VI | EN
Văn bia đình huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (89)2008; Tr.49-54)
Số 3 (89)2008

VĂN BIA ĐÌNH HUYỆN THỦY NGUYÊN HẢI PHÒNG

ThS. TRƯƠNG THỊ THỦY

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Huyện Thủy Nguyên thuộc thành phố Hải Phòng trước đây là huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, nơi có nhiều di tích kiến trúc cổ cùng hệ thống bi kí khá phong phú. Bài viết này chúng tôi tập trung giới thiệu văn bia đình với ngôi đình và sinh hoạt làng xã Thủy Nguyên trong lịch sử.

Trên địa bàn huyện Thủy Nguyên hiện nay (theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm) hiện có 86 bia, chuông, trong số đó có 15 bia được đặt tại đình của các làng xã, được phân bố như sau:

 


STT

Ký hiệu

thác bản

Tên văn bia

Niên đại

Nơi dựng

1

7996

Tân tạo hậu thần bi

1650

xã Thuỷ Tú

2

7955

Tân tạo hậu thần thạch bi

1697

xã Thuỷ Tú

3

7995

Hậu thần bi ký

không rõ

xã Thuỷ Tú

4

8439

Tân tạo Hòa Lạc đình bi lệ

1688

xã Lâm Động

5

7937-7938;

7948-7949

Hậu thần bi ký

1714

xã Hà Tây

6

7735-7736

Hậu thần bi ký

1731

Xã An Ninh ngoại

7

7731-7734

Phụng tự hậu thần bi ký

1731

xã An Ninh ngoại

8

7935

An Lư xã bi ký

1755

xã An Lư

9

8425-8428

Tân tạo bi ký

1796

xã Bính Động

10

8429-8432

Hậu thần bi ký

1797

xã Bính Động

11

7737-7739

Hậu thần bi ký

1801

xã Câu Tử

12

7750-7752

Hậu thần bi ký

1791

xã Phù Lưu nội

13

7746-7747

Hương lệ bi ký

1860

xã Phù Lưu nội

14

7748-7749

Hương lệ bi ký

1860

xã Phù Lưu nội

15

7755-7756

Hương lệ bi ký

1887

xã An Ninh nội


 

Văn bia đình ở Thủy Nguyên có niên đại sớm nhất là năm 1650, và niên đại muộn nhất là năm 1887. Căn cứ vào số bia này có thể chia làm 2 nội dung chính: Bia ghi việc bầu Hậu và bia Hương lệ

I. Bia ghi việc bầu Hậu: 11/15

1. Tân tạo Hậu thần bi: N07996, bia 1 mặt, khổ 85x55cm, trán bia trang trí hình rồng chầu mặt nguyệt, diềm trang trí rồng, chim, hoa lá, tạo năm Khánh Đức thứ 2 (1650), do chức sắc thôn soạn. Bia ghi việc bản đình phụng sự vị Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ, Thự vệ sự, Tín Mĩ hầu Phạm quý công, thụy Cương Nam Cư sĩ Hậu thần. Trong xã có Phạm Văn Mi, Phạm Văn Quân, Phạm Văn Phục có đóng góp tiền của xây dựng đình, bầu làm Hậu thần cùng phối thờ.

2. Tân tạo Hậu thần thạch bi: 新造後神石碑N07955, bia 1 mặt, khổ 60x41cm, trán bia trang trí mặt trời tua mây, diềm trang trí hoa dây, tạo năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679). Bia nói về người trong thôn là Vũ Thị Tăng xuất tiền, ruộng xin làm bia Hậu thần được thờ ở đền và lưu truyền đời sau. Có bài minh 24 câu ca ngợi cảnh đẹp, con người.

3. Tân tạo bi ký: 碑記N08425-8428, bia 4 mặt, 2 mặt khổ 65x44cm, trang trí lá cúc, rồng lượn; 2 mặt khổ 18x64cm, tạo năm Cảnh Hưng thứ 58 (1797), do xã trưởng soạn, ghi tên bà họ Hoàng, hiệu là Từ Trực tiên sinh; Nguyễn quý công, hiệu là Duy Thuân, thuỵ là Thi Ký tiên sinh; Nguyễn quý công, tự là Khắc Khoan, thuỵ là Bất Khuất tiên sinh, là người bản xã, có công đức với dân, con cháu lập bia tưởng nhớ công đức, có bài minh 10 câu.

4. Hậu thần bi ký: N07995, bia 1 mặt khổ 92x55cm, trán bia trang trí mặt trời tua mây, diềm trang trí hoa dây, không niên đại. Nhưng, vì cùng địa danh huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn như các bia thời Lê khác, nên bia này cũng được dựng vào thời Lê thế kỷ XVIII. Bia ghi có người trong xã là Trịnh quý công, hiệu Phúc Vạn, vợ cả họ Phạm, hiệu Diệu Ân là gia đình danh gia trong bản ấp, đã đem 20 sào ruộng tốt, 60 quan thanh tiền cung tiến cho bản xã, dân làng dựng bia lưu truyền đời sau.

5. Hậu thần bi ký: N07737-7739, bia 3 mặt, 2 mặt khổ 24x65cm, 1 mặt khổ 21x61cm, tạo năm Bảo Hưng thứ 1 (1801), người viết là Mạc Hữu Quán. Nội dung bia cho biết trong xã có ông Mạc quý công, tự là Phúc Tưởng là người lương thiện, cần mẫn, được bản xã bầu làm Xã chính. Bản xã nhớ công đức bầu ông làm Hậu thần, ông đã đóng cho bản xã 12 quan tiền cổ, 1 sào ruộng. Có ghi lệ cúng giỗ hàng năm.

6. An Lư xã bi ký: N07935, bia 1 mặt khổ 68x49cm, trán bia trang trí mặt nguyệt, tạo năm Chính Hòa thứ 16 (1695), do Giám sinh, Sinh đồ Vũ Kỳ viết. Văn bia ghi việc một người trong xã là bà Nguyễn Thị Cầu bỏ ra 120 quan tiền, 1 con trâu, 60 đấu gạo, 10 chĩnh rượu nộp tại đình, dân xã đồng tình bầu bà làm Hậu thần, có bài minh 14 câu.

7. Hậu thần bi ký: N07735-7736, bia 2 mặt, khổ 45x52cm và 29x47cm, không có hoa văn trang trí, văn bia do Nguyễn Đăng Đệ soạn, tạo năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731). Bia ghi bản xã tu sửa lại đình vũ, có người trong xã là Nguyễn Thị Cúc đã cúng 8 quan tiền sử và 2 sào ruộng, bản xã đã bầu bà làm Hậu thần. Sau đó họ hàng bà lại cúng 10 quan tiền cổ và 1 sào ruộng. Bia có ghi rõ thể lệ cúng giỗ hàng năm, lễ vật gồm một cỗ xôi 40 đấu gạo, gà rượu đến đình làm lễ.

8. Vô đề: N08429-8432, bia 4 mặt, 2 mặt khổ 43x62cm, 2 mặt khổ 20x64cm, trang trí nghê chầu, diềm trang trí sóng mây, dựng năm Cảnh Hưng thứ 59 (1798) do Xã nhiêu Đồng Vĩ Phụ soạn. Bia ghi vào năm Nhâm Dần triều Lê có người trong họ Đồng ứng xuất 100 quan tiền chi dùng vào việc công, bản xã cảm phục công đức hiệp bầu làm Hậu thần. Xin khắc vào bia đá để con cháu đời sau noi gương. Có bài minh 16 câu ca ngợi công đức.

9. Phụng tự Hậu thần bi: N07731-7734 bia 4 mặt, 2 mặt khổ 29x50cm, 2 mặt khổ 43x15cm, tạo năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731). Nội dung bia cho biết đình xã lợp ngói, có người trong xã là Đoàn Quang Hiển, cùng vợ là Nguyễn Thị Nhiêu cúng tiến 10 quan tiền cổ và 1 sào ruộng tọa lạc tại xứ Ba Ninh, bản xã bầu ông bà làm Hậu thần.

10. Hậu thần bi ký: N07750-7752, bia 3 mặt, 2 mặt khổ 30x64cm, 1 mặt khổ 12x58cm, soạn năm Quang Trung thứ 4 (1791). Nội dung cho biết xã họp bàn bầu ông Nguyễn Đình Chiểu và bà Nguyễn Thị Tín là người lương thiện đã giao cho bản xã 115 quan tiền cổ và 7 sào ruộng, xã nhất trí bầu làm Hậu thần. Lấy ơn báo ơn, lấy đức báo đức, ông bà là người khoan hòa, chăm chỉ nên ngày càng khá giả, người trong ấp nhìn vào mà học tập, ông bà chỉ duy một điều nghĩa, đã đóng góp vào việc chi tiêu công dịch, cả làng được nhờ. Xin khắc bia ghi thể lệ cúng giỗ sau khi mất, bản xã sắm lễ vật gồm: một con lợn, rượu, xôi đến đình làm lễ. Có bài minh 12 câu.

11. Hậu thần bi ký: N07937-7938; 7948-7949, bia 4 mặt, 2 mặt khổ 76x46cm, trán bia trang trí mặt nguyệt, diềm trang trí rồng, dây leo, 2 mặt khổ 72x23cm, tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 9 (1714) do Trịnh Lập viết, Sinh đồ Lê Chính Lưu soạn. Nội dung ghi bà họ Trịnh bỏ ra 25 quan tiền và 3 sào ruộng công đức, bản xã tôn bầu bà làm Hậu thần. Có bài minh 14 câu ca ngợi công đức.

II. Bia hương lệ 4/15

1. Tân tạo Hòa Lạc đình bi: 樂亭N08439, bia 1 mặt khổ 93x61cm, trán bia trang trí rồng chầu mặt nguyệt, diềm trang trí dây hoa, chim, cá, cánh sen, tạo năm Chính Hòa thứ 9 (1688). Nội dung bia cho biết xã Lâm Động huyện Thủy Đường cùng nhau hội họp bàn việc lập lệ. Bản xã xây dựng đình, chiểu theo suất đinh, mọi người đóng góp tiền gạo, ngày nhập tịch, bản xã tổ chức thi ca hát tại đình, có người khảo hạch, ai hay thì thưởng 1 mạch tiền cổ. Có bài minh 28 câu ca ngợi thần, cảnh đẹp, phong tục.

2. Hương lệ bi ký: N07755-7756, bia 2 mặt khổ 33x57cm, tạo năm Đồng Khánh thứ 2 (1886). Nội dung cho biết bản xã đặt lệ: chủ tế tại đình phải là người đỗ đạt, người đỗ đạt cùng các chức Cai phó tổng, Suất đội bá hộ, Lý trưởng. Khán thủ làm Xã trưởng đến 60 tuổi biện lễ khao vọng. Trong làng có lệ hương ẩm, những ai từ 70 tuổi trở lên áo mũ chỉnh tề hành lễ rót rượu. Người nào lấy chồng ở làng, biện lễ nộp cho Lý trưởng, người nào lấy chồng nơi khác phải nộp nhiều hơn.

3. Hương lệ bi ký:N07746-7747, bia 2 mặt, khổ 75x32cm, tạo năm Tự Đức thứ 13 (1860). Nội dung cho biết từ trước đến nay đã có điều lệ nhưng chưa được đầy đủ, nay bỏ cũ thay mới, đặt lệ tòng binh, các học sinh trúng nhiêu học, có văn bài trở về được miễn sưu thuế, phụ nữ chửa hoang bị đánh 40 roi, bắt gia trưởng nộp 1 con lợn giá 3 quan. Bắt được kẻ ăn trộm, đánh 40 roi, bắt nộp 10 quan tiền, đuổi ra khỏi làng.

4. Hương lệ bi ký: N07748-7749, bia 2 mặt khổ 37x66cm, tạo năm Tự Đức thứ 13 (1860). Nội dung bia ghi đặt lệ tế thần, hạ điền, thượng điền hàng năm, nhà nào có trâu bò phải buộc vào, không được thả rông, nếu bắt được bò thì phạt 1 mạch, trâu thì phạt 36 văn. Người có quan tước mới được làm chủ tế trong đình.

III. Một số nhận xét

Để tìm hiểu về làng xã Thủy Nguyên, ngoài việc tìm hiểu trong thư tịch xưa cũng cần phải bổ khuyết bằng nguồn tư liệu quan trọng khác là những tài liệu khảo sát hiện vật, văn bia, chuông, gia phả, hương ước tại các khu di tích. Theo nội dung văn bia tại các đình còn lại chúng tôi có một vài nhận xét sau đây.

a, Về địa danh hành chính

Các văn bia thời Lê ở Thủy Nguyên cho biết vào thời gian này huyện Thủy Đường thuộc phủ Kinh Môn, đạo Hải Dương như bia Tân tạo Hậu thần, dựng năm Khánh Đức thứ 2 (1650) ghi là 道荊水棠(Đại Việt quốc, Hải Dương đạo, Kinh Môn phủ, Thủy Đường huyện, Đường Sơn xã). Chúng ta biết rằng huyện Thủy Đường xuất hiện khá sớm, từng được ghi trong bộ địa chí sớm nhất ở nước ta là Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV). Tài liệu lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư cho biết trong kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, vua Trần từng dời Giang Nam Triệu lên thuyền ra cửa Đại Bàng. Giang Nam Triệu được chú rõ là huyện Thủy Đường (Bản kỷ Q.V, tờ 47b). Thời Tây Sơn cả phủ Kinh Môn lệ vào trấn Yên Quảng, thời Nguyễn trả lại Hải Dương. Năm 1886 vì kiêng húy vua Đồng Khánh mà tên huyện Thủy Đường đổi thành Thủy Nguyên. Năm 1898, Pháp cắt huyện này về tỉnh Phù Liễn (sau là Kiến An), nay thuộc thành phố Hải Phòng.

Một văn bia khác (N08430) dựng năm Cảnh Hưng thứ 59 (1798) ở đình xã Bính Động huyện Thủy Nguyên ghi địa danh hành chính ở địa phương này là: (Việt Nam quốc, Hải Dương xứ, Kinh Môn phủ, Thủy Đường huyện, Lâm Động tổng, Lâm Động xã). Thông tin từ văn bia này cho biết bia được dựng vào thời Tây Sơn năm 1789, tức năm Cảnh Thịnh thứ 6, nhưng người dân nơi đây vẫn sử dụng niên hiệu vua Lê, và thực tế trong văn bia này có câu “cựu Lê triều Nhâm Dần niên” (1782). Đó là nhãn quan chính trị đương thời ở nơi đây vẫn luôn hoài tưởng đến nhà Lê.

Một thông tin khác là thời Tây Sơn đạo Hải Dương được gọi là xứ Hải Dương. Đặc biệt là tên nước Việt Nam đã được sử dụng đúng tên nước mà người dân nơi đây sử dụng. Đây là một trong những tư liệu quý về tên gọi Việt Nam trước khi trở thành tên nước từ thời đầu nhà Nguyễn.

b/ Về loại hình bia đình ở Thủy Nguyên

Trong số bia đình trên ở Thủy Nguyên, hầu hết đều là bia Hậu thần, người bầu Hậu ở đây duy có một vị quan chức cao trong triều là vị Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy sứ Thự vệ Tín Mĩ hầu Phạm quý công. Nội dung văn bia không ghi rõ lý do vị này được tôn bầu làm Hậu thần ở đình xã Thủy Tú, nhưng thông thường thì có lẽ vị quan này từng đóng góp cho làng tiền của, có nhiều công đức nên sau khi mất được dân tôn thờ làm Hậu thần. Phần nhiều các vị Hậu thần khác là người địa phương, có vị là Hương lý, song có người chỉ là thường dân, thậm chí là phụ nữ. Họ có tiền giúp làng lo quan dịch hoặc chi dùng việc chung mà được Hậu thần thờ ở đình. Số tiền đóng nhiều nhất có người là 100 quan, người đóng ít nhất là 8 quan như bà Nguyễn Thị Cúc bỏ ra 8 quan tiền và 2 sào ruộng (bia N07736). Điều đó chứng tỏ số người dân giàu có cúng nhiều tiền của xây đình ít hơn ở các địa phương khác, nhưng nhiều người có tiền. Việc xây đình đều do dân đóng và lệ làng đóng đến 10 quan tiền.

Rõ ràng vào thời Hậu Lê tình hình kinh tế vùng đồng bằng ven biển phát triển mạnh, đây là nơi giao lưu văn hóa, kinh tế của các vùng lân cận như: Phà Rừng - Quảng Ninh, phà Bính Hải Phòng, phà Kiền Hải Dương, Hà Nội, phà Đụn Uông Bí, Đông Triều Phả Lại. Do đây là khu đệm, vùng trung gian trung tâm kinh tế của khu vực lân cận nên nền kinh tế khá phát triển, nhiều ngành nghề. Lịch triều hiến chương loại chí (Nxb. Giáo dục, H. 2007, tr.160) ghi: “... Còn công nghệ của dân gian thì dân ở vùng sông biển phần nhiều làm nghề nấu muối, đánh cá, dân ở chân núi phần nhiều làm nghề săn bắn và đốt than”; Vào thời kỳ này dân Thủy Nguyên cũng dựng cây cầu Khánh Long được làm bằng đá trong các năm 1730-1740, đó chính là tiền đề cho sự ra đời của quốc lộ số 10 chạy nối Hải Phòng - Quảng Ninh, tạo ra sự thuận lợi cho nền kinh tế phát triển.

Ngôi đình thời Lê ở đây đã khá phổ biến. Văn bia không ghi rõ quy mô từng ngôi đình, song cho biết đình có tên gọi riêng như đình Hòa Lạc xã Lâm Động. Cũng văn bia đình làng này khắc năm Chính Hòa thứ 9 (1688) cho biết đình hàng năm có hai kỳ tế lễ là nhập tịch và cầu phúc, đồng thời có lệ hát cửa đình, bia này cũng được trang trí khá đẹp với các đề tài sinh động, rồng, chim, cá, hoa lá mang đậm nét nghệ thuật dân gian.

Ngoài ra còn một số bia hương lệ khác mà qua nội dung văn bia đã thể hiện rõ phong tục tốt đẹp mà các thế hệ dân cư ở đây đã định ra một cách rõ ràng, nét đẹp văn hóa của người Thủy Nguyên ảnh hưởng sâu sắc đến ngày nay. Từ những dấu tích của các di tích như núi Thiểm Khê, tục gọi là thành Thạch Bích - nơi nhà Mạc họp quân, núi Vân Ổ, chùa Hàm Long, đền Thanh Lãng thờ Lê Ích Mộc, ngôi đình Kiền Bái với kiến trúc độc đáo, di chỉ khảo cổ nổi tiếng Tràng Kênh, khu di chỉ khảo cổ Việt Khê,... tất cả những di tích danh thắng đó đã tạo nên vẻ đẹp và niềm tự hào của người Thủy Nguyên.

Người Thủy Nguyên từ lâu đã xây dựng cho mình nhiều tập tục đẹp, vốn là những người gắn bó với ruộng đồng, gò bãi, sông biển, các thế hệ cư dân đã định ra một cách rõ ràng những luật lệ về bảo vệ đê điều, làng xóm, chăm sóc mùa màng và lệ xuống đồng, về miễn thuế cho binh lính, phạt kẻ say rượu nơi công cộng và kẻ trộm cắp. Hiếu học cũng là một truyền thống tốt đẹp của địa phương. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí (tr.159) đã từng nhận xét: “Thói quen của sĩ phu phần nhiều mạnh dạn, đỗ đạt huyện Thủy Đường là nhiều”. Một số xã, tổng trong huyện đều xây dựng văn chỉ, văn từ để khuyến học, đề cao văn chương, vì vậy ở đây đã đặt lệ ưu tiên với học trò và người đỗ đạt. Tất cả các điều trên được đặt ra làm phép tắc trong đời sống sinh hoạt xưa. Thời gian trôi qua, theo sự phát triển của xã hội, đến nay nhiều phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống tốt của nhân dân huyện Thủy Nguyên được gìn giữ, xây dựng và lưu truyền đến ngày nay như: hát Đúm ở Phục Lễ, hội hát trống quân ở Kiền Bái... Họ cố gắng bài trừ những hủ tục, lạc hậu, xây dựng nét văn minh lành mạnh phù hợp với nhu cầu của thời đại. Nếu bạn đã một lần đặt chân đến mảnh đất này, hẳn bạn sẽ cảm nhận được tình cảm chân tình và tấm lòng nhân hậu, nét đẹp văn hóa trong mỗi con người nơi đây.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Trãi toàn tập. Nxb. KHXH, H. 1976.

2. Đại Nam nhất thống chí. Nxb. KHXH, H. 1971.

3. Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. KHXH, H. 1998.

4. Địa chí Hải Phòng. Sở Văn hóa - Thông tin, Hải Phòng 1990.

5. Hải Dương phong vật chí. Kí hiệu: Vv.675 Thư viện Nghiên cứu Viện Hán Nôm.

6. Địa dư các tỉnh Bắc kỳ. Kí hiệu: Vv.854 Thư viện Nghiên cứu Viện Hán Nôm.

7. Tên làng xã Việt Nam đầu TK XIX. Nxb. KHXH, H. 1981.

8. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Giáo dục, H. 2007./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (89)2008; Tr.49-54)

Trương Thị Thủy
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm