Vài nét về ấn dấu cấp bộ và chính quyền địa phương khu vực Trung kỳ thời thuộc Pháp (Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (109) 2011, Tr.3-9)
VÀI NÉT VỀ ẤN DẤU CẤP BỘ VÀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC TRUNG KỲ THỜI THUỘC PHÁP
PGS.TS. NGUYỄN CÔNG VIỆT
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Sau Hiệp ước Patennotre năm 1884, triều đình Nguyễn phải thừa nhận nền bảo hộ của nước Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trong đó Nam kì đã trở thành thuộc địa Pháp. Triều đình Nguyễn (Chính phủ Nam triều) vẫn tồn tại với cơ cấu hệ thống Lục bộ, Giám sát, Cơ mật viện, chư nha… song thực quyền không còn như cũ. Trong hệ thống hành chính Trung ương của chính phủ Nam triều thì hệ thống Lục bộ vẫn là cấp quan trọng và bao quát toàn bộ nhất. Giai đoạn đầu thời Pháp thuộc, cấp bộ về cơ bản vẫn duy trì theo cơ cấu cũ với 6 bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công. Chức năng và nhiệm vụ không khác trước, song quyền hạn đã bị giảm thiểu rất nhiều dưới sức mạnh của người Pháp mà đại diện ở Trung kỳ là tòa Khâm sứ.
Về ấn dấu cấp bộ, trước tiên xin giới thiệu một hình dấu cấp bộ in trên văn bản có chữ Hán nhưng không phải ở dòng ghi niên đại. Đây là bản Cung lục 恭錄của Bộ Hộ.
Dấu hình vuông có kích thước bằng dấu cấp bộ cũ là cỡ 9x9cm. Rìa canh để cỡ 1cm. Bên trong là 4 chữ Triện chia hai hàng là 4 chữ Hộ Bộ chi ấn户部之印. Đây là ấn của Bộ Hộ. Ấn dấu này đóng dưới dòng chữ Hán với 4 chữ là Hộ bộ cung lục 户部恭錄. Là bản Cung lục của Bộ Hộ. Đây là một bản tấu của chức quan cấp tỉnh Hưng Hóa ghi vào đời Đồng Khánh gửi lên văn phòng bộ để kính chuyển lên Hoàng thượng. Thượng thư hoặc Tả, Hữu Tham tri bộ Hộ tiếp nhận văn bản, ghi rõ 4 chữ Hộ bộ cung lục rồi đóng dấu Hộ bộ chi ấn ở phía dưới. Rồi từ đó mới hoàn chỉnh mọi thủ tục, văn bản chuyển Nội các đệ trình lên vua phê duyệt; Sao lưu văn bản lưu tại văn phòng bộ làm bằng cứ đối chiếu.
Sang đầu thế kỷ XX, dưới ba triều vua Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại thì hệ thống Lục bộ của chính phủ Nam triều đã có một số thay đổi về cơ cấu tổ chức. Ngay từ năm 1912, một bộ nữa của hệ thống cấp bộ ra đời là Bộ Học với chức năng và quyền hạn quản lý công tác giáo dục trong chính phủ Nam triều. Cùng với 6 bộ cũ theo nghị định của Khâm sứ Trung kỳ thì Bộ Học có Đại diện ở Cơ quan Nội phủ Khâm sứ, nằm trong Sở phụ trách Vấn đề bản xứ. Đây là sự kết hợp và cũng là công việc chịu sự quản lý của Tòa Khâm sứ Pháp.
Đến đời Bảo Đại (1926-1945) lại có thay đổi ở hệ thống cấp bộ nữa. Giai đoạn đầu triều Bảo Đại thì Bộ Lễ vẫn giữ nguyên cơ cấu tổ chức, Lãnh đạo bộ vẫn được dùng ấn lớn Lễ bộ chi ấn và kiềm nhỏ trong công vụ. Mọi quy định về sử dụng ấn kiềm trên các loại hình văn bản không có thay đổi nhiều. Tại phủ thờ nhà ông Phan Thuận An ở Huế, chúng tôi đã chụp được văn bản có lưu dấu Bộ Lễ gốc trong Châu bản triều Nguyễn. Dấu ấn ở dòng ghi niên đại Bảo Đại ngũ niên thập nhị nguyệt thập nhị nhật 保大五年十二月十二日(ngày 12 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 5 - 1920).
Đây là hình dấu vuông, màu đỏ son. Vì bản chụp lại nên không đo chính xác được kích cỡ dấu. Rìa cạnh để cỡ giống dấu bộ cũ, bên trong là 4 chữ Triện Lễ bộ chị ấn禮部之印. Đây là dấu ấn của Bộ Lễ. Phía dưới có hình dấu kiềm hình vuông. Trong dấu là 2 chữ triện Lễ bộ 禮部, đóng dưới tên họ của chức Viên ngoại lang ở Bộ Lễ là Nguyễn Khắc Hợp. Viên ngoại lang là chức có từ thời Lý, đảm trách việc đi sứ nước ngoài; sang thời Lê sơ lập hệ thống Lục bộ, đưa vào cấp dưới Thị lang, Lang trung với hàm Tòng lục phẩm. Đến thời Nguyễn coi trọng hơn đưa hàm Chánh ngũ phẩm văn giai, thường là chức chuyên gia đầu ngành chuyên môn ở bộ, viện với nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ở đây xin được lưu ý thêm về vị vua cuối cùng Bảo Đại. Năm Ất Sửu 1925 khi Khải Định băng hà, Toàn quyền Đông Dương lập Bảo Đại làm vua song vẫn cho du học ở Pháp. Việc điều hành của Nam triều tại Huế do một Hội đồng Phụ chính đảm trách dưới sự giám sát của viên Toàn quyền Pháp.
Năm 1932, Bảo Đại trở về Việt Nam cầm quyền dự định xây dựng chế độ quân chủ lập hiến, cải cách giáo dục tư pháp và cải tổ quan lại. Năm 1933, Bảo Đại ra đạo dụ cải tổ Nội các, ông cho thay 5 Thượng thư mới là Thái Văn Toản, Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn, thay 5 vị cũ là Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàm, Phạm Liệu, Võ Liêm và Vương Trí Đại. Tuy nhiên việc cải tổ Nội các của Nam triều đã không thành công bởi sự mâu thuẫn nội bộ và người Pháp vẫn nắm quyền hành trong những việc đại sự quốc gia. Trong cuộc cải tổ này, sau năm 1933, Bảo Đại cho gộp Bộ Lễ và Bộ Công lập ra bộ mới là Bộ Lễ Nghi - Công Tác 禮儀工作部.
Xem xét một số tài liệu ở phông lưu trữ Quốc gia phần tiếng Việt mà ông Phan Thuận An đã chụp lại, chúng tôi thấy một số bản tấu cấp bộ có đóng dấu Kiềm Bộ Lại và Bộ Lễ Nghi - Công Tác với đủ chữ ký của Lãnh đạo bộ bằng chữ Quốc ngữ. Dưới đây xin giới thiệu hai văn bản Quốc ngữ có dấu kiềm Bộ Lễ Nghi - Công Tác và một văn bản có dấu kiềm của bộ Lại.
Văn bản Lại bộ thần đẳng cẩn tấu với nội dung tóm tắt phụng xét Hiệp tá Đại học sĩ trí thần Nguyễn Văn Mại với 30 năm quan trường có nhiều công lao, năm 1894 phụng sung Sứ bộ đi Tây, năm 1919 làm Nghị trưởng Hội đồng Tư vấn Trung kỳ, khi hưu trí vẫn có công làm sách. Bộ Lại xin Hoàng thượng, triều đình xét công trạng gia ân đặc cách thăng hàm Thái tử Thiếu bảo.
Phía dưới văn bản là tên họ, chữ ký của 5 vị đại thần Phạm Quỳnh, Doãn Uẩn, Tôn Thất Bàn, Nguyễn Thực, Nguyễn Học Sĩ. Phía bên trái chữ ký là dấu kiềm hình vuông mầu son đỏ với hai chữ Triện Lại bộ, là kiềm dấu của Bộ Lại. Lề trái văn bản có chữ Chuẩn y và chữ ký của Bảo Đại bằng mực son đỏ. Đây là giai đoạn cuối triều Bảo Đại, ít thấy các văn bản chữ Hán. Đồng thời ở đây là việc không sử dụng ấn lớn Lại bộ chi ấn mà sử dụng dấu kiềm Lại bộ. Đó là sự thay đổi trong sử dụng ấn tín cuối triều Bảo Đại nói riêng và cuối thời Nguyễn nói chung.
Hai văn bản có đóng dấu của Bộ Lễ Nghi - Công Tác viết bằng chữ Quốc ngữ. Riêng dòng trên đầu đề viết bằng chữ Pháp, tiếp dưới là ngày tháng âm lịch và ghi cả ngày tháng dương lịch tương ứng trong ngoặc kép. Tiêu đề văn bản ghi là Bộ Lễ Nghi - Công Tác kính tấu. Phía trên góc trái là 5 chữ Hán Bộ Lễ Nghi - Công Tác 禮儀工作部viết từ trái qua phải. Dưới là dòng chữ Pháp ghi tên bộ, dòng dưới là số văn bản lưu văn phòng và tóm tắt loại văn bản. Văn bản thứ nhất ghi ngày 7 tháng 11 năm Bảo Đại thứ 18 (tức ngày 3 tháng 12 năm 1943). Ghi số công văn 37 về việc: Tâu về việc cử M.claeys sung chức cố vấn chuyên coi việc bảo tồn lăng miếu điện của Nam triều. Ông M.claeys là Giám đốc Trường Viễn đông Bác cổ Pháp ở Hà Nội, nay được Bộ Lễ Nghi - Công Tác tiến cử lên Bảo Đại chuẩn y cho bản tấu nhận chức Cố vấn quản việc bảo tồn lăng miếu điện của Nam triều ở Huế.
Dưới văn bản có chữ Nay kính tâu và chữ ký họ tên của hai đại thần cấp bộ là Ưng Úy và Phùng Duy Cẩn. Có hình dấu kiềm Bộ đóng đè lên 2 chữ ký. Dấu hình vuông trong là 2 chữ Triện Lễ Công xếp từ trái qua phải. Trên lề trái văn bản có hai chữ chuẩn y và chữ ký của Bảo Đại bằng mực son đỏ.
Văn bản thứ hai có đầu đề chữ Pháp và chữ Quốc ngữ cũng giống như văn bản trước là Bộ Lễ Nghi - Công Tác kính tấu. Thời gian ghi ngày 2 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 18, tức ngày 28 tháng 12 năm 1943 Dương lịch. Số văn bản ghi là 41. Tóm tắt ghi tâu về việc tu bổ Cung An Định.
Nội dung: Phụng chiếu việc tu bổ An Định cung và Cửu tư đài, hiện nay đã hoàn chỉnh.
Thần bộ đã thiết lập hội đồng khám nhận; Công việc đều hoàn bác cả.
Vậy kính tâu lên Hoàng thượng Đổng tất.
Nay kính tâu.
Dưới có chữ ký và họ tên vị đại thần của Bộ Lễ Nghi - Công Tác là Ưng Úy. Dấu kiềm hình vuông màu son đỏ đóng trên chữ ký. Chữ Triện trong dấu là 2 chữ Lễ Công (tức là dấu kiềm của Bộ Lễ Nghi - Công Tác).
*
**
Chính quyền địa phương khu vực Trung kỳ từ Thanh Hóa đến Bình Thuận giai đoạn thuộc Pháp cũng có nhiều biến động thay đổi hợp, chia, tách từ cấp tổng, xã đến phủ, huyện, tỉnh. Chúng tôi chỉ xin đơn cử một vài địa phương điển hình với một số thay đổi trong hệ thống hành chính ở chính quyền địa phương. Bên cạnh là việc giới thiệu một số hình dấu như những ví dụ minh chứng.
Tỉnh Quảng Trị lập năm 1831, đến đời Đồng Khánh thứ 1 (1886)(1) đặt huyện Do Linh thay huyện Địa Linh có từ năm 1836. Đến năm Duy Tân thứ 2 (1908) đặt lại huyện Hương Hóa. Như vậy tỉnh Quảng Trị gồm 2 phủ 6 huyện và 9 châu, người dân tộc thiểu số gọi là châu Ky My. Trong đó châu Sa Bôi cũ đặt 3 châu là Nà Bôn, Mang Vanh và Thượng Kế; 6 châu còn lại là Xương Thịnh, Làng Thìn, Tá Bang, Tâm Bồn, Ba Lan và Mang Bổng là đất châu Thuận Bình cũ. Chín châu Ky My này sau lại thuộc về lãnh thổ nước Lào theo Quyết định của Toàn quyền Đông Dương.
Tỉnh Quảng Nam, thời thuộc Pháp năm Thành Thái thứ 11 (1899) đặt thêm huyện Đại Lộc cho thuộc vào Phủ Điện Bàn. Năm Thành Thái thứ 18 (1907) nâng huyện Hà Đông làm phủ Hà Đông rồi sau đổi làm phủ Tam Kỳ kiêm Lý huyện Hà Đông.
Trước đây từ cải cách triều Minh Mệnh năm 1932 ghép liên tỉnh thì Quảng Nam và Quảng Ngãi ghép là Nam - Ngãi, đặt chức Tuần phủ kiêm lãnh. Đến năm đầu Thiệu Trị (1841) lại thay Tuần phủ bằng Tổng đốc quản liên tỉnh này. Tổng đốc được sử dụng ấn quan phòng Quảng Nam Quảng Ngãi Tổng đốc quan phòng trong công vụ. Như vậy đến đây Quảng Nam, Quảng Ngãi không còn chức Tuần phủ nữa.
Đến thời thuộc Pháp thì Nam - Ngãi lại có sự thay đổi. Riêng Quảng Ngãi năm Thánh Thái thứ 2 (1890) đặt 3 châu Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Đức Phổ cho thuộc vào Sơn phòng Nghĩa Định. Đến năm 1899 đổi làm 3 huyện duy trì mãi về sau. Đồng thời Nam triều cho đặt chức Tuần phủ Quảng Ngãi. Khảo sát khu vực Nam Trung bộ, chúng tôi tìm thấy một văn bản có đóng dấu Quan phòng của Tuần phủ Quảng Ngãi.
Đây là một tờ bẩm của dân có tên ký của những người đứng tên. Dòng niên đại có 9 chữ Khải Định nguyên niên bát nguyệt ngũ nhật 啟定元年八月拾五日Ngày 15 tháng 8 năm Khải Định nguyên niên (1916).
Trên dòng niên đại này có hình dấu son chữ nhật đứng đóng dưới chữ Niên. Trong dấu là 6 chữ Triện chia hai dòng là Quảng Ngãi Tuần phủ Quan phòng 廣義巡撫關防(Quan phòng của Tuần phủ Quảng Ngãi). Chỗ góc phải dấu quan phòng cùng những chỗ tên riêng của viên lại điển có hình dấu kiềm vuông cũng màu son đỏ. Trong dấu là 4 chữ Triện Quảng Ngãi Tuần phủ 廣義巡撫(Kiềm dấu của Tuần phủ Quảng Ngãi).
Đối với chính quyền cấp huyện châu khu vực Trung kỳ từ năm 1884 trở đi về cơ bản vẫn sử dụng ấn tín theo quy định cũ, song hiện vật ấn tín nhiều trường hợp đã phải thay đổi trong những năm biến động 1885 khi Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị chống Pháp. Chứng tích về hình dấu một thổ châu thuộc tỉnh Quảng Trị hiện còn lưu trong Châu bản triều Nguyễn ở quyển 2 trang 101 - Hàm Nghi nguyên niên.
Đây là văn bản viết hoàn toàn bằng chữ dân tộc Lào, nhưng dấu đóng trên dòng niên đại lại là hình dấu của ta khắc viết theo kiểu Triện thư. Dấu có kích thước 4,0x5,5cm. 6 chữ Nà Bôn thổ châu đồ ký 那賁土州圖記(Đồ ký của Thổ châu Nà Bôn).
Châu Nà Bôn như trên đã nói là 1 trong 3 châu thuộc tỉnh Quảng Trị trong là 9 châu Ky My. Trước khi thành lập Liên bàn Đông Dương thì các châu này thuộc lãnh thổ nước ta, về sau Toàn quyền Đông Dương đã ký Quyết định chuyển lại cho chính quyền Lào quản lý.
Về ấn dấu cấp huyện, trong đợt điều tra thu thập tư liệu vào Nam Trung bộ năm 2008, chúng tôi đã in chụp được nguyên bản hiện vật một ấn cấp huyện thuộc tỉnh Bình Định. Tại nhà ông Nguyễn Văn Phẩm (nhà sưu tầm cổ vật Sài Gòn) chiếc ấn đồng chúng tôi được xem có hình thức khá giống ấn đồng Bình Thuận Án sát ty chi ấn(2)về đế ấn, mặt lưng và núm cầm. Song ấn cấp huyện này nhỏ hơn và núm ngắn hơn một chút. Núm ấn dạng chuôi vồ thắt đáy, cao 4,8cm. Lưng ấn, bên phải khắc chìm dòng chữ Hán kiểu Chân thư là 4 chữ Trọng thập nhị lượng 重十二兩(nặng 12 lượng). Mặt đế ấn, tức mặt dấu hình vuông, kích thước 6,6x6,6cm. Rìa cạnh đế cỡ 0,4cm, bên trong là 4 chữ Triện khắc nổi. Đó là 4 chữ Phù Cát huyện ấn 符吉縣印. Đây là ấn của chức Tri huyện Phù Cát.
Mặt lưng ấn không khắc dòng ghi niên đại, do đó việc xác định niên đại tạo tác quả ấn hy vọng chỉ đạt ở mức tương đối. Trước hết so sánh đối chiếu với một số ấn đồng ở cấp tương đương huyện, châu từ triều Tự Đức trở về trước như ấn An Lập huyện ấn, Thất Khê huyện ấn, Văn Chấn huyện ấn, Hợp Phì châu ấn(3)… chúng tôi thấy về hình thức núm cầm, mặt lưng hầu hết đều khác với ấn Phù Cát huyện ấn này. Những ấn trên mặt sau lưng hầu hết đều khắc dòng ghi niên đại, bên cạnh có khắc tên cơ quan tạo ấn hoặc khắc trọng lượng ấn. Về kỹ thuật khắc đúc cũng khác hẳn, rìa cạnh gờ mép, nét chữ, khuôn chữ đều làm đẹp, cân đối, hài hòa hơn ấn Phù Cát huyện ấn. Đồng thời xem xét đối chiếu với 2 ấn đời Đồng Khánh là Bình Thuận Án sát sứ ty chi ấn và Bình Thuận lãnh binh quan quan phòng (Hiện cũng ở trong bộ sưu tập của ông Nguyễn Văn Phẩm) mà chúng tôi đã giới thiệu ở Thông báo Hán Nôm học năm 2009, chúng tôi cho rằng ấn Phù Cát huyện ấn được làm khoảng từ triều Đồng Khánh (1886-1888) trở về sau.
Về địa danh huyện Phù Cát. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), trấn Bình Định được đổi làm tỉnh ghép với Phú Yên hợp thành liên tỉnh Bình - Phú do Tổng đốc quản hạt. Năm này chia huyện Tuy Viễn làm 2 huyện là Tuy Phước và Tuy Viễn rồi lập phủ An Nhơn. Đồng thời chia huyện Phù Ly làm 2 huyện Phù Cát và Phù Mỹ vẫn nằm trong địa phận phủ Hoài Nhơn. Đến năm 1851 triều Tự Đức bỏ phủ An Nhơn đặt Tri huyện Tuy Viễn kiêm nhiếp huyện Tuy Phước gộp vào phủ Hoài Nhơn; huyện Phù Mỹ cũng bỏ Tri huyện mà lệ vào phủ Hoài Nhơn kiêm lý. Riêng huyện Phù Cát vẫn giữ nguyên đặt Tri huyện quản lý. Sau đó cho đến thời thuộc Pháp thì còn một số đợt chia tách tổng, huyện, phủ nữa.
Năm 1885, sau biến động ở kinh thành Huế, một số ấn tín bị thất lạc, do đó Đồng Khánh đã ra dụ cho làm lại những ấn tín bị mất, trong đó Phù Cát huyện ấn có lẽ cũng được làm lại ở thời gian này. Từ đó về sau ở Bình Định vẫn có những thay đổi như lập huyện Bình Khê, thay nha Kinh lý năm 1888. Năm Thành Thái thứ 2 (1890) đặt châu Hoài Ân ở thượng du Bồng Sơn cho thuộc vào Sơn phòng Nghĩa Định. Đến năm 1899, đổi làm huyện Hoài Ân lệ vào phủ Hoài Nhơn. Còn huyện Tuy Phước năm Thành Thái thứ 18 (1906) được nâng lên làm cấp phủ. Riêng huyện Phù Cát vẫn giữ nguyên cấp hành chính duy trì mãi về sau.
*
* *
Về chính quyền địa phương cấp cơ sở xã thôn ở khu vực Trung kỳ thời thuộc Pháp cũng có nhiều thay đổi. Các xã thôn cũng phải tuân theo sự phân chia, tách hợp giữa các tổng, phủ, huyện trong tỉnh. Song sự thay đổi này cũng không phải diễn ra đồng bộ tổng thể mà theo từng thời kỳ nhất định và lẻ tẻ ở những địa phương giáp giới các tỉnh, phủ, huyện lớn.
Đối với việc ban cấp và sử dụng ấn triện cấp cơ sở trước đây chủ yếu chỉ thực hiện đối với chức Lý trưởng ở mỗi xã và Chánh tổng đối với mỗi tổng riêng biệt. Triện hay Ký Triện của Chánh tổng, Lý trưởng ở khu vực Trung kỳ cũng giống như Bắc kỳ những nét cơ bản mà chúng tôi đã giới thiệu. Những thay đổi đổi về Triện cấp xã thôn chỉ thấy xuất hiện ở những chức nhỏ đại diện cho một số lĩnh vực trong một xã thôn nằm trong Hội đồng hương lý, nó giống như các con dấu của chức Hộ tịch, Chưởng bạ ở vùng đồng bằng Bắc bộ.
Tại khu vực Quảng Bình - Một trong 4 dinh giáp Kinh đô Huế xưa, chúng tôi đã trực tiếp chụp được hiện vật Ký triện cấp xã thôn thuộc địa hạt hai huyện Bố Trạch và Lệ Thủy. Những hiện vật ấn dấu này có khác hiện vật cùng cấp ở Bắc kỳ.
Ấn thứ nhất có chất liệu bằng đồng, đế mỏng, núm cầm ngắn. Mặt đế ấn tức mặt dấu có hình elip nằm theo chiều ngang. Kích thước 3x4,5cm. Viền ngoài để cỡ 0,4cm. Trong khắc chữ Quốc ngữ tên tỉnh, huyện, tổng là tổng Ngân Phúc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Khuôn trong cỡ 2,2x3,2cm, có 2 loại chữ Quốc ngữ và Hán tự. Phía trên mỗi dòng chữ Hán là chữ Quốc ngữ phiên dịch liền. Dòng trên là 3 chữ Thủ Lộc xã. Dưới là 2 chữ Hương bạ, đều viết từ phải qua trái. Chữ Hương bạ được phiên thành Hương bộ. Như vậy ấn dấu này đã được xác định là ấn của chức Hương bộ xã Thủ Lộc, tổng Ngân Phúc, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Chức vụ này cũng giống như Chưởng bạ ở Bắc kỳ quản lý về giấy tờ, sổ sách, địa bạ, ruộng đất của một xã. Chức dịch này nằm trong Ngũ hương của làng xã Trung kỳ.
Niên đại của ấn không khắc ghi trên lưng ấn, song qua hiện vật và hình dấu chúng tôi cho rằng ấn được tạo tác vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Về huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, năm 1831 khi đổi dinh Quảng Bình thành tỉnh thì huyện Bố Chính cũng được đổi làm huyện Bố Trạch. Đến năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), huyện Bố Trạch được lệ vào phủ Quảng Trạch, rồi đến năm 1850 phủ Quang Trạch lại kiêm nhiếp thêm huyện Minh Chính, huyện Bố Trạch vẫn giữ nguyên cho đến thời thuộc Pháp.
Quả ấn thứ hai cũng có chất liệu bằng đồng, núm cầm ngắn. Khuôn đế ấn tức mặt dấu hình vuông, kích thước 3x3cm. Viền ngoài để cỡ 0,4cm trong khắc chữ Quốc ngữ tên tỉnh Quảng Bình, huyện Lệ Thủy, tổng Thạch Xá, thôn Mỹ Duyệt Thượng. Ô trong để cỡ 2,1x2,1cm khắc 2 dòng chữ Hán kiểu Chân thư. Dòng trên là 4 chữ Mỹ Duyệt Thượng thôn 美悅上村, dòng dưới là 3 chữ Hương bản ký 鄉本記, các chữ này đều viết từ trái qua phải, khác với quả ấn trên. Đây là Ký Triện của Hương bản thôn Mỹ Duyệt Thượng, tổng Thạch Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Niên đại của ấn không khắc trên lưng ấn, qua xem xét một vài hiện vật ấn có hình thức tương tự và hình dấu chúng tôi cho rằng Ký Triện này được làm vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cùng thời gian quả ấn trên.
Về chức Hương bản, Hương bộ trong tổ chức làng xã Trung kỳ hình thành hệ thống Ngũ hương dưới quyền Lý trưởng. Tùy thời gian Ngũ hương thay đổi khác nhau nhưng cơ bản với nhiệm vụ quyền hạn sau:
- Hương bản: quản lý việc tài chính, lúa gạo nghĩa hương.
- Hương bộ: còn gọi là Tri bộ quản việc sổ sách, địa bạ, ruộng đất.
- Hương mục: trông coi việc trật tự, ăn ngồi hiếu hỷ của làng.
- Hương dịch: lo việc làng xã khi có Hội làng lệ tục.
Sau này đến triều Bảo Đại, khi Đảng Cộng sản ra đời, phong trào cách mạng diễn ra mạnh ở Trung kỳ thì Pháp và chính quyền Nam triều còn lập ra chức Hương đoàn phụ trách Hương binh trong làng để phối hợp với chính quyền quân đội triệt phá phòng trào cách mạng.
Chú thích:
(1) Ưng Đường (Đồng Khánh) lên ngôi ngày 19/9 năm Ất Dậu 1885 và vẫn dùng niên hiệu Hàm Nghi đến hết tháng 9-1885. Từ mồng 1 tháng 10 - Ất Dậu đến hết tháng 12 Ất Dậu, Ưng Đường dùng niên hiệu Đồng Khánh Ất Dậu - Từ mồng 1 tháng giêng năm Bính Tuất (4-2-1886) dùng niên hiệu Đồng Khánh nguyên niên.
(2) Xem Về quả ấn đồng Án sát sứ ty tỉnh Bình Thuận in trong Thông báo Hán Nôm học năm 2009. Nxb. Thế giới, H. 2010.
(3) Xem Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX. Nxb. KHXH, H. 2005.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (109) 2011, Tr.3-9)