên Sa môn An Thiền đều luôn luôn gắn liền với Phúc Điền Hòa thượng, Như dẫn chứng một số lạc khoản ghi trên sách ở phần trên. Về địa danh Bồ Sơn Đại Giác tự chính là ngôi chùa ngài khai hóa đầu tiên vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1840). Liên Phái hay Liên Tông là ngôi chùa sau này ngài về kế tự làm tổ đời thứ sáu. Lâm Tế phái hay Lâm Tế phả là dòng thiền tu tập của các thế hệ Hòa thượng Phúc Điền và Hòa thượng là thế hệ thứ 42.

Sách Tục Đại thừa khởi tín luận thức, Nguyễn Thuận Hiên, Pháp danh Đại Phýõng viết tựa vào tháng 12 năm Tân Sửu (1841) thời Thiệu Trị, ghi dòng lạc khoản “Tứ Ất Mùi khoa Lâm Tế Liên Tông môn Bồ Sơn Đại Giác tự Phúc Điền Hòa thượng pháp danh An Thiền”. Lời lạc khoản đã chỉ rõ Hòa thượng ở chùa Đại Giác, Bồ Sơn, tông Lâm Tế sõn môn Liên Tông, pháp danh là An Thiền, được vua ban tặng danh hiệu Hòa thượng ở khoa thi tuyển duyệt năm Ất Mùi.

Qua đây chúng tôi tán thành cách lý giải của Thạc sĩ Thích Minh Tâm, học giả Lê Mạnh Thát và Hân Mẫn - Thông Thiền, đều cho rằng Sa môn An Thiền và Phúc Điền Hòa thượng là hai tên gọi pháp danh và đạo hiệu của một ngýời. Trong bài viết này chúng tôi sẽ làm sáng tỏ hõn bằng vãn bản Tỳ Ni nhật dụng lễ sám bồ tát, kí hiệu A.2347 ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, được biên soạn vào mùa hạ năm Ất Tỵ (1845) thời Thiệu Trị. Ở tờ 1a của vãn bản có ghi: “Bồ Sơn Đại Giác Thiền tự Độ điệp Phúc Điền Hòa thượng Lâm Tế phái Sa môn An Thiền biên”.

Ở tờ 5a, 5b, 6a có ghi: "Tý cứ Bồ Sơn bản sý Đại Nam quốc, Hà Nội tỉnh, Ứng Hòa phủ, Sõn Minh huyện, Bạch Sam xã, Trung Thịnh thôn. Tục tính Vũ thị Lê môn. Giáp Thìn niên thất nguyệt nhật thời sinh. Thập nhị tuế xuất gia, đầu vu Thịnh Liệt xã Đại Bi tự, đỉnh lễ Viên Quang Hải Tiềm Hòa thượng thế phát. Chí niên thập ngũ tuế đầu vu Nam Dý xã Phúc Xuân tự, đỉnh lễ Từ Phong Hải Quýnh tổ sý thụ Sa di giới. Chí nhị thập tuế thời, đỉnh lễ Phù Ninh xã Đại Thiền tự Tịch Giảng Vô Tý vi Hòa thượng; Khê Hồi xã Hoa Lâm tự Tịch Chiếu tổ sý vi Yết Ma sý; Tam Huyền Môn Sùng Phúc tự Tịch Tính tổ sý vi Giáo Thụ sý, cầu tiến Tỷ khiêu Bồ tát giới. Chí Ất Mùi niên ngũ nguyệt phụng chỉ lai kinh tuyển duyệt Độ điệp Phúc Điền Hòa thượng. Niên ngũ thập thời biên tập Tam thời lễ tụng nhất quyển, Tỳ Ni nhật dụng lễ sám bồ tát nhất quyển, Đạo giáo nguyên lưu tam quyển".

Nghĩa là:

Bản sý ngýời thôn Trung Thịnh, xã Bạch Sam, huyện Sõn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội, nay thuộc xã Trýờng Thịnh, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Cha họ Vũ, mẹ họ Lê. Hòa thượng sinh nhằm tháng 7 năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hýng năm th45 (1784) đời Lê Hiển Tông, xuất gia năm mýời hai tuổi, làm đệ tử Hòa thượng Viên Quang Hải Tiềm chùa Đại Bi, xã Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Năm 15 tuổi, tôn sý viên tịch, Hòa thượng theo hầu tổ Từ Phong Hải Quýnh chùa Phúc Xuân, xã Nam Dý và được Tổ sý trao giới Sa di. Đúng tuổi 20 được thụ giới Tỉ khiêu Bồ tát trýớc ba thầy truyền giới là: Tổ sý Tịch Giảng Vô Tý, chùa Đại Thiền xã Phù Ninh, Bắc Ninh, làm thầy Hòa thượng; Tổ sý Tịch Chiếu chùa Hoa Lâm, xã Khê Hồi làm thầy Yết ma A xà lê; Tổ sý Tịch Tính chùa Sùng Phúc, Tam Huyền Môn, Hà Nội là thầy Giáo thụ. Đến tháng 5 năm Ất Mùi, phụng chỉ tới kinh đô dự kỳ tuyển duyệt Độ điệp. Năm Hòa thượng 50 tuổi, thì biên tập sách Tam thời lễ tụng - 1 quyển, Tỳ Ni nhật dụng lễ sám bồ tát - 1 quyển, Đạo giáo nguyên lưu - 3 quyển.

Sách Sa di luật nghi giải nghĩa, quyển thượng có đề “Bồ Sơn tự Lâm Tế phái Độ điệp Phúc Điền Hòa thượng giải âm”.

Tiếp theo là bài kệ mừng thọ Hòa thượng tuổi bẩy mýõi, là bài kệ nói về nhân quả của Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai:

Lão tãng thất tuần kệ

Quý Sửu niên đãng thất thập tuần,

Cao siêu diệu lộ nhật duy tân.

Tâm đãng chiếu phá sõn hà ảnh,

Đại địa trần trung xuất thế nhân.

Bài kệ mừng lão tãng tuổi bảy mýõi

(Năm Quý Sửu lên tuổi bảy mýõi,

Đýờng giác ngộ mỗi ngày một mới.

Đèn tâm soi rọi bóng núi sông,

Giữa chốn trần lao có một con ngýời xuất thế.)

Ở dýới có hàng chữ: “Lão tãng cựu hiệu An Thiền pháp hiệu Mật Nhân. Đại nhân pháp hiệu Đại Phýõng, quán danh Phù Chính thuật nhân quả kệ”:

“An tự tâm hề Thiền tự định,

Mật chí diệu hề Nhân chí minh.

Đại vô biên hề Phýõng vô ngung,

Phù dĩ Chính hề tông dĩ thịnh.

Công dĩ viên hề nguyên dĩ mãn,

Tình bản tinh hề tính bản tỉnh.

Quy khứ lai hề nhân bất muội,

Chiếu thập phýõng hề nhất bảo kính”.

Nghĩa là:

Lão tãng xýa hiệu là An Thiền, pháp hiệu Mật Nhân. Đại nhân pháp hiệu Đại Phýõng, quê ở Phù Chính, thuật bài kệ nhân quả:

An lặng tâm chừ Thiền vốn định

Mật tột diệu chừ Nhân tột linh

Đại vô bờ chừ Phýõng mênh mông

Phù để Chính chừ tông mới thịnh

Công đã tròn chừ nguồn mỹ mãn

Tình vốn ngay chừ tính vốn thẳng

Về đi thôi chừ nhân chẳng tối

Rọi khắp nõi chừ tấm bảo kính”.

Như thế có thể thấy An Thiền là tên hiệu trýớc đây của Phúc Điền Hòa thượng và sau này còn có pháp hiệu Mật Nhân. Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai ngýời quê Phù Chính, có pháp hiệu là Đại Phýõng làm bài kệ nhân quả đã giải thích rõ ý nghĩa của các pháp hiệu: An Thiền, Mật Nhân, Đại Phýõng.

An là tâm yên lặng, vắng sạch mọi tạp niệm phân biệt đối đãi, Như Nhị tổ Tuệ Khả cầu tổ Bồ Đề Đạt Ma an tâm cho. Thiền là thiền định, nhờ thiền mà tâm trí kiên định, không hề nao núng trýớc ngoại cảnh. Phýõng pháp tu trì của nhà Phật là lấy giữ giới làm cõ sở, thiền định làm trọng tâm, trí tuệ là mục đích giải thoát giác ngộ. Ba môn học này có mối quan hệ biện chứng, từ giới sinh định, do định phát tuệ. Nhờ tu tuệ mà chứng đạo. Tâm an thì giác ngộ, muốn tâm an thì phải thiền định, đó là mối quan hệ nhân quả. Thiền định là pháp môn tu trọng tâm của Phật giáo, đặc biệt được nhiều ngýời hâm mộ tu trì. Để làm rõ hõn về pháp hiệu An Thiền này chúng tôi xin nêu hai ví dụ:

Ngô Thì Nhậm là ngýời Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, xứ Sõn Nam, nay thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông thi đỗ Tiến sĩ thời Lê, làm quan tới Đốc đồng Hải Dýõng, sau theo nhà Tây Sõn và làm quan tới Binh bộ Thượng thý. Ông trýớc tác nhiều, trong đó có bộ sách Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh nói về thiền học rất nổi tiếng. Ông tuy không xuất gia Nhưng am hiểu về đạo Phật, tham cứu sâu về thiền học, và tự đặt tên hiệu là Hy Thiền, có ý mong chứng ngộ chân thiền chính định.

Trýõng Bá Hoãn, ngýời Trýờng Thịnh, tổng Bạch Sam, phủ Ứng Hòa, nay thuộc xã Trýờng Thịnh, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Ông thi đỗ Hýõng cống, có ra làm quan với Tây Sõn, sau từ quan xuất gia tu trì tại chùa Phổ Tế thuộc ba thôn Trung Thịnh, Yên Trýờng, Đống Vũ (ngýời dân vẫn quen gọi là Tam Thôn). Cuối thế kỷ XVIII ông đứng ra hýng công xây chùa Phổ Tế, các danh sĩ đýõng thời từng về đây tham học kinh sách nhà Phật Như Tiến sĩ Ngô Thời Nhậm, Tiến sĩ Nguyễn Du, hiện trong chùa còn lýu giữ tấm bia đá do hai ông soạn thảo. Trýõng Bá Hoãn khi xuất gia đã lấy tên hiệu là Ngộ Thiền, có ý nói do tham thiền mà ngộ đạo, hoặc có ý nói mình sau khi qua quãng thời gian tham gia việc đời đã giác ngộ đạo thiền.

Sa môn nguyên là tiếng Phạn (Ấn Độ cổ): Srmana, được phiên âm sang tiếng Trung Quốc là Sa môn, Tang môn, Sa môn na. Nguyên nghĩa là chỉ chung cho những ngýời xuất gia và được ngýời Trung Quốc dịch là siêng nãng làm việc thiện, dứt bỏ nghiệp ác, là ngýời cần cù tu hành đạo Phật. Ở Trung Quốc và Việt Nam danh từ Sa môn là để chỉ cho các tu sĩ xuất gia đạo Phật chứ không phải là cách gọi chung cho cả hàng Phật tử tại gia. Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai là Cý sĩ Phật tử, ngay trong tác phẩm Tại gia tu trì Tam giáo nguyên lưu của Hòa thượng đã viết về ông rất rõ ràng. Dýới sự hýớng hóa của Phúc Điền Hòa thượng, ông song hành cùng Hòa thượng trong sự nghiệp chấn hýng Phật giáo thời Nguyễn, thông đạt Phật lý, luôn hộ trì việc in ấn những trýớc tác của Hòa thượng. Ông có tên tự là Thuận Hiên, Pháp hiệu là Đại Phýõng, và Như trên ông đã giải nghĩa "Đại vô biên hề Phýõng vô ngung" (Đại thì rộng lớn vô bờ, Phýõng thì không xứ sở). Đây nói về cảnh giới đạt đạo, khi ấy tâm ta Như một tấm gýõng sáng chiếu soi khắp, rộng lớn diệu dụng vô cùng nào có bờ mé, xứ sở và đó cũng là mục tiêu của những ngýời tu hành đạo Phật cần đạt đến.

Tên gọi Hòa thượng vốn được dịch âm từ tiếng Phạn: Upadhyaha và được Pháp sý La Thập đời Diêu Tần dịch sang Hán ngữ là Lực Sinh, nghĩa là nhờ có thầy mà đạo lực của đệ tử được sinh ra, và được dùng trong Luật, có quy định rõ: Ngýời mới xuất gia gọi là Sa di. Sa di có nghĩa "siêng nãng bỏ ác làm thiện, cầu chứng Niết bàn". Khi đủ 20 tuổi đời thì được thụ giới Tỷ khiêu mới chính thức dự vào hàng Tãng và được gọi là tu sĩ Phật giáo (Sa môn), từ đó trải 5 năm học hành tinh thông giới luật, 10 năm trở lên mới đủ tý cách độ cho ngýời khác xuất gia và truyền giới cho ngýời khác, khi ấy mới có thể được gọi Upadhyaha (Hòa thượng). Như vậy Hòa thượng có thể coi là Giáo phẩm cao nhất trong Phật giáo, chỉ khi nào đủ tuổi đời tuổi đạo, tài đức kiêm bị theo quy định mới được phong tặng danh hiệu Hòa thượng.

Những tý liệu dẫn ra ở trên đã có thể chứng minh chắc chắn rằng Sa môn An Thiền và Hòa thượng Phúc Điền chỉ là một ngýời. Sa môn An Thiền là tên hiệu của Hòa thượng khi thụ giới Tỷ khiêu, khi vào Kinh tham dự kỳ khảo hạch và được triều đình ban Tãng cang Đao điệp Phúc Điền Hòa thượng, về sau này lại có Pháp hiệu là Mật Nhân. Không thể nói Sa môn An Thiền là bút danh của Đại thần Nguyễn Đăng Giai, và là học trò của Phúc Điền Hòa thượng được.

Tài liệu tham khảo

Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1999.

Nguyễn Tài Thư: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1988.

Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 2005.

Lê Mạnh Thát: Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb. Phương Đông, 2005.

Thích Mật Thể: Việt Nam Phật giáo sử lược, Hội tăng ni Bắc Việt ấn hành 1943.

Trần Nghĩa (đồng chủ biên): Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Nxb. KHXH, 1993.

Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH, H.1971.

Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, T1, Nxb. KHXH, H. 1973.

Đại Nam hội điển sự lệ - Viện sử học, Nxb. Thuận Hóa, 1993.

Đại Nam Thiền uyển truyền đăng tập lục大南禪苑傳燈輯錄, TV. VNCHN, Kí hiệu: A.2767.

Đạo giáo nguyên lưu道教源流, kí hiệu: A.1825.

Hộ Pháp luận護法論, TV. VNCHN, kí hiệu: AB.381.

Kế đăng lục繼燈錄, ký hiệu: AC.158.

Khóa hư lục diễn âm課虛錄演音. Thư viện chùa Quán Sứ.

Kim Cương Di Đà kệ chú châm minh金剛彌陀偈咒箴銘, TV. VNCHN, kí hiệu: AC.456.

Phật tổ thống kỷ佛祖統紀, Thư viện chùa Quán Sứ.

Phóng sinh giới sát văn放生戒殺文, kí hiệu: A.1963.

Quan Âm Ma Lị Chi Thiên kinh觀音摩利枝天經, kí hiệu: AB.512.

Sa Di luật nghi giải âm沙彌律儀解音. kí hiệu: AB.527/12.

Tại gia tu trì Thích giáo nguyên lưu在家修持釋教源流, kí hiệu: A.3156.

Tam Bảo hoằng thông三寶弘通, kí hiệu: A.2477.

Thái căn đàm菜根談, kí hiệu: AB.523

Thiền lâm bảo huấn diễn quốc âm禪林寶訓演國音- Thư viện chùa Quán Sứ.

Thiền uyển truyền đăng lục禪苑傳燈錄, kí hiệu: VHv.9.

Tỳ ni nhật dụng lễ sám bố tát毘尼日用禮懺布薩, kớ hiệu: A.2347.

Vụ lượng thọ kinh無量壽經, kí hiệu: AC.395.

Phật học thường kiến từ vựng佛學常見詞彙, Trần Nghĩa Hiếu, Phật Đà giáo dục cơ kim ấn tặng, Đài Bắc 1998.

Phật Quang đại từ điển 佛光大辭典. Từ Di, Nxb. Phật Quang, Đài Loan 1989./.

(Tap chí Hán Nôm, Số 1 (86) 2008; Tr.48-55)

Thích Minh Tín
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm