Tìm hiểu tư tưởng của Phạm Quý Thích qua thơ văn (Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 8 - 18)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 8 - 18)
T×m hiÓu t tëng cña Ph¹m Quý ThÝch
qua th¬ v¨n
TS. VƯƠNG THỊ HƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Năm 18 tuổi, ông đậu Hương cống thứ 2 khoa Đinh Dậu (1777). Tháng 10 năm Kỉ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 (1779), triều đình mở Thịnh khoa, Phạm Quý Thích đứng hàng thứ hai. Sau khi đậu Tiến sĩ, Phạm Quý Thích được bổ chức Hiệu thảo Viện Hàn lâm kiêm chức Giám sát Ngự sử đạo Kinh Bắc. Thời Tây Sơn ông ở ẩn. Sang thời Nguyễn, ông giữ chức Thị trung Học sĩ, tước Thích An hầu.
Cuộc đời Phạm Quý Thích trải qua rất nhiều thăng trầm biến đổi của thời cuộc và ông đã được nhiều nhà nghiên cứu sau này đánh giá là một trong những tác gia tiêu biểu, là chiếc gạch nối của ba triều đại Lê Trung hưng - Tây Sơn - Nguyễn. Tâm trạng của ông cũng là tâm trạng của biết bao nhà nho khác trước thời cuộc đầy sóng gió. Vì thế trong bài viết này chúng tôi xin đề cập đến vấn đề tìm hiểu tư tưởng của Phạm Quý Thích qua thơ văn của ông nói riêng cũng là nhằm tìm hiểu tư tưởng của một lớp nhà nho cùng thời nói chung.
1. Nhà nho Phạm Quý Thích và việc đề cao tinh thần trung quân
Đầu thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào “Giai đoạn khủng hoảng sâu sắc toàn diện. Tất cả những mâu thuẫn, những ung nhọt chứa đựng trong xã hội phong kiến, đến đây bộc lộ một cách gay gắt và bùng nổ thành những cuộc đấu tranh xã hội mang tính chất phổ biến và kịch liệt chưa từng có trong lịch sử”(2). Về chính trị, “Nhà nước phong kiến tập quyền lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, nâng Nho giáo lên địa vị một quốc giáo. Những nguyên lí đạo đức của Nho giáo là cơ sở tinh thần và tâm lý để bảo vệ ngôi vua, để củng cố chế độ”(3). Nhưng vai trò độc tôn quyền lực của vua đến giai đoạn này đã không còn. Bên cạnh ngôi vua còn có ngôi chúa. Sự tồn tại của chúa Trịnh song song với vua Lê chứng tỏ nhà Lê không còn đủ sức gánh vác đất nước một mình nữa. Điều ấy cho thấy đạo đức Nho giáo không còn được coi trọng. Trong bối cảnh nhà Lê tỏ ra quá yếu kém đối với việc quản lí nhà nước, thì sự linh hoạt và tài năng của các chúa Trịnh trong giai đoạn đầu đã đóng vai trò đáng kể. Nhưng việc “phù Lê” của các chúa Trịnh càng về sau càng bị lấn ỏt. “Chốn quan trường biến thành nơi đầu cơ trục lợi, tệ nạn tham ô hối lộ không còn là hành động lén lút, bất hợp pháp, mà hầu như trở thành chế độ công khai được nhà nước phong kiến thừa nhận”(4). Quan lại địa phương cũng mặc sức hoành hành, mặc sức tác oai tác quái, làm khánh kiệt biết bao gia đình… Giữa bối cảnh đó, quân xâm lược nhà Thanh (Trung Quốc) ồ ạt kéo sang. Người nông dân áo vải - Nguyễn Huệ trong một thời gian ngắn đã quét sạch giặc ngoại xâm, đánh bại họ Trịnh, đặt cơ đồ họ Lê vào tình trạng mất còn. Trước bối cảnh ấy, theo phù thế lực chính trị nào là câu hỏi khiến các nhà nho không dễ trả lời. Rất nhiều nhà nho tài cao học trọng, đã bị lúng túng trước thời cuộc, nên đã không có cơ hội để phục vụ đất nước. Nhà nho Lê Quý Đôn rất băn khoăn về thời thế và cách hành xử của mình, ông than rằng:
“… Cách tệ bất năng tỳ quốc chúa,
Khởi suy hà dĩ kế ngô tiên?
Thế đồ khuynh trắc môn phong bạc,
Độc tọa nghiêm canh thính đỗ quyên”
(Dạ tọa thính đỗ quyên)
(Thay đổi thói tệ, đã không thể giúp vua,
Chống đỡ vận suy biết lấy gì nối nghiệp tổ tiên?
Đường đời nghiêng ngả, cảnh nhà thanh bạch,
Canh khuya ngồi lắng nghe tiếng chim cuốc”.
(Đêm ngồi nghe tiếng cuốc kêu)(5).
Quan điểm về chữ “trung” - một trong những đạo đức được coi là quan trọng nhất trong học thuyết Nho giáo giờ đây được áp dụng theo nhận thức riêng của mỗi người. Trước kia, vua bảo bề tôi chết là bề tôi phải chết, nhưng trong hoàn cảnh xã hội giai đoạn này, chữ “trung” không giữ được vai trò như trước. Hay nói đúng hơn là, nó không còn vai trò tuyệt đối trung thành như trước ở một bộ phận nhà Nho. Sách Việt sử thông giám cương mục ghi “Một học trò của Tiến sĩ Lý Trần Quán đã bắt chúa Trịnh Khải giao nộp cho quân Tây Sơn. Lý Trần Quán nói với hắn: Chúa là chúa chung của thiên hạ, mà ta lại là thầy của anh! Nghĩa cả vua tôi, sao anh nỡ thế! Hắn điềm nhiên trả lời: … Sợ thầy không bằng sợ giặc, quý chúa không bằng quý bản thân!”(6). Đau lòng quá, người thầy cao đạo ấy chỉ còn cách tự chôn sống mình để thức tỉnh học trò và thức tỉnh lương tri. Nhưng cái chết của người thầy trong bối cảnh xã hội nhiễu nhương không mang lại điều ông mong muốn. Dù vô tình hay cố ý thì câu “sợ thầy không bằng sợ giặc, quí chúa không bằng quí bản thân” đã nói lên nhiều điều. Người thầy - đại diện cho lớp nhà nho vẫn giữ lòng trung thành tuyệt đối với vua; còn trò, đại diện cho lớp trí thức khác, thì cái tôi bản thân đã được nâng lên. Tiến sĩ Phạm Công Thế tham gia cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật, đã vạch rõ sự đảo điên của xã hội: “Danh phận không rõ từ lâu, thuận nghịch lấy gì mà phân biệt!”(7), thì thấy sự phân hóa trong tư duy, quan niệm của giới trí thức Nho giáo là điều được khẳng định.
Lòng người nghiêng ngả, vận nước đang suy, những nhà nho lúc bấy giờ “canh khuya ngồi lắng nghe tiếng chim cuốc”, có thể được coi là sự an phận, chờ thời của một bộ phận Nho sĩ. Và hơn lúc nào hết, các nhà nho lúc này tìm về với con người cá nhân dường như đã trở thành một phương thức sống. Con người sống trong hoàn cảnh có nhiều biến cố, nhiều tình huống buộc họ phải thể hiện cái tôi chủ quan của mình. Sự phát triển của văn học trong giai đoạn này là một minh chứng hùng hồn cho sự thể hiện tình cảm con người ở nhiều góc độ. Cái mới mẻ ấy của dòng văn học càng được khích lệ hơn khi có biến cố lớn, hay những nhân tố mới. Hàng loạt những tác phẩm văn học có giá trị được ra đời trong thời kì này.
Một trong những biến cố xã hội lớn diễn ra vào đầu thế kỉ XIX là việc chúa Nguyễn Ánh thống nhất đất nước và lên ngôi vào năm 1802, kết thúc một chặng đường dài gian nan của các đời chúa Nguyễn. Các chúa Nguyễn cũng tạo ra những chính sách thực tế thu hút nhân tài, lực lượng từ nhiều phía khác. “Thực tế lớn mạnh của chính quyền họ Nguyễn ở miền Nam gây hấp dẫn cho không ít những người có tài, có chí, nhiều tham vọng ở miền Bắc. Từ Đào Duy Từ đến Đặng Trần Thường, định hướng thu hút nhân tài từ phía Bắc đổ về miền Nam không còn là hiện tượng cá biệt”(8). Sau hàng loạt những biến cố chính trị làm đời sống của nhân dân vô cùng lầm than, Gia Long tiến hành nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, cả vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú được khai hoang, đích thân Gia Long sai các dinh Gia Định chia cấp ruộng đất cho dân nghèo. Người dân nhận thấy “những thành bị hạ đều được yên ổn, chợ không đổi phiên”(9). Dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn, mặc dù Nho giáo được nhà nước cố gắng đề cao nhưng thực tế nó đã không mang lại hiệu quả như mong đợi. Nhìn chung, các đời vua đầu tiên của nhà Nguyễn đã cố gắng đề cao Nho giáo, nhưng thực ra chỉ được đề cao ở triều đình, còn trong thực tế xã hội Nho giáo không thể có được vai trò như trước. Không những thế, trước kia Nho giáo từng giữ vai trò độc tôn về phương diện quản lí cấp nhà nước, lúc này đây, bên cạnh vẫn có Đạo giáo, Phật giáo bắt đầu có sự ảnh hưởng của Thiên chúa giáo. Thậm chí, ở giai đoạn này, còn manh nha và phát triển một thứ tư tưởng duy vật phương Tây. Bên cạnh luồng gió phương Đông giờ có thêm văn minh phương Tây được du nhập. Sách Lịch sử Việt Nam nhận xét: “Nhà Nguyễn ra sức lập lại trật tự phong kiến, củng cố địa vị thống trị của Nho giáo, nhưng làm sao có thể tạo ra sức sống cho một chế độ đang hấp hối, đã mất hết cơ sở nhân dân và dân tộc”(10). Xã hội phong kiến Việt Nam và vai trò của Nho giáo vào giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX càng ngày càng đi xuống. Giữa bộn bề biến đổi của xã hội, giữa lúc cuộc chiến của các thế lực phong kiến cầm quyền chưa đi tới hồi kết thì, nhà nho, nhân sĩ Phạm Quý Thích ra đời và nhập thế.
Mô hình xã hội Nghiêu Thuấn là lí tưởng chính trị mà Phạm Quý Thích từng theo đuổi: đất nước có vua sáng, tôi hiền thì “đâu mãi chịu nghèo hèn”. Phạm Quý Thích để chí vào việc học hành và quyết tâm đi theo con đường khoa bảng của một nhà nho truyền thống. Những tưởng, với một người có hoạch định tương lai rõ ràng như Phạm Quý Thích, cộng với lòng nhiệt tình của tuổi trẻ ông sẽ thăng tiến trên con đường quan trường!? Nhưng sự thật mới chỉ làm quan một năm mà Phạm Quý Thích đã có ý xin về. Một năm thật ngắn ngủi nhưng đã xóa đi nhiệt tâm cống hiến của 20 năm chờ đợi, học tập và hy vọng! Chỉ trong một năm làm quan, nhưng Phạm Quý Thích đã kịp nhận ra thực tế xã hội khắc nghiệt. Ông không gặp được vua sáng mà chỉ thấy cảnh chém giết, tiếm quyền trong nội bộ vương triều. Còn tầng lớp trí thức - tôi hiền - đang bối rối trên con đường tìm minh chủ. Càng cố gắng vứt bỏ mọi định kiến cá nhân, để hướng tới mục đích phục vụ cho xã hội tốt đẹp hơn, thì những gì Phạm Quý Thích nhìn thấy trong xã hội càng làm ông thất vọng nhiều hơn.
(Mừng nghe quân giặc về Nam hết,
Các đạo quân cần vương nhóm họp ở kinh kì).
Quân Tây Sơn trở về Nam mà Phạm Quý Thích cảm thấy như trút được gánh nặng trên đường dài. Có thể là do lòng trung thành với nhà Lê và cũng có thể, (giống vua Lê Chiêu Thống), Phạm Quý Thích hoảng sợ trước thế mạnh như vũ bão của quân Tây Sơn. Việc làm quan với nhà Nguyễn trong tâm trạng chán nản, mệt mỏi của Phạm Quý Thích là điều bất đắc dĩ. Song có thể vì ông cũng kịp nhận ra thực tế lịch sử nhà Nguyễn đã mở rộng và thống nhất tổ quốc, đồng thời trong chừng mực nhất định, Phạm Quý Thích nghĩ rằng nhà Nguyễn không phải là đối tượng trực tiếp lấy đất nước từ tay nhà Lê?!
Tư tưởng trung quân của Phạm Quý Thích trong giai đoạn ấy là đáng kính trọng, nhưng nếu xét ở góc độ nhận thức thì đây lại bị coi là không thức thời. Sứ mạng lịch sử của nhà Lê không còn, thì việc một thế lực phong kiến mới, đáp ứng được yêu cầu mới của xã hội sẽ ra đời. Đó là qui luật chung của sự phát triển. Cũng giống như con người có sinh, lão, bệnh, tử. Cái “tử” vừa là nguyên nhân để cái “sinh” được sinh ra mà cũng là nguyên nhân để kết thúc vai trò lịch sử. Phạm Quý Thích trung thành với nhà Lê đến nỗi khi Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc ông cũng muốn đi theo, nhưng vì cầu phao trên sông Nhị Hà đứt nên mới đành ôm mối hận trong lòng. Không thức thời trong nhận thức của Phạm Quý Thích có nguyên nhân sâu sa xuất phát từ ý thức hệ. Đó là “bởi xuất xử, hành tàng là những phạm trù có tính lịch sử cụ thể và nhận thức đúng sai về những vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở tầm tư tưởng của con người trong hoàn cảnh lịch sử nhất định”(20). Song điều quan trọng hơn, qua cuộc đời mình, Phạm Quý Thích muốn chứng tỏ tư tưởng trung quân của Nho giáo vẫn luôn hiện hữu, cho dù xã hội có nhiều biến động. Lập Trai Phạm Quý Thích xứng đáng đại diện cho lớp nhà nho truyền thống có ý thức gìn giữ tư tưởng của Nho giáo với bề dày lịch sử ngàn năm.
(Giai nhân nếu chẳng tới Tiền Đường,
Món nợ trăng hoa dễ đã trang.
Mặt ngọc nỡ nào vùi thủy phủ,
Lòng băng không để phụ Kim lang.
Đoạn trường tỉnh giấc duyên vừa dứt,
Bạc mệnh ngừng dây hận vấn vương.
Nghìn thủa tài, tình mang lấy luỵ,
Vì ai “khúc mới” gửi bi thương).
Nếu chẳng một lần liều mình nơi Tiền Đường, thì món nợ trăng hoa sao được trang trải! Dù lênh đênh góc bể chân trời nhưng tấm lòng trinh vẫn luôn hướng về một mối tình… Sự bôn ba của Kiều (hay của chính nhà thơ) mong rằng chỉ như giấc mộng. Và dường như không giải thích được nguyên nhân của những bất hạnh từng trải, thi nhân cũng đồng ý với tác giả Đoạn trường tân thanh, mọi chìm nổi của cuộc đời đều là do “tài mệnh tương đố”. Quan niệm này hẳn cũng do thời thế tạo ra!?.
年歲淹留邁,
(Năm tháng chầm chậm trôi,
Mà đạo cao nhất vẫn mênh mang khó tìm).
(Tiễn Đức Ninh về với ruộng vườn)
Cũng như nhiều kẻ sĩ bất đắc chí, Phạm Quý Thích ngậm ngùi chôn chặt hoài bão, lánh đời trốn đất, tự động viên bằng cuộc sống thanh nhàn, không vương vấn bụi trần:
(Việc công chưa đến của tự đóng,
Phòng riêng không mộng ngủ thường ngon.
Đốt hương, chăm nom vài khóm tre trúc,
Thắp đèn lên xem một quyển sách tàn).
(Xuân lạnh)
Nhưng con người “hành” trong Phạm Quý Thích không dễ dàng nguôi ngoai trước cuộc sống, hay nói cách khác ông không dễ làm ngơ trước hiện thực cuộc sống mà ông tự nhận thấy nhiệm vụ của ông đối với cuộc đời. Đây là mâu thuẫn lớn nhất trong suốt cuộc đời của Phạm Quý Thích, ông tự nhủ “không mộng ngủ thường ngon” nhưng cái con người thật lại trở về với ông hàng đêm, nó dày vò tâm can khiến ông:
(Trằn trọc thâu đêm bạc mái đầu
Việc nhà trễ nải vì lo vận nước đang nhiều gian nan
Món nợ nam khi nào trả được
Thì tấm lòng son mới tan hết nỗi u sầu)
Khép lại cuộc đời, Phạm Quý Thích viết bài Từ quan thuật hoài để giãi bày tấm lòng, và dường như cũng để thanh minh vì sao mình phải từ quan, từ bỏ tâm huyết bấy lâu theo đuổi:
(Việc xin về không phải là do nhớ món canh rau rút đâu
Mái tóc tráng niên nay đã có sợi bạc
Suốt năm năm mình là người biếng nhác hủ lậu nơi cung cấm
Ba xuân tiều tụy lại gặp tiết thu
Mừng thấy một đức xoay chuyển tạo hóa
Mong nhờ các quan tài giỏi cùng giúp rập cho đấng thánh minh
Dù làm quan hay lui về, thân này đều kính đội ơn vua cả
Từ Nhĩ Hà trông về Nam, tình càng lai láng)
干戈一經年,
抒軸靡有遺.
富者今已貧,
貧者存幾希.
荒屋賣為薪,
糠秕甘如貽.
吏來捉人去,
村村如燃眉.
喪亂未有定,
軍興費不貲.
府庫固空虛,
螻蟻亦何為.
(Nạn can qua kể đã hàng năm,
Đồ canh cửi không còn chút gì.
Người giàu nay hóa nghèo,
Người nghèo chẳng còn mấy.
Nhà bỏ hoang đem bán làm củi,
Ăn tấm ăn cám thấy ngọt như đường.
Thế mà nha lệ còn đến bắt người đi,
Thôn nào thôn ấy cấp bách như lửa sém lông mày.
Cuộc loạn lạc biết bao giờ yên ổn?
Việc quân gây tốn phí kể bao tiền của!
Kho tàng cố nhiên trống rỗng,
Loài kiến có kể làm gì!).
(Đi sang Kinh Bắc)
Một khi xã hội tồn tại bất công, lại thêm tệ tham nhũng hoành hành thì không thể có một đất nước bình yên thịnh vượng được. Vì vậy, xã hội Nghiêu Thuấn từng là lí tưởng sống của Phạm Quý Thích, đến giờ, chỉ còn là sự tiếc nuối. Xã hội chìm đắm trong đau thương tang tóc khiến kẻ sĩ có trách nhiệm trong thiên hạ không khỏi “thao thức thâu đêm tóc trắng đầu”. Thế là từ một con người nhiệt huyết, đi theo con đường truyền thống như bao nhà nho đã đi: học hành - thi cử - đỗ đạt - làm quan, giờ đây Phạm Quý Thích cảm thấy chán nản, mệt mỏi. Dường như bánh xe thứ hai của sự phát triển loại hình nhà nho với đoạn kết là cáo quan và trở thành thầy đang chờ đợi Phạm Quý Thích. Gửi gắm những hy vọng của mỡnh vào một thế giới tốt đẹp hơn nên ông đó dốc sức mỡnh vào sự nghiệp giỏo dục. Những người học trũ của ông như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý, Vũ Tông Phan, Chu Doãn Trí… đều là những danh thần, danh sĩ nổi tiếng, có công đóng góp rất lớn cho nền văn hóa nước nhà ở giai đoạn sau.
Dấu ấn tư tưởng của thầy Lập Trai còn lại vô cùng sâu đậm trong lòng học trò của ông - những kẻ sĩ đời sau. Nhân khi đến thăm giảng đàn của thầy Lập Trai vào tết Nguyên đán năm Tân Mão (1831) Vũ Tông Phan viết trong Yết Lập Trai tiên sinh cố giảng đàn như lời tri ân với thầy cũng là lời cảm nhận của mình về cuộc đời gập ghềnh của người thầy đáng kính.
(Đời chưa được tốt, khó giảm bệnh,
Hơn năm vô vị, muốn an nhàn.
Tâm sự trong lòng tùy vào giấc mộng dài
Nỗi hận danh hão rơi nơi thế gian.
Hồn thiêng nhiều lần đến với lữ khách bình thường.
Hoa xuân vì việc gì mà khô héo dung nhan ?
Qua trường mấy lần còn nhìn thấy tấm biển đó,
Lần nào cũng thẹn tài hèn khó lập thân).
(Viếng giảng đàn xưa của thầy Lập Trai)
Và đây dường như cũng là sự cảm khái của người đời sau đối với cuộc đời Lập Trai Phạm Quý Thích. Tinh thần trung quân, sự dằn vặt hành tàng và tình yêu thiên nhiên đất nước con người trong Phạm Quý Thích vẫn là những suy nghĩ day dứt để kẻ sĩ đời sau chọn cách hành xử của mình trên con đường đời đầy chông gai.
Tài liệu tham khảo
1. Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỉ, quyển 3. Hoa Bằng dịch, Nxb. KHXH, H. 1995, tr.461.
2, 4, 10. Lịch sử Việt Nam, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Tập I, Nxb. KHXH, H. 1971, tr.319, tr.323, tr.390.
3, 8, 20. Trần Ngọc Vương, Loại hình học tác giả văn học nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H. 1995, tr.37, tr.76, tr.139.
5. Nguyễn Lộc: Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX), Nxb. Giáo dục, (tái bản lần 2), H. 1997, tr.17.
6, 9. Đặng Xuân Bảng, Việt sử cương mục tiết yếu, Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải, Nxb. KHXH, H. 2000, tr.663-664.
7. Ngô gia văn phái: Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb. Văn học, H. 2002, tr.367.
11. 貧家義犬傳/ 新傳奇錄, A. 2315, 8b.
12. 貧家義犬傳/ 新傳奇錄, A2315, 8b.
13. 新傳奇錄 - A.2315,16a,b.
14, 19. Dẫn theo bản dịch của Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán, Trần Nghĩa chủ biên. Nxb. KHXH, H. 1997, tr.617, tr.887.
15. 貧家義犬傳- A.2315,16b.
16. 志言箴言文-立齋先生行狀- A.775, 24a.
22. Dẫn theo bản dịch của Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập III, Nxb. Văn hóa, H. 1963, tr.158.
30. Chu Trí, Lập Trai tiên sinh hành trạng, Hà Ngọc Xuyền dịch chú Nxb. Trung tâm học liệu, Sài Gòn, 1969, tr.67.
31. 東溪詩集 - A.2439, 67a./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 8 - 18)