Văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX - Hiện trạng và đặc điểm (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.22 - 41)
Thứ Tư, 01/05/2013 18:24
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.22 - 41)
VĂN BẢN SÁCH DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM VIẾT BẰNG CHỮ HÁN VÀ CHỮ NÔM TỪ THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX - HIỆN TRẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM ThS. NGUYỄN THỊ HƯỜNG Viện Nghiên cứu Hán Nôm Năm 2007, trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm học, chúng tôi đã công bố bài viết Sơ bộ khảo sát các sách dạy lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán và chữ Nôm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Bài viết này đã được in trong Thông báo Hán Nôm học năm 2007, Nxb. KHXH, H. 2008, tr.484-500. Đúng như tên gọi của nó, những thông tin công bố trong bài viết chỉ là khảo sát sơ bộ, chưa tiến hành phân tích kỹ lưỡng về hiện trạng và đặc điểm văn bản. Phạm vi nghiên cứu là văn bản những sách dạy lịch sử được liệt kê trong Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu(1), chưa bao gồm các sách Hán Nôm mới sưu tầm những năm gần đây của Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng như sách tại các thư viện ở Hà Nội. Để bổ sung cho những điểm còn bỏ ngỏ trong bài viết trước, tại đây, chúng tôi xin trình bày những kết quả nghiên cứu mới nhất của mình về hiện trạng và đặc điểm văn bản các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi sẽ là văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm từ thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX(2) hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (sách trong Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu và sách Hán Nôm mới sưu tầm những năm gần đây của Viện Nghiên cứu Hán Nôm) và các thư viện ở Hà Nội (Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Viện Sử học, Thư viện Viện Văn học). Do sách dạy học trong giáo dục thời phong kiến chưa được thể chế hóa, cho nên quan niệm về sách dạy học nói chung cũng như sách dạy lịch sử nói riêng khó đi đến một sự thống nhất(3). Hơn nữa, việc dạy lịch sử Việt Nam vốn không được coi trọng trong nhiều thế kỷ giáo dục phong kiến, người học lịch sử Việt Nam chủ yếu dựa vào một số bộ sử được triều đình hay một số cá nhân biên soạn với mục đích chính trị và học thuật. Như vậy, nếu coi tất cả những bộ sử là sách dạy lịch sử thì e rằng chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc khoanh vùng phạm vi nghiên cứu. Tại bài viết này, chúng tôi quan niệm sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm là sách: -Được biên soạn nhằm mục đích giảng dạy cho học trò về lịch sử Việt Nam. Mục đích này có thể thể hiện trong tiêu đề, trong lời tựa. -Được biên soạn để dạy học trò các kiến thức cơ bản trong đó có kiến thức về lịch sử Việt Nam. -Được nhà nước chuyên sử dụng cho việc giảng dạy lịch sử Việt Nam trong trường học. Với quan điểm như vậy, chúng tôi đã tiến hành khảo sát kho sách Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Văn học, Viện Sử học, Thư viện Quốc gia Việt Nam và đã lựa chọn được 20 cuốn sách với số lượng 186 văn bản. Đó là các sách: 1.An Nam sơ học sử lược安南初學史略 2.Ấu học Hán tự tân thư幼學漢子新書, (quyển IV - Ấu học lịch sử giáo khoa thư 幼學歷史教科書) 3.Ấu học quốc sử ngũ ngôn thi幼學國史五言詩 4.Ấu học Việt sử tứ tự幼學越史四字 5.Bùi gia huấn hài裴家訓孩 6.Cải lương mông học Quốc sử giáo khoa thư改良蒙學國史教科書 7.Khải đồng thuyết ước啟童說約 8.Khóa nhi tiểu giản tứ tự quốc âm thể課兒小簡四字國音體 9.Mông học Việt sử tam tự giáo khoa thư蒙學越史三字教科書 10.Nam sử南史 11.Tiểu học quốc sử lược biên國史小學略編 12.Sơ học vấn tân初學問津 13.Tân san tiểu học tứ tự sử新刊小學四字史 14.Thiên Nam tứ tự天南四字 (Thiên Nam tứ tự kinh 天南四字經 và Thiên Nam tứ tự kinh chú giải天南四字經註解) 15.Thiên Nam tứ tự kinh天南四字經 16.Trung học Việt sử biên niên toát yếu 中學越史編年撮要 17.Trung học Việt sử toát yếu中學越史撮要 (Trung học Việt sử toát yếu giáo khoa 中學越史撮要教科) 18.Việt sử lược tứ tự kinh越史略四字經 19.Việt sử tam tự tân ước toàn biên越史三字新約全編 20.Việt sử tân ước toàn biên越史新約全編 Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin không trình bày cụ thể từng văn bản. Những mô tả khái quát về tình hình văn bản được chúng tôi thể hiện trong bảng Hiện trạng văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm ở phần Phụ lục bài viết này. Qua khảo sát 186 văn bản, 20 đầu sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, chúng tôi có một số đánh giá cụ thể như sau: 1.Tình trạng văn bản Các văn bản chủ yếu được lưu trữ tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tuy số lượng văn bản hiện còn khá lớn (186 văn bản) nhưng tình hình văn bản không mấy phức tạp. Sách có số lượng văn bản nhiều nhất là Trung học Việt sử toát yếu 中學越史撮要, 57 văn bản chiếm 30,6% tổng số lượng văn bản của 20 sách. Số lượng văn bản nhiều thứ 2 là cuốn Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編, có 33 văn bản, chiếm 17,7% tổng số văn bản của 20 sách. Ngoài hai cuốn có số lượng văn bản nhiều như trên, có 3 cuốn có khối lượng trên 10 văn bản là cuốn An Nam sơ học sử lược 安南初學史略 (16 văn bản, 8,6% số văn bản), Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢字新書 (15 văn bản, 8,1% số văn bản), Khải đồng thuyết ước 啟童說約 (20 văn bản, 10,8% số văn bản). Như vậy, 5 đầu sách này đã chiếm tới 75,8% khối lượng văn bản. Trong 5 sách này có tới 4 cuốn đầu thế kỷ XX, chủ yếu là những bản in nên tình trạng văn bản không phức tạp. Còn lại, có đến 10 sách (50% số sách) chỉ có 1, 2 văn bản. Có 7 sách chỉ có 1 văn bản, đó là: Ấu học quốc sử ngũ ngôn thi 幼學國史五言詩, Mông học Việt sử tam tự giáo khoa thư蒙學越史三字教科書, Khóa nhi tiểu giản tứ tự quốc âm thể課兒小簡四字國音體, Nam sử南史, Tân san tiểu học tứ tự sử 新刊小學四字史, Thiên Nam tứ tự kinh 天南四字經, Trung học Việt sử biên niên toát yếu 中學越史編年撮要. Có 3 cuốn có 2 văn bản Ấu học Việt sử tứ tự幼學越史四字, Tiểu học quốc sử lược biên 小學國史略編, Việt sử lược tứ tự kinh 越史略四字經. Sách có số lượng văn bản nhiều chủ yếu là sách in vào đầu thế kỷ XX, nên số lượng bản in chiếm đa số. Các văn bản chép tay thường chữ viết chân phương, không gây khó khăn cho việc xử lý văn bản. Nhiều sách có dung lượng ngắn, những sách có dung lượng ngắn đều là sách văn vần (ngoại trừ cuốn Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢字新書). Sách có dung lượng ngắn nhất là cuốn Thiên Nam tứ tự kinh 天南四字經 A.1958, 20 trang, 180 câu 4 chữ. Các văn bản có dung lượng nội dung lớn là những văn bản ở bậc tiểu học và trung học (gồm 5 cuốn Tiểu học quốc sử lược biên 小學國史略編, An Nam sơ học sử lược 安南初學史略, Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編, Trung học Việt sử biên niên toát yếu中學越史編年撮要, Trung học Việt sử toát yếu中學越史撮要), đều là những cuốn văn xuôi. Cuốn có dung lượng lớn nhất là cuốn Trung học Việt sử toát yếu 中學越史撮要, 720 trang. Trong các cuốn sách chỉ có độc bản (7 cuốn), có 5 cuốn có nội dung trọn vẹn, 2 cuốn Nam sử 南史 và Tân san tiểu học tứ tự sử 新刊小學四字史 không trọn bộ. Cuốn Nam sử 南史 hiện chỉ có từ bài 79 đến bài 123, với nội dung lịch sử Việt Nam từ Lê Thái Tổ đến thời Nguyễn Thế Tổ (Gia Long). Cuốn Tân san tiểu học tứ tự sử 新刊小學四字史có nội dung trọn vẹn từ thời Hồng Bàng đến Tây Sơn, tuy nhiên tiêu đề sách có ghi Tân san tiểu học tứ tự sử quyển nhị 新刊小學四字史卷貳cho thấy đây là quyển 2 của bộ sách. Đối với 13 cuốn sách có từ 2 văn bản trở lên, tình hình văn bản phức tạp hơn, chúng tôi cần phải khảo sát để đưa ra nhận xét văn bản nào là văn bản hoàn thiện, đáng tin cậy hơn cả (còn gọi là thiện bản). Đó là các văn bản có nội dung đầy đủ, ít sai sót, tình trạng bảo quản còn nguyên vẹn, có niên đại in/ chép tay sớm nhất, nếu niên đại in và chép tay như nhau thì văn bản in là văn bản được ưu tiên lựa chọn. Sau khi tiến hành khảo sát cụ thể từng văn bản(4), chúng tôi đã lựa chọn được thiện bản của 13 cuốn sách đó như sau: -An Nam sơ học sử lược安南初學史略: A.3114 (trùng bản A.3114 bis). Sau khi khảo sát cụ thể, chúng tôi nhận thấy đây là bản in đầy đủ nhất do nhóm Cao Xuân Dục và Đỗ Văn Tâm hiệu chính. Hơn nữa, sau khi tiến hành so sánh, chúng tôi nhận thấy bản dịch của nhóm này sát với nguyên bản Pháp văn hơn bản dịch của nhóm Phạm Văn Thụ và Nguyễn Doãn Thạc. -Ấu học Hán tự tân thư幼學漢字新書: VHv.1485. Trong số văn bản in chúng tôi sưu tập được, chỉ có bản này là đầy đủ nhất, thừa quyển 2. -Ấu học Việt sử tứ tự幼學越史四字: VHv.51. Sách này có hai văn bản, bản VHv.1259 là một tập đóng gộp nhiều sách lại với nhau, do vậy, chúng tôi chọn bản VHv.51 này làm thiện bản cho cuốn sách. -Bùi gia huấn hài 裴家訓孩: VHv.364/1-2 (có 4 trùng bản VHv.1832/1-2, VHv.1245/1-2, A.2990/1-2, A.884/1-2). Đây là 5 bản in hiện còn của sách này, các văn bản chép tay đều có niên đại muộn và không hoàn thiện. -Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư 改良蒙學國史教科書: A.169. Đây là bản in đầy đủ nhất, có phần đính chính sửa lại những chỗ in sai. -Khải đồng thuyết ước啟童說約: AB.11. Tuy bản Nhàn Vân Đình VHv.3200 là bản in sớm nhất (1871), nhưng do văn bản không còn nguyên vẹn, bị mối mọt cắn và đóng lộn ở nhiều trang, nên chúng tôi lựa chọn bản in Linh Sơn tự AB.11 (in năm 1881, chữ rõ ràng và ít lỗi chế bản nhất) là thiện bản của sách này. -Sơ học vấn tân 初學問津: AB.231. Đây là bản in đáng tin cậy và ra đời sớm nhất trong các văn bản. -Thiên Nam tứ tự/Thiên Nam tứ tự kinh chú giải 天南四字經注解: VHv. 2474. Sách này chỉ còn bản chép tay, lại có nhiều dạng bao gồm sách chỉ có chính văn chữ Hán, sách có bản chú giải bằng chữ Hán, sách có chú giải cả Hán và Nôm, đều là những sách chép tay về sau. Trong số các văn bản này, chúng tôi chọn VHv.2474 là văn bản đã được biên soạn lại, sửa chữa những chỗ sai sót, có dịch Nôm chính văn, chú giải cả bằng chữ Hán và chữ Nôm, có ghi rõ ràng về niên đại biên tập, là một văn bản đáng quan tâm. -Tiểu học quốc sử lược biên 小學國史略編: A.329. Văn bản này là bản đã được Đỗ Văn Tâm nhuận chính. -Trung học Việt sử toát yếu中學越史撮要: A.987/1-4. Đây là bản in lần sau trong cùng một năm, đã có sửa chữa những chỗ sai sót, có đầy đủ phần lời tựa, phần bổ sung về khí hậu. -Việt sử lược tứ tự kinh 越史略四經: A.1521. Văn bản này ít sai sót hơn so với văn bản A.1271. -Việt sử tam tự tân ước toàn biên 越史三字新約全編: VHv.1820. Đây là bản in còn nguyên vẹn nhất trong số 3 trùng bản. Các bản chép tay đều không đầy đủ. -Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編: A.1507. Trong các bản in Áng Hiên, bản A.10 là bản in hoàn thiện nhất. Trong các bản in Quan Văn, bản in A.1507 là bản in hoàn thiện nhất. Bản in Quan Văn là bản đã được rà soát, sửa chữa cẩn thận, lại có nét chữ in sắc nét hơn, nên chúng tôi lựa chọn bản A.1507 là thiện bản của sách này. 2.Đặc điểm văn bản Đặc điểm văn bản các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ
Nôm được phân tích dựa trên các tiêu chí: loại hình văn bản, niên đại, tác giả, thể loại, văn tự, bậc học, việc tổ chức biên soạn. 2.1.Loại hình văn bản Đặc điểm chủ yếu về loại hình văn bản là số lượng bản in chiếm áp đảo các bản chép tay. Trong số 186 văn bản (kí hiệu) được khảo sát, có 126 bản in (67,7%), 60 bản viết (32,3%). Để có những nhận xét cụ thể hơn về đặc điểm loại hình văn bản, chúng tôi tiến hành thống kê sự phân bố về loại hình văn bản theo thời gian, kết quả được thể hiện dưới bảng 1 sau đây: Bảng 1. Sự phân bố về mặt loại hình văn bản theo thời gian
Loại hình Niên đại | In | Viết | Số lượng văn bản/ký hiệu | Tỉ lệ % | Số lượng văn bản/ký hiệu | Tỷ lệ % | Thế kỷ XX | 107 | 85 | 12 | 20 | Thế kỷ XIX | 10 | 7,9 | 2 | 3,3 | Không rõ niên đại | 9 | 7,1 | 46 | 76,7 | Tổng cộng | 126 | 67,7 | 60 | 32,3 | 186 văn bản |
Như vậy, các bản in chủ yếu là bản in vào đầu thế kỷ XX (85%). Bản in có niên đại sớm nhất là năm 1871. Các bản chép tay chủ yếu là không ghi niên đại (76,7%). Bản chép tay ghi niên đại sớm nhất là 1880. Có thể thấy, với 67,7% số lượng văn bản là bản in, sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm đã phản ánh những thay đổi và tiến bộ của nghề in trong lịch sử nghề in nước ta cũng như những thay đổi về đặc điểm loại hình văn bản so với những thế kỷ trước. Nếu so sánh con số thống kê sách in chiếm chưa đầy 30% tổng số sách còn lại trong di sản Hán Nôm(5) thì con số 67,7% sách dạy lịch sử rõ ràng là một ý nghĩa lớn. 2.2.Niên đại Trước hết, để khảo sát mối tương quan của các thông tin niên đại, chúng tôi tiến hành chia các văn bản (186 văn bản) theo các tiêu chí: 1. Có niên đại biên soạn, có niên đại chép và in; 2. Có niên đại biên soạn, không có niên đại chép và in; 3. Không có niên đại biên soạn, có niên đại chép và in; 4. Không có niên đại biên soạn, không có niên đại chép và in. Sự phân bố về số lượng và tỉ lệ phần trăm về mặt niên đại theo các tiêu chí trên được chúng tôi trình bày như bảng 2 dưới đây: Bảng 2. Sự phân bố về mặt niên đại của các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Phân bố Phân loại | Số lượng văn bản/ ký hiệu | Tỉ lệ % | Có niên đại biên soạn, có niên đại chép, in | 114 | 61,3 | Có niên đại biên soạn, không có niên đại chép, in | 30 | 16,1 | Có niên đại chép, in, không có niên đại biên soạn | 11 | 5,9 | Không có niên đại biên soạn, không có niên đại chép, in | 31 | 16,7 | Tổng cộng | 186 | 100 |
Như vậy, có thể thấy, các văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm đa phần là những văn bản có đầy đủ thông tin niên đại chép và in (61,3%), chỉ có 16,7% số văn bản không hề có thông tin về niên đại. Về mặt niên đại nói chung, trong số 20 mục sách được thống kê, có 7 mục sách không có thông tin niên đại (niên đại soạn hay niên đại chép, in), 1 mục sách ghi niên đại (soạn) cuối thế kỷ XVIII, 3 mục ghi niên đại cuối thế kỷ XIX, 9 mục ghi niên đại thế kỷ XX. Cách phân định này dựa trên nguyên tắc những mục sách nào có niên đại soạn và niên đại in, chép khác nhau thì chúng tôi chọn theo niên đại soạn, những mục sách nào không có niên đại soạn chỉ có niên đại chép, in thì chúng tôi chọn tiêu chí niên đại theo văn bản sớm nhất. Cuốn sách có niên đại biên soạn sớm nhất - cuối thế kỷ XVIII là cuốn Bùi gia huấn hài 裴家訓孩. Mặc dù theo lời tựa của tác giả, chúng ta được biết tác giả soạn xong vào năm 1787, nhưng đáng tiếc là hiện tại chúng ta chưa tìm được văn bản nào của cuốn sách có niên đại in hay chép tay vào cuối thế kỷ XVIII, những văn bản mà chúng ta có được cả bản in và bản chép tay đều là những văn bản có niên đại sau năm 1850(6). Sách được Bùi Thức Kiên dâng lên vua Tự Đức, sau đó được in và ban hành rộng rãi. Qua đó cũng có thể biết được, vào khoảng triều vua Tự Đức, cuốn sách này được sử dụng phổ biến trong các lớp học của trẻ nhỏ. Do cuốn sách được biên soạn vào giai đoạn giao thời giữa triều Lê Trung hưng và triều Nguyễn, lại chỉ còn các văn bản nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nên để có tính kết nối, chúng tôi vẫn xếp sách này vào trong danh mục sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trong số các sách không ghi niên đại, qua khảo sát về mặt văn bản và nội dung, chúng tôi nhận thấy đều là sách được soạn, chép, in vào khoảng thời gian từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Cuốn Ấu học quốc sử ngũ ngôn thi 幼學國史五言詩có nội dung dạy về lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến hết thời Tây Sơn, điều này chứng tỏ cuốn sách được biên soạn dưới triều Nguyễn, sớm nhất là đầu thế kỷ XIX. Cuốn Cải lương mông học giáo khoa thư 改良蒙學教科書(A.169, VHv.2145) không ghi niên đại nhưng nội dung chép lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến khi Duy Tân lên ngôi (tức 1907), điều đó cho thấy việc biên soạn cuốn sách này được hoàn thành sớm nhất là vào tháng 9 năm 1907 (thời điểm vua Duy Tân lên ngôi). Hơn nữa, dựa vào các nghiên cứu về Đông Kinh Nghĩa Thục, cụ thể ở đây chúng tôi dẫn theo tác giả Chương Thâu (1982)(7), thì đây là sách giáo khoa của nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Điều đó đồng nghĩa với việc sách được biên soạn vào năm 1907, vì nhà trường này chỉ tồn tại đến tháng 12-1907. Cuốn Nam sử 南史ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời Lê Thái Tổ đến hết thời Nguyễn Thế Tổ (1820), như vậy niên đại biên soạn của cuốn sách này không thể sớm hơn 1820. Ngoài ra, dựa vào nội dung sách, chúng tôi nhận thấy văn phong được thể hiện trong cuốn sách này có nhiều điểm tương đồng với những cuốn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm đầu thế kỷ XX, trong cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906). Vì vậy, trong điều kiện nghiên cứu hiện tại, chúng tôi chỉ có thể phỏng đoán cuốn sách này được biên soạn vào cuối thế kỷ XIX hoặc đầu thế kỷ XX. Cuốn Tân san tiểu học tứ tự sử 新刊小學四字史, Thiên Nam tứ tự kinh 天南四字經A.1958 có nội dung lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến hết thời Lê Trung hưng, Tây Sơn. Như vậy, hai cuốn sách này khả năng được biên soạn sớm nhất là đầu triều Nguyễn, hay đầu thế kỷ XIX. Trung học Việt sử biên niên toát yếu 中學越史編年撮要dựa vào thời đại của tác giả Ngô Giáp Đậu có thể xác định là sách được biên soạn vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trước thời điểm tác giả biên soạn cuốn Trung học Việt sử toát yếu 中學越史撮要. Cuốn Việt sử lược tứ tự kinh 越史略四字經của tác giả Trần Kỷ sống vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, lại có nội dung từ Hồng Bàng đến thời Hàm Nghi (1885). Như vậy có thể thấy rõ cuốn sách này được biên soạn vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. 2.3.Tác giả Tác giả sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm bao gồm tác giả biên soạn, tác giả chú giải, tác giả dịch nghĩa, diễn âm, tác giả nhuận chính, duyệt đọc. Sau khi tìm hiểu tiểu sử các tác giả, chúng tôi có một số nhận xét về thành phần các tác giả như sau: Về quê quán, trong tổng số 20 tác giả có liên quan đến việc biên soạn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm có 2 người là người Pháp, 1 người hiện chúng tôi phỏng đoán có thể là người gốc Trung Quốc (tác giả Nguyên Tử Thành(8)). Số còn lại có 2 người Hưng Yên, 6 người Hà Nội, 3 người Bắc Ninh, 1 người Ninh Bình, 1 người Hà Tĩnh, 1 người Hà Nam, 1 người Nghệ An, 2 người không rõ quê quán ở đâu. Như vậy, tác giả sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm chủ yếu là người Hà Nội và người Bắc Ninh. Điều này phản ánh đúng tình hình phát triển học thuật ở vùng đất ngàn năm văn hiến. Về mặt học vị và chức tước, chúng tôi đã tiến hành thống kê và kết quả được thể hiện ở bảng 3 sau đây: Bảng 3. Địa vị xã hội các tác giả sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Chức tước Học vị | Giáo chức | Không phải giáo chức | Không rõ chức tước | Tổng cộng | Ghi chú | Số lượng | Tỉ lệ % | Số lượng | Tỉ lệ % | Số lượng | Tỉ lệ % | Số lượng | Tỉ lệ % | Cử nhân | 5 | 27,8 | 3 | 16,7 | 1 | 5,5 | 9 | 50 | | Phó bảng | 2 | 11,1 | - | - | - | - | 2 | 11,1 | | Tiến sĩ | 2 | 11,1 | - | - | - | - | 2 | 11,1 | Không thống kê 2 Tiến sĩ người Pháp | Không rõ học vị | - | - | - | - | 5 | 27,8 | 5 | 27,8 | Phạm Huy Hổ là Ấm sinh | Tổng cộng | 9 | 50 | 3 | 16,7 | 6 | 33,3 | 18 | 100 | |
Con số thống kê trên đây chỉ dựa trên 18 tác giả, không tính 2 tác giả người Pháp, do hệ quy chiếu về học vị khác với Việt Nam thời phong kiến. Qua bảng thống kê, chúng ta có thể thấy các tác giả biên soạn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm chủ yếu là những người nắm giữ các chức vụ liên quan đến giáo dục (50%), đa phần có học vị Cử nhân (50%). Ngoài ra, có 11,1% số người có học vị Phó bảng (Trần Kỷ, Phạm Văn Thụ), 11,1% số người có học vị Tiến sĩ (Bùi Dương Lịch, Đỗ Văn Tâm). Có 3 Cử nhân không giữ chức vụ liên quan đến giáo dục tham gia vào việc biên soạn sách (Bùi Hướng Thành, Hoàng Đạo Thành, Phạm Vọng). Tuy nhiên, chúng ta cũng phải chú ý rằng, do số lượng những người không rõ học vị và chức tước không nhỏ (27,8%) nên những phân tích về thành phần tác giả trên đây chỉ có tính tương đối. 2.4.Thể loại Về mặt thể loại, trong số 20 sách, có 12 sách biên soạn theo thể loại văn vần (thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ), 8 sách biên soạn theo thể loại văn xuôi. Việc tỉ lệ sách văn vần chiếm tỉ lệ cao hơn sách văn xuôi phản ánh đặc điểm chung của sách dạy trẻ nhỏ thời phong kiến. Lối biên soạn sách dạy học bằng văn vần là lối biên soạn truyền thống, được lan truyền từ Trung Quốc sang, theo các hình thức tam tự, tứ tự, ngũ tự (như Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi). Do ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán có nhiều điểm tương đồng, việc đọc thơ, văn vần thuận miệng thuận tai, khiến cho trẻ em dễ đọc, dễ nhớ, cho nên lối biên soạn này đã trở nên rất thịnh hành ở Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XX. Lối biên soạn này phù hợp với việc dùng dạy trẻ em ở bậc học khai tâm, mông học hay ấu học, là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà sư phạm hiện nay trong khi soạn sách dạy về kiến thức lịch sử cho học sinh tiểu học. Các sách văn xuôi chủ yếu là sách đầu thế kỷ XX thuộc giai đoạn trong và sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (7/8 cuốn), riêng có cuốn Nam sử 南史 được biên soạn bằng văn xuôi hiện chưa xác định được niên đại chính xác là cuối thế kỷ XIX hay đầu thế kỷ XX. Văn xuôi trong các sách này là lối văn xuôi Hán văn bạch thoại, ảnh hưởng của phong trào tân văn thể do Lương Khải Siêu ở Trung Quốc khởi xướng. Văn phong trong sáng, dễ hiểu, ít dùng điển cố, điển tích, câu văn ngắn gọn. 2.5.Văn tự Về mặt văn tự, trong số 20 sách, có 15 sách viết bằng chữ Hán, 5 sách đa ngữ (Hán, Nôm, Quốc ngữ). Trong số 5 cuốn đa ngữ có 1 sách song ngữ Nôm - Quốc ngữ (Khóa nhi tiểu giản tứ tự quốc âm thể 課兒小簡四字國音體), 2 sách vừa có bản chữ Hán vừa có bản song ngữ Hán - Nôm (Bùi gia huấn hài 裴家訓孩, Thiên Nam tứ tự 天南四字(Thiên Nam tứ tự kinh chú giải 天南四字經注解), 1 sách vừa là có bản chữ Hán, vừa có bản song ngữ Hán - Nôm, vừa có bản tam ngữ Hán - Nôm - Quốc ngữ (Sơ học vấn tân初學問津), 1 sách vừa có bản chữ Hán vừa có bản tam ngữ Hán - Nôm - Quốc ngữ (Khải đồng thuyết ước 啟童說約). Nhìn chung, ngoại trừ cuốn Khóa nhi tiểu giản tứ tự quốc âm thể課兒小簡四字國音, bốn cuốn sách được trình bày đa ngữ đều vốn là văn bản viết bằng chữ Hán, về sau được dịch ra Nôm hay Quốc ngữ. Ba cuốn Bùi gia huấn hài 裴家訓孩, Thiên Nam tứ tự 天南四字(Thiên Nam tứ tự kinh chú giải 天南四字經注解), Khải đồng thuyết ước 啟童說約chỉ có một bản dịch sang chữ Nôm(9). Sơ học vấn tân初學問津 có nhiều bản dịch ra chữ Nôm. Cuốn sách song ngữ Nôm - Quốc ngữ là cuốn Khóa nhi tiểu giản tứ tự quốc âm thể 課兒小簡四字國音體, được biên soạn vào niên đại khá muộn, năm 1952, tuy nhiên chúng tôi vẫn thống kê vào mục sách của bài viết do tính kết nối truyền thống của cuốn sách này. Như vậy, có thể thấy, sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán chữ Nôm thực chất chủ yếu được biên soạn xuất phát từ chữ Hán (19 cuốn, trong đó có 15 cuốn hoàn toàn dùng chữ Hán, 4 cuốn biên soạn bằng chữ Hán, sau được dịch ra Nôm, Quốc ngữ). Các sách được dịch ra chữ Nôm (4 cuốn) hoặc viết bằng chữ Nôm (1 cuốn) đều là sách văn vần. Qua tìm hiểu niên đại các văn bản, chúng tôi nhận thấy trào lưu dịch các sách văn vần Hán sang Nôm cũng chỉ mới bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. 2.6.Bậc học Việc phân định bậc học phụ thuộc vào từng thời kỳ giáo dục. Trước cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), nền giáo dục Nho học truyền thống không có sự phân cấp rõ ràng, tuy nhiên về đại thể có thể nói nó gồm các bậc học: ấu học và tiểu tập, trung tập, đại tập(10). Sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), nền giáo dục Nho học được chia làm ba cấp: ấu học, tiểu học, trung học. Ở đây chúng tôi chia sách ra làm hai thời kỳ, sách biên soạn trước cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906) và sách biên soạn trong và sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906). Sách biên soạn trước cải cách giáo dục lần thứ nhất mà chúng tôi sưu tập được chủ yếu là sách ở bậc ấu học và tiểu tập, có tính thường thức. Đó là các sách: Ấu học quốc sử ngũ ngôn thi 幼學國史五言詩, Bùi gia huấn hài 裴家訓孩, Khải đồng thuyết ước 啟童說約, Sơ học vấn tân 初學問津, Thiên Nam tứ tự (Thiên Nam tứ tự kinh chú giải天南四字經注解), Thiên Nam tứ tự kinh 天南四字經. Cuốn Tân san tiểu học tứ tự sử 新刊小學四字史 chỉ được xác định niên đại là sớm nhất vào đầu thế kỷ XIX, chúng tôi tạm thời xếp vào nhóm này, do phong cách biên soạn có nhiều điểm tương đồng. Như vậy, tổng cộng nhóm này có 7 cuốn (35%). Những những sách được biên soạn trong và sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906) được chia làm ba bậc học: ấu học, tiểu học, trung học. Bậc ấu học gồm các sách: Ấu học lịch sử giáo khoa thư 幼學歷史教科書 nằm trong bộ Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢字新書, Ấu học Việt sử tứ tự 幼學越史四字, Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư 改良蒙學國史教科書, Việt sử tam tự tân ước toàn biên 越史三字新約全編. Ngoài ra, cuốn Việt sử lược tứ tự kinh 越史略四字經 cũng có thể đã được Trần Kỷ, một viên quan phụ trách học chính nhiều năm ở các tỉnh, phủ biên soạn cho bậc ấu học ở giai đoạn này. Cuốn Mông học Việt sử tam tự giáo khoa thư 蒙學越史三字教科書 được biên soạn năm 1924, tức là thời điểm đã có cải cách giáo dục lần thứ 2, giáo dục phong kiến bị xóa bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, do tính ảnh hưởng của những chính sách cải cách giáo dục lần thứ nhất trong việc biên soạn cuốn sách này, nên ở đây chúng tôi vẫn xếp cuốn này vào mục ấu học. Theo như lời tựa, cuốn sách này được biên soạn cho học sinh ấu học ở các trường tư thục. Như vậy, có thể coi có 6 cuốn sách dành cho bậc ấu học. Bậc tiểu học gồm 3 sách: Tiểu học quốc sử lược biên 小學國史略編, An Nam sơ học sử lược 安南初學史略, Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編. Bậc trung học gồm 2 sách: Trung học Việt sử biên niên toát yếu 中學越史編年撮要, Trung học Việt sử toát yếu 中學越史撮要. Ngoài ra, cuốn Nam sử 南史do không xác định được niên đại chính xác hay tương đối chính xác, hơn nữa lại bị mất quyển 1, nên ở đây chúng tôi không phân bậc cũng như chia thời kỳ. Tuy nhiên, khảo cứu nội dung sách, có thể thấy sách được biên soạn bằng lối văn xuôi giống với những cuốn sách văn xuôi được biên soạn hồi đầu cải cách giáo dục lần thứ nhất. Theo nhận định còn chủ quan của chúng tôi, có lẽ sách này được biên soạn cho bậc tiểu học. Cuốn Khóa nhi tiểu giản tứ tự quốc âm thể 課兒小簡四字國音體 được biên soạn năm 1952, không thuộc giai đoạn cải cách giáo dục, tuy nhiên mục đích biên soạn của cuốn sách là dành cho trẻ nhỏ ở bậc mông học, ấu học. Vì vậy, có thể coi cuốn này là một cuốn sách ở bậc ấu học. Như vậy, các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm chủ yếu là sách dành cho bậc ấu học (14 sách, 70%). Chỉ có 3 sách được soạn cho bậc tiểu học (15%), 2 sách (tức cuốn Nam sử 南史)được soạn cho bậc trung học (10%), 1 sách không rõ biên soạn cho bậc học nào (5%). Những sách soạn cho bậc học tiểu học và trung học đều là những sách biên soạn trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1906. Khái niệm tiểu học và trung học đối với sách giáo khoa Hán Nôm cũng là khái niệm dành riêng cho nền giáo dục nước ta ở giai đoạn này. 2.7. Tổ chức biên soạn Về việc tổ chức biên soạn, có đến 70% số sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm là do tư nhân đứng ra tổ chức biên soạn. Trong số đó, chỉ có 1 cuốn (5%) là do đoàn thể không thuộc nhà nước tức Đông Kinh Nghĩa Thục đứng ra biên soạn (Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư 改良蒙學國史教科書), còn lại 13 cuốn (65%) là do các cá nhân tự biên soạn và phân phát cho học trò sử dụng. Con số sách do nhà nước đứng ra tổ chức khá khiêm tốn, chỉ gồm 30% tổng số sách (tức 6 cuốn sách). Sách biên soạn dưới sự chỉ đạo của Nhà nước(11) chủ yếu là những sách đầu thế kỷ XX, sách phục vụ cho cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906). Đó là những sách do Hội đồng Tu thư đứng ra biên soạn hoặc tổ chức biên soạn, nhuận chính như: Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢字新書(bậc Ấu học), An Nam sơ học sử lược 安南初學史略(bậc Tiểu học), Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編 (bậc Tiểu học), Trung học Việt sử biên niên toát yếu 中學越史編年撮要 (bậc Trung học), Trung học Việt sử toát yếu 中學越史撮要 (bậc Trung học). Ngoài ra còn có thể kể thêm cuốn Tiểu học quốc sử lược biên 小學國史略編của tác giả Phạm Huy Hổ, mặc dù chưa có bản duyệt in, nhưng cuốn sách này đã được Hội đồng Tu thư cụ thể là tác giả Đỗ Văn Tâm biên soạn, nhuận chính. 3.Nội dung văn bản Nhìn chung, nội dung các cuốn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm ngắn gọn, súc tích. Nội dung những cuốn sách ở bậc ấu học hay mông học thường là liệt kể lịch đại, nhằm trình bày cho học trò biết được lịch sử nước ta bắt đầu từ đâu, trải qua bao nhiêu năm, có các đời vua nào, vua nào trước vua nào sau, nước ta có những vị anh hùng nào v.v... như cuốn Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢字新書, Thiên Nam tứ tự kinh 天南四字經, Thiên Nam tứ tự/ Thiên Nam tứ tự kinh chú giải 天南四字經注解, Sơ học vấn tân 初學問津, Khải đồng thuyết ước 啟童說約,Bùi gia huấn hài 裴家訓孩v.v... Ngoài ra, trong thời đại nghi sử, các câu chuyện dân gian như trầu cau, Mai An Tiêm, Chử Đồng Tử cũng được nhắc đến như trong cuốn Việt sử lược tứ tự kinh 越史略四字經. Những sách có nội dung dài, trình bày lược sử từng triều đại vua, những sự kiện lịch sử quan trọng về quân sự, ngoại giao, pháp luật v.v..., có phân tích cặn kẽ cái được cái mất từng thời kỳ đều là những sách dành cho bậc tiểu học và trung học như các cuốn Tiểu học quốc sử lược biên 小學國史略編, Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編, Trung học Việt sử toát yếu 中學越史撮要v.v... Nội dung các cuốn sách này cơ bản tham khảo hai bộ lịch sử lớn của nước ta là Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Nội dung thời kỳ nghi sử có sự khác nhau rõ rệt giữa các cuốn sách được biên soạn vào các giai trước và sau cải cách đầu thế kỷ XX (1906). Sự khác nhau này phản ánh những ảnh hưởng của làn sóng tân sử học đầu thế kỷ XX(12). Nội dung lịch sử giai đoạn thuộc Pháp ở những cuốn sách do nhà nước đứng ra tổ chức biên soạn trong cải cách giáo dục lần thứ nhất được viết với dụng ý ca ngợi công ơn khai hóa của nước Pháp, như cuốn An Nam sơ học sử lược 安南初學史略. Điều này thể hiện rõ ý đồ chính trị cũng như quan điểm chủ quan của tác giả biên soạn hay người chỉ đạo biên soạn. Qua nhận xét nhỏ này, chúng ta có thể thấy nghiên cứu nội dung các văn bản sách dạy lịch sử sẽ mang lại cho chúng ta những hiểu biết nhất định về nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, văn hóa, giáo dục, tư tưởng v.v... Những điều đó sẽ được chúng tôi nói rõ hơn trong những bài viết khác. Trên đây là những nhận xét cơ bản, cũng là kết quả nghiên cứu mà chúng tôi thu nhận được khi tiến hành khảo sát văn bản các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Tựu trung lại, có thể thấy, văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán chữ Nôm thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX còn khá phong phú. Số văn bản in chiếm tỉ lệ cao và chủ yếu là bản in đầu thế kỷ XX, chứng tỏ vào thời điểm này nghề in ở nước ta rất có điều kiện phát triển. Các sách phần lớn có dung lượng không dài, phần nhiều được trình bày dưới dạng văn vần (thơ) để dạy trẻ em ở bậc sơ học. Những sách soạn bằng văn xuôi không nhiều, chủ yếu là sách dành cho bậc tiểu học và trung học sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906). Do sách ra đời muộn nên vấn đề niên đại của các văn bản không phức tạp. Các tác giả biên soạn, biên tập, nhuận chính, biên dịch sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán chữ Nôm chủ yếu là người Hà Nội và Bắc Ninh. 50% trong số họ là người có học vị cử nhân và giữ các chức vụ liên quan đến giáo dục. Hầu hết các cuốn sách là được biên soạn xuất phát từ chữ Hán. Trong số 20 sách, chỉ có 6 sách là do Nhà nước đứng ra tổ chức biên soạn. Điều này phản ánh thực trạng chung của sách giáo khoa hay sách giảng dạy trước năm 1945. Phụ lục Hiện trạng văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm
Stt | Tên sách | Tình trạng văn bản | Niên đại | Tác giả | Hình thức thể hiện | 1. | An Nam sơ học sử lược安南初學史略 | 11 bản in, 5 bản viết, chữ Hán. | Không ghi | Ch.B. Maybon và Henri Russier (Pháp) soạn bằng tiếng Pháp | Văn xuôi | A.3114 bis, A.3114, A.3191, Hv.76/1, Hv.56/1 | In, 26x15cm, 172 tr. | In 1909 | Cao Xuân Dục, Đỗ Văn Tâm hiệu chính (bản dịch) | R.442 | Viết, 27x15cm, 222 tr. | chép 1909 | A.3228, VHb.219, VHb.230, A.935, VHb.356, HN.222 | In, 17x11cm, 144 tr., Viễn đông ấn đường tàng bản | In 1911 | Phạm Văn Thụ, Nguyễn Doãn Thạc dịch ra Hán văn | VHv. 1556 | Viết, 26x15cm, 210 tr. | Chép 1928 | Hv.450 | Viết, 16x29.5cm, 60 tr. | Không ghi | R.306 | Viết, 16x28cm, 91 tr. | R.223 | Viết, 17x28cm, 290 tr. | Chép 1911 | 2. | Ấu học Hán tự tân thư幼學漢子新書, (quyển IV - Ấu học lịch sử giáo khoa thư 幼學歷史教科書)
| 6 bản in, 9 bản viết (bộ 4Q), chữ Hán | Soạn 1908 | Dương Lâm, Đoàn Triển, Bùi Hướng Thành biên tập. Đỗ Văn Tâm hiệu đính. Đông Dương Nghị học hội đồng kiểm duyệt. | Văn xuôi | VHv.1485 (thừa Q2), VHv.1507 (Q3, Q4), VHv.2394 (Q2, Q4), VHb.367 (Q2) | In, 15x22cm, Q1 80 tr., Q2 148 tr., Q3 52 tr., Q4 92 tr., bộ 372 tr. Viễn đông ấn đường tàng bản | In 1908 Không ghi | VHv.3611 (Q4), A.3168 (Q3, Q4) | In, 15x24cm, Q3 52 tr., Q4, 92 tr. Viễn đông ấn đường tàng bản | VHv.245 (Q1, Q2) | Viết, 15.5x27cm, 80 tr. | VHv.346 (đủ bộ) | Viết, 15.5x27cm, 128tr. | VHv.469 (Q3, Q4) | Viết, 16x26.5cm, 151tr. | Chép 1922 | VHv.4000 (Q1, Q2) | Viết, 25x15.5cm, 92tr. | Không ghi | VHv.3091 (Q1, Q2) | Viết, 13.5x28.5cm, 184tr. | VHv.1589 (Q3, Q4) | Viết, 28x16cm, 48tr. | VHv.1729 | Viết, 28x15cm, Q3 thiếu từ tờ 13 đến tờ 17, 124 tr. | R.1636 (Q1, Q2) | Viết, 26x16cm, 192 tr. | R.561 | Viết, 14x28cm, 128 tr | Soạn 1908 | 3. | Ấu học quốc sử ngũ ngôn thi 幼學國史五言詩 | 1 bản viết, chữ Hán, R.220, 25x15cm, 28 tr. | Không ghi | Không ghi | Văn vần | 4. | Ấu học Việt sử tứ tự幼學越史四字 | 2 bản in, chữ Hán, VHv.51, VHv.1259, 23x15cm, 38 tr. Quan Văn đường tàng bản. | Soạn và in 1907 | Hoàng Đạo Thành soạn, Quan Văn đường tàng bản. | Văn vần | 5. | Bùi gia huấn hài裴家訓孩 | 5 bản in, 3 bản viết , chữ Hán, có Nôm | Viết tựa 1787 | Bùi Dương Lịch soạn, Phan Tùng Hiên dịch ra chữ Nôm | Văn vần | VHv.364/1-2 | In, 31x17cm, 445 tr., Hán | VHv.1832/1-2 | In, 26x17cm, 445 tr., Hán | A.2990/1-2, VHv.1245/1-2 | In, 28x17cm, 445 tr., Hán | A.884/1-2 | In, 27x16cm, 445 tr., Hán | A.253 | Viết, 31x20cm, 394 tr., Hán | Hv.510 | Viết, 28x15.5cm, 220 tr., Bùi gia huấn hài 112 tr., Hán | VNv.214 | Viết, 27x15cm, 88 tr., Hán và Nôm | Chép 1908 | 6. | Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư 改良蒙學國史教科書 | 3 bản in, 2 bản viết, chữ Hán | Không ghi | Không ghi, tuy nhiên theo nghiên cứu của Chương Thâu, đây là tác phẩm của Đông Kinh Nghĩa Thục. | Văn xuôi | A.169 | In, 25.5x14.5cm, 128 tr. | VHv.1552 | 25.5x14.5cm, 88 tr., thiếu thiên 5 | R.1946 | 17x15cm, 88 tr., thiếu thiên 5 | VHv.2145 | Viết, 27x16cm, 113 tr. | VHv.159 | Viết, 29x16cm, 77 tr., Cải lương mông học 24 tr. | 7. | Khải đồng thuyết ước 啟童說約 | 10 bản in, 10 bản viết, chữ Hán, có Nôm, có quốc ngữ | Tác giả viết lời tựa năm 1853 | Phạm Phục Trai soạn, Chu Ngọc Chi dịch ra chữ Nôm và chữ Quốc ngữ | Văn vần | VHv.1488, VHv.1257, A.889 | In, 24x14cm, 84 tr., Hán | In 1881 | VHv.3200 | In, Nhàn Vân đình, 23x14cm, 104 tr., Hán | In 1871 | AB.11, Hv.37 VHv.3297, VHv.4024, | In, Linh Sơn tự tàng bản, 14x24cm, 84 tr., Hán | In 1881 | VNv.132, VNv.564 | In, Phúc Văn đường, 16x27cm, 76 tr., chữ Hán, có Nôm, quốc ngữ | In 1932 | VHv.489 | Viết, 28x15cm, 179 tr., Hán | Không ghi | VHv.964/1 | Viết, 28.5x15.5cm, 181 tr., Hán | VHv.964/2 | Viết, 26.5x14.5cm, 56 tr., Hán | Chép 1880 | VHb.79 | Viết, 21x13cm, 42 tr., Hán | Không ghi | VHv.1238 | Viết, 26x14cm, 92 tr., Hán | VHv.2554 | Viết, 14x28cm, 14 tr., tập thượng, Hán | VNv.2 | Viết, 15x26cm, 234 tr., Khải đồng thuyết ước 71a đến tờ 110b, Hán | A.1224/2 | Viết, 30x20cm, 308 tr., Khải đồng thuyết ước từ tr.64a-98a, Hán | VHv.1369 | Viết, 27x11cm, 125 tr. Khải đồng thuyết ước từ tr.70 đến 125, Hán | VHv.2033 | Viết, 15x26cm, 164 tr., Hán | 8. | Khóa nhi tiểu giản tứ tự quốc âm thể課兒小簡四字國音體 | 1 bản viết, chữ Nôm có chữ Quốc ngữ, AB.646, 25.5x13.5cm, 40 tr. | Đề tựa 1952 | Nguyễn Văn Bình soạn | Văn vần | 9. | Mông học Việt sử tam tự giáo khoa thư蒙學越史三字教科書 | 1 bản viết, chữ Hán, A.2314, 29x16.5cm, 58 tr. | Viết tựa 1924 | Nguyên Tử Thành | Văn vần | 10. | Nam sử南史 | 1 bản viết, chữ Hán, VHv.187/3, 27x15cm, 148 tr. | Không ghi | Không rõ | Văn xuôi | 11. | Quốc sử tiểu học lược biên 國史小學略編 | 2 bản viết (3T), 1 phàm lệ, chữ Hán. | Viết 1907 | Phạm Huy Hổ biên tập | Văn xuôi | A.1327 | Viết, 29x15.5cm, 286 tr. | A.329 | Viết, 29.5x15cm, 248 tr. | Không ghi | 12. | Sơ học vấn tân 初學問津 | 5 bản in, 4 bản viết, chữ Hán xen chữ Nôm, 1 bản có quốc ngữ | Không ghi | Không ghi | Văn vần | AB.231 | In, 21x14cm, 36 tr., Trường Thịnh đường tàng bản, Hán và Nôm | In 1874 | VNb.183 | In, 13.5x19.5cm, 36 tr., Quan Văn đường tàng bản, Hán và Nôm | In 1907 | VNb.189 | In, 13.5x20cm, 36tr., Tụ Văn đường tàng bản, Hán và Nôm | VNv.724 | In, 15x26.5cm, 28 tr., Hán, Nôm, quốc ngữ | Không ghi | R.1018 | In 20x13cm, 36 tr., Trường Văn đường tàng bản, Hán và Nôm | In 1882 | VHv.3074 | Viết, 13.5x25.5cm, 42tr., Hán | Chép 1926 | VHv.2033 | Viết, 15x26cm, 164tr., Sơ học vấn tân từ trang 22b đến trang 27a, Hán và Nôm | Không ghi | R.444 | Viết, 15x26cm, 28tr., Hán | Chép 1917 | Hv.510 | Viết, 28x15.5cm, 220tr., Sơ học vấn tân từ tờ 103a (tr.206) đến 110 (tr.220), Hán | Không ghi | 13. | Tân san tiểu học tứ tự sử新刊小學四字史 | Chữ Hán, Hv.553/2, 25.5x13cm, 164tr., viết tay, quyển 2 | Không ghi | Không ghi | Văn vần | 14. | (Thiên Nam tứ tự kinh 天南四字經 và Thiên Nam tứ tự kinh chú giải天南四字經註解) | 6 bản viết, chữ Hán, chữ Nôm | Không rõ | Văn vần | A.238 | Viết, 22x31cm, 50tr, Hán | Không ghi | Văn vần | VHv.2474 | Viết, 31x20cm, 118 tr., 72 tr. Thiên Nam tứ tự kinh chú giải, chữ Hán, chữ Nôm | Chép 1889 | Nguyễn Miễn Hiên soạn. Nguyễn Tử Tế khảo cứu. | VHv.2033 | Viết, 15x26cm, 164tr., Thiên Nam tứ tự kinh từ tr.41a-58a, Hán | Không ghi | Không ghi | R.1661 | Viết, 25x13cm, 66tr., Hán | R.2075 | Viết, 24x13cm, 36tr., Hán | Hv.510 | Viết, 28x15.5cm, 220tr., Thiên Nam tứ tự kinh từ tr.11a - 17b, Hán | 15. | Thiên Nam tứ tự kinh天南四字經 | 1 bản viết, A.1958, 12x23.5cm, 20 tr., chữ Hán | Không ghi | Không ghi | Văn vần | 16. | Trung học Việt sử biên niên toát yếu中學越史編年撮要 | 1 bản viết (bộ: 4Q), A.328, 242 tr., 28x15cm, Hán | Không ghi | Ngô Giáp Đậu soạn. Đỗ Văn Tâm nhuận đính | Văn xuôi | 17. |
Trung học Việt sử toát yếu中學越史撮(Trung học Việt sử toát yếu giáo khoa中學越史撮要教科) | 51 bản in, 6 bản viết (bộ 4 tập, 5Q: thủ, xuân, hạ, thu, đông), Hán | | Ngô Giáp Đậu soạn, Phạm Văn Thụ duyệt, Đoàn Triển, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân Dục đề tựa. | Văn xuôi | Bản in | In tại số nhà 22 phố Hàng Bè, Hà Nội, năm 1911. Hội đồng Học chính Bắc Kỳ tọa duyệt cho phép in và phát hành. | VHv.987/1-4, VHv.986/1-2 (thủ, xuân, thu, đông), VHv.1557/2,4 (hạ và đông), VHv.1544/1-2 (thủ, xuân, hạ), VHv.2694 (thu), VHv.2024 (thủ, xuân), VHv.2025 (hạ), VHv.2026 (thu), VHv.2027 (đông), VHv.990/2 (hạ), VHv.3170 (thủ, xuân), VHv.3171 (hạ), VHv.3172 (đông), VHv.1701 (đông), R.1343 (xuân), R.1346 (hạ), R.1349 (thu), R.76 (thủ, xuân), R.77 (hạ), R.78 (thu), R.79 (đông), Hv.77/1-4, Hv.35 | 26x15cm, 3 tựa, 720 tr. (đủ bộ). Tập thu - xuân 148 tr., tập hạ 216 tr., tập thu 202 tr., tập đông 154 tr. | VHv.157/1-4, R.263 (hạ), R.264 (đông), R.265 (thu) | 25x15cm, 2 tựa, 708 tr. (đủ bộ). Tập thủ-xuân 136 tr., tập hạ 216 tr., tập thu 202 tr., tập đông 154 tr. | A.770/1-2, VHv.1906 (thủ, xuân), VHv.989/2,4 (hạ, đông), VHv.1908 (thu), VHv.1909 (đông), R.1342 (xuân), R.1345 (hạ), R.1348 (thu), R.1351 (đông) | 15.5x27cm, bộ 4 tập, 2 tựa, 708 tr., Tập thủ-xuân 136 tr., tập hạ 216 tr., tập thu 202 tr., tập đông 154 tr. | A.2984/1-2 (thủ, xuân, thu), VHv.3230 (xuân, đông), VHv.3231 (hạ, thu), VHv.3642 (xuân), VHv.1583 (hạ), VHv.988/2,3,4 (hạ, thu, đông), R.1341 (thủ, xuân), R.1344 (hạ), R.1347 (thu), R.1350 (đông), R.1405 (thủ, xuân), R.1406 (hạ), R.1407 (đông), R.406 (hạ), HN.654 (xuân) | 15x25.5cm, bộ 4 quyển, 2 tựa, 708 tr., Tập thủ-xuân 136 tr., tập hạ 216 tr., tập thu 202 tr., tập đông 154 tr. | Bản viết | | VHv.1700 (thu) | 31x18cm, 166 tr. | Không ghi | VHv.2581 (xuân) | 29x16cm, 162 tr. | VHv.992/1-3 (thủ, xuân, hạ, thu) | 28.5x15cm, 208 tr. | VHb. 120 (thu, đông) | 17.5x13cm, 126 tr. | VHv.3173 (thu) | 16x27cm, 200 tr. | VHv.991/2 (hạ) | 27.5x15 cm, 88 tr. | Chép 1915 | 18. | Việt sử lược tứ tự kinh越史略四字經 | 2 bản viết, chữ Hán, bộ 2 Q. | Không ghi | Trần Kỷ | Văn vần | A.1521 | 19.5x30cm, 224 tr. | A.1271 | 31x21cm, 334 tr. | 19. | Việt sử tam tự tân ước toàn biên 越史三字新約全編 | 3 bản in, 3 bản viết, chữ Hán | Không ghi | Không ghi | Văn vần | VHv.1697, VHv.1820, VHv.2235 | In, Áng Hiên tàng bản, 15.5x27.5cm, 134 tr. | In 1909 | VHv.3897 | Viết, 15x24cm, 86 tr. | Không ghi | VHv.1279 | Viết, 29x17cm, 78 tr. (Đại Việt tam tự sử) | VHv.2318 | Viết, 28x15cm, 74 tr. | 20. | Việt sử tân ước toàn biên 越史新約全編 | 30 bản in, 3 bản viết, chữ Hán | 1906 | Hoàng Đạo Thành | Văn xuôi | A.10, VHv.1943 (thượng), VHv.1689 (hạ), R.576 (thượng), VHv.132/1-2, VHv.999/1 (thượng), VHv.997/2 (hạ), VHv.3189, R.1416 (thượng), R.1418 (hạ), R.1417 (thượng), R.214 (hạ), HN.548 (thượng), HN.260, HN.549 (hạ) | In, Áng Hiên tàng bản, 28x15.5cm, bộ 2 quyển gồm: Q. Thượng: 122 tr., Q. Hạ: 104 tr. | In 1906 | VHv.998/1-2, VHv.996/1-2, VHv.1582 (hạ), VHv.4036 (thượng), VHv.3281 (hạ), Hv.56/2 (hạ), R.198 (thượng), A.1507, VHv.997/1 (thượng), VHv.2022 (thượng), VHv.2023 (hạ), VHv.1986 (thượng), VHv.1987 (hạ), R.1414 (thượng), R.1415 (thượng) | In, Quán Văn tàng bản, 15.5x26.5cm, bộ 2 Q. Hạ: 230 tr., Q. Thượng: 124 tr., Q. Hạ: 106 tr. | In 1906 | VHv.993/2 | Viết, 15x27.5cm, Q. hạ, 130 tr. | Chép 1927 | VHv.3280 | Viết, 28x16cm, Q. thượng, 68 tr. | Không ghi | VHv.159 | Viết, 29x16cm, 77 tr., Đại Việt sử ước 44 tr. (tờ 18 đến 39) | Soạn 1906 | Tổng kết: | 126 bản in, 60 bản viết | 13/20 mục sách có ghi niên đại | 13/20 mục sách có ghi thông tin tác giả | 8 văn xuôi, 12 văn vần | | | | | | | | | | | | | | | |
Ghi chú: Trong bảng, các văn bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm gồm các văn bản có ký hiệu A, AB, VHv, VHb, VNv, VNb; các văn bản lưu trữ tại Viện Sử học có ký hiệu Hv; các văn bản lưu trữ tại Viện Văn học có ký hiệu HN; các văn bản lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam có ký hiệu R. Ngoài ra, tại bảng này, với những sách nhiều bản in do các nhà in khác nhau thực hiện chúng tôi có chia nhóm từng hàng. Mỗi hàng là một nhóm văn bản có cùng đặc điểm văn bản, cùng nhà in, dù cho số trang, độ thiếu đủ của nó có khác nhau. Chú thích: (1) Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa & François Gros đồng chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1993, (2) Về mặt niên đại ra đời sách dạy lịch sử Việt Nam, theo nghiên cứu của chúng tôi, hiện mới chỉ tìm được cuốn sách ra đời sớm nhất là 1878 được in vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Vì vậy, bài viết này đặt ra vấn đề nghiên cứu các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm nói chung, cũng là nghiên cứu sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm từ thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX nói riêng. (3) Cũng do chưa được thể chế hóa, cho nên chúng tôi tạm thời gọi những sách có tính chất giáo khoa là sách dạy học. Khái niệm này hoàn toàn không mâu thuẫn với khái niệm sách giáo khoa thường dùng. (4) Do khuôn khổ bài viết, chúng tôi xin không trình bày cụ thể ở đây. (5) Xem Mai Hồng - Nguyễn Hữu Mùi: Tìm hiểu nghề in của ta qua kho sách Hán Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986, tr.45. (6) Các văn bản in tuân thủ rất nghiêm ngặt việc kiêng húy chữ thời 時(viết thành ), chữ hoa 華(viết thành ), chữ nhiệm 任 (viết thành ) là những chữ húy ban hành thời Thiệu Trị và Tự Đức. Ngoài ra, sách Đại Nam thực lục, đệ tứ kỷ, quyển thủ, chép sự kiện mùa thu tháng 7 năm Tự Đức thứ 3 (1850) có nhắc đến sự kiện Bùi Thức Kiên dâng sách của cha lên vua Tự Đức như sau: “Nội các Thừa chỉ là Bùi Thức Kiên tiến 2 bộ sách của cha viên ấy đã làm ra. (Cha là Bùi Dương Lịch, đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm sách Nghệ An ký và sách Bùi gia huấn hài. Một bộ nói về địa phận thuộc sao nào dõi đất, hình thế núi sông, thích hợp về phong thổ, sự tích của nhân vật, duyên do về nhân cũ đổi mới. Một bộ nói về: lẽ của trời đất, sự sinh sống của người và vật, cho đến dòng dõi mối giường của nước Việt ta, nguồn dòng của đạo thống). Vua sai nho thần bình duyệt, để vào Sử quán". (Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, H. 2006, tập 7, tr.171). Qua đó, chúng tôi xác định các bản in của sách này có niên đại sau năm 1850. (7) Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX, Nxb. Hà Nội, H. 1982, 251 tr., tr.157. (8) Lời tựa của cuốn Mông học Việt sử tam tự giáo khoa thư 蒙學越史三字教科書có ghi thông tin về tác giả như sau: “Thường Châu Thụy Hưng đường Chuyết sĩ Nguyên Tử Thành bái tự 常州瑞興堂拙士元子成拜序”. Như vậy ông là người quê ở Thường Châu, hiệu là Thụy Hưng Đường, Chuyết sĩ. Chúng tôi tiến hành tra địa danh Thường Châu tại các cuốn Tênlàng xãViệt Nam đầu thế kỷ XIX,Dương Thị Thevà Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn, Nxb. KHXH, H. 1981, Đồng Khánh dư địa chí, bản dịch Việt - Anh - Pháp, Nxb. Thế giới, H. 2003, Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc kỳ, Vũ Minh Hương - Nguyễn Văn Nguyên - Philippe Papin biên tập, Nxb. KHXH, H. 1999, kết quả không thấy có cuốn nào ghi về địa danh này. Thường Châu theo hiểu biết của chúng tôi là một thành phố tại tỉnh Giang Tô Trung Quốc. Còn cái tên Nguyên Tử Thành cũng khiến chúng ta nghĩ đến tên một người gốc Trung Quốc hơn. Hiện chúng tôi chưa xác định chính xác lý lịch của tác giả này. (9) Bản dịch Nôm Khải đồng thuyết ước 啟童說約này có hai ký hiệu là trùng bản VNv.132, VNv.564. (10) Xem thêm Nguyễn Thị Chân Quỳnh (2002), Khoa cử Việt Nam (tập Thượng) - Thi Hương, Nxb. An Tiêm, Paris, 2002. (11) Quan niệm về Nhà nước ở giai đoạn này chỉ triều đình phong kiến và chính quyền bảo hộ. (12) Tân sử học là một phong trào khởi xướng từ Trung Quốc đầu thế kỷ XX được Lương Khải Siêu phát biểu trong hai tác phẩm Trung Quốc sử tự luận và Tân sử học. Ở Việt Nam, Phan Bội Châu là người có công lớn trong việc truyền bá tân sử học vào Việt Nam. Tác phẩm có giá trị và tiêu biểu cho phong cách tân sử học của Phan Bội Châu là cuốn Việt Nam quốc sử khảo. Trong lời tựa cuốn Trung học Việt sử toát yếu, Phạm Văn Thụ cũng có nhắc đến trào lưu tân sử học này như sau: “Sử ư? Bia ư? Chịu lời chê bai, chịu tiếng ngu si cũng là lệ cũ mà người trước tác không thể tránh khỏi vậy. Không xem tân sử luận của Lương Khải Siêu ư? Có cái A nổi lên thì ắt phải có cái B bài trừ cái A xuất hiện, có cái B xuất hiện thì ắt phải có cái C bài trừ cái B hiện hữu. Khẩu chiến, bút chiến, tranh cạnh nhiều mà chẳng xong”. (Trung học Việt sử toát yếu, VHv.987/1, tr.4a-4b, Nguyễn Thị Hường dịch từ nguyên bản chữ Hán)./. (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.22 - 41)
Nguyễn Thị Hường
Tin liên quan
-
Văn bia thời Trần ở Ninh Bình (Tạp chí Hán Nôm, số 3 (118) 2013; tr. 50-57)
-
Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 - 02/12/2013) (Hà
-
Phát biểu của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 -
-
Minh Mệnh với cải cách hành chính ở các cơ quan trung ương thời Nguyễn - Nhìn từ lịch sử và ấn chương hành chính (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121),
-
Bồng Châu thi văn tập của Bảng nhãn Vũ Duy Thanh - Một tác phẩm giá trị trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XIX(Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.29-42)
-
Về tư liệu văn khắc Hán Nôm thời Lý (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.43-50)
-
Bia chí - Nguồn sử liệu quý cần gìn giữ ở Lăng Ông Biên Hòa (Đồng Nai) (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.51-57)
-
Mã chữ Nôm trong Châu bản thời Gia Long (1802-1819) (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.58-65)
-
Nghiên cứu tư liệu gia lễ Việt Nam: Từ sơ đồ ngũ phục đến phục chế (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.66-78)
-
Nghĩ thêm về Việt Nho (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (120); tr. 3-13)
|