Về chiếc ấn đồng Tam Giang khẩu tuần kiểm ty ấn thời Trần (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113) 2012; tr.12 - 18)
Về chiếc ấn đồng Tam Giang khẩu tuần kiểm ty ấn thời Trần (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113) 2012; tr.12 - 18)
VỀ CHIẾC ẤN ĐỒNG TAM GIANG KHẨU TUẦN KIỂM TY ẤN THỜI TRẦN
PGS.TS. NGUYỄN CÔNG VIỆT
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc thì ấn chương là loại hình quý hiếm với đặc thù riêng mà bất cứ nhà nghiên cứu cổ sử và các sưu tầm gia cổ vật nào cũng phải thừa nhận. Chính vì vậy, công tác khảo sát sưu tầm thu thập tư liệu về ấn chương, đặc biệt là hiện vật ấn có niên đại sớm là việc rất khó khăn phức tạp. Chưa kể đến thực tế hiện tại không ít hiện vật ấn giả đủ các chất liệu mà chủ yếu bằng đồng được dàn dựng rao bán như những báu vật mới tìm thấy,… Có những quả ấn được ngụy tạo công phu mà không có kinh nghiệm, quá trình nghiên cứu sưu tầm cũng dễ bị mắc phải.
Quả ấn đồng giới thiệu trong bài viết này là cả một thời gian dài chúng tôi theo đuổi khảo sát, nghiên cứu. Từ mấy năm trước đầu tiên là những bức ảnh chụp mờ nhạt và bản in rập nhòe nhoẹt, rồi đến tư liệu in chụp rõ ràng hơn. Cho đến lúc được tiếp xúc trực tiếp với quả ấn này thì tôi vô cùng mừng rỡ vì thấy đây là một ấn đồng cổ giá trị với nhiều tiêu chí mà ở các ấn đồng khác không có được. Ấn đã bị bùn nước vùi lấp nhiều thế kỷ, và may mắn được một ngư dân mò tìm đồ đạc bị chìm vớt lên được từ nhiều năm trước. Quả ấn trôi nổi qua tay mấy người, cuối cùng về với nhà giáo họ Dương ở ngoại thành Hà Nội. Ông là thầy giáo dạy toán cấp III, song lại làm thơ và trân trọng di sản văn hóa dân tộc. Khi ông chính thức chuẩn bị làm chủ sở hữu quả ấn, tôi là người nghiên cứu, giám định chân ngụy thì ông mới dám quyết. Cùng với số ấn tín nhiều năm sưu tầm thu thập, quả ấn này đến nay ông vẫn coi là báu vật trong nhà, giữ gìn cẩn trọng. Tôi đã nhiều năm nghiên cứu ấn chương nên không chỉ thầy Dương là chỗ thân tình mà bất cứ chủ nhân nào của ấn khi tôi muốn xin xem xét, chụp ảnh họ đều rất nhiệt tình.
Ấn có chất liệu bằng đồng pha ít kim loại khác và qua nhiều thế kỷ bùn đất chôn vùi, nên chuyển màu xám xỉn đen, mặt ngoài sần sùi, núm ấn có lỗ mọt nhỏ. Hai góc cạnh phía trên bị đục gọt nhẹ, đỉnh trên núm ấn có vết đục ngang đều do người tìm thấy ấn đục thử xem có phải là vàng hay không!
Ấn được đúc theo hình thức đế vuông, núm chuôi vồ dẹt to bản, dưới to trên thuôn nhỏ. Núm ấn tính từ mặt trên có chiều cao 6,3cm. Núm dẹt phần dưới rộng 3,5cm, phần chóp núm rộng 2,5cm.
Đế ấn dày 1cm, tổng chiều cao của ấn là 7,3cm. Mặt đế đúc theo hình vuông, 4 cạnh đều nhau cỡ 5,7 x 5,7cm. Rìa cạnh vành ngoài mặt đế cỡ 0,7cm, nét vạch khắc bị mờ 1 chút ở giữa cạnh phía trên. Trong khuôn dấu khắc 7 chữ Hán theo thể Triện thư xếp theo 3 hàng dọc đều nhau từ trên xuống, từ trái qua phải. Hàng thứ nhất có 2 chữ, hàng thứ hai có 2 chữ và hàng thứ ba khắc 3 chữ. Hàng 1 và hàng 2 chữ khắc đều nhau theo khuôn hình chữ nhật đứng, kích thước mỗi chữ là 2,1x1,35cm. Hàng thứ ba có 3 chữ khắc đều nhau khuôn hình vuông kích thước mỗi chữ là 1,35x1,35cm.
Mặt trên núm ấn phía bên phải có 7 chữ Hán khắc thể Chân thư theo chiều dọc. Nét khắc đậm, kiểu chữ đẹp. Phía bên phải dòng chữ sát mép cạnh ấn nên một số chữ bị sứt mẻ, chữ bị mờ khó đọc. Song quan sát xem xét kỹ, đối chiếu, chúng tôi đã xác định được cả 7 chữ. Chữ thứ nhất ở đúng vào chỗ mẻ góc trên ấn nên chỉ còn ¼ chữ với 3 chấm vạch nhỏ. Chữ thứ 2 bị mẻ một nửa vế bên phải, còn lại vế bên trái là bộ Thủy (氵), chữ thứ 3 còn nguyên vẹn tuy nét ngang dưới khá mờ, xác định là chữ Khẩu (口). Chữ thứ 4 bị mòn mờ vế phải, xác định là chữ Tuần (巡). Chữ thứ 5 cũng bị mòn mờ vế phải, xác định là chữ Kiểm (檢). Chữ thứ 6 còn nguyên, xác định là chữ Ty (司). Chữ thứ 7 cuối cùng bị sứt mờ nét ngoài vế phải, song vẫn xác định được là chữ Ấn (印).
Mặt trên núm ấn phía bên trái là dòng ghi niên đại, đáng tiếc ở đây do bị vùi lấp, bào mòn theo dòng chảy nhiều thế kỷ nên chữ bị mờ gần hết. Sử dụng các loại kính và các phương pháp nghiệp vụ chuyên môn trong xác định niên đại, qua những nét rất mờ còn lại của chữ, chúng tôi chỉ có thể đoán định được dòng niên đại một cách tương đối.
Muốn xác định niên đại tương đối của quả ấn này bắt buộc phải hoàn chỉnh tất cả các mặt trong nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng ấn và Chân hóa chữ Triện mặt dấu. Mặt dấu của ấn hình vuông có kích thước bằng mặt đế ấn là 5,7x5,7cm. Đường viền quanh dấu thể hiện rìa cạnh kích thước 0.7cm. 7 chữ Triện trong dấu chia làm 3 hàng dọc từ trên xuống dưới, từ phải qua trái(1). 7 chữ Triện trong dấu được xác định là 7 chữ Tam Giang Khẩu Tuần kiểm ty ấn (三江口巡檢司印). Đây là ấn của Ty Tuần kiểm vùng Tam Giang Khẩu.
Trong nghiên cứu ấn chương, việc Chân hóa chữ Triện hay giải mã các ký tự hình vẽ trong dấu là việc quan trọng để giải quyết nội dung văn khắc trong dấu. Đồng thời là việc đối chiếu với dòng chữ Hán khắc trên núm ấn có nội dung tương tự. Qua nội dung của con dấu cũng sẽ xác định được cơ bản hoặc tương đối niên đại của ấn một khi dòng niên đại bị sứt mờ hoặc thậm chí mất hết chữ. Bên cạnh các tiêu chí khác, nội dung chữ Triện trong dấu được coi là tiêu chí tiên quyết chủ yếu trong việc xác định tính chân ngụy, giá trị của hiện vật ấn chương.
Qua xem xét kỹ và đối chiếu với nội dung chữ Triện, đã có thể xác định được chính xác dòng chữ Hán khắc trên núm ấn vế bên phải, nhất là đối với những chữ bị sứt mờ. Chữ thứ nhất được xác định là chữ Tam (三); Chữ thứ 2 được xác định là chữ Giang (江); Chữ thứ 3 là được xác định đúng là chữ Khẩu (口); Chữ thứ 4 là được xác định là chữ Tuần (巡); Chữ thứ 5 xác định đúng là chữ Kiểm (檢); Chữ thứ 6 xác định đúng là chữ Ty (司); Chữ thứ 7 được xác định đúng là chữ Ấn (印). Như vậy dòng chữ bên phải trên núm ấn là 7 chữ Hán Tam Giang Khẩu Tuần kiểm ty ấn, trùng lặp với 7 chữ Triện trong dấu. Đây là quả ấn được ghi rõ tên cơ quan, địa danh; Đó là điểm thuận lợi trong việc xem xét đối chiếu xác định niên đại của ấn.
Trở lại dòng khắc ghi niên đại phía bên trái trên núm ấn với các chữ bị mờ hẳn. Điều hơi lạ là một số ấn đồng cổ mà chúng tôi được biết đều có tình trạng tương tự ít nhiều về sự sứt mờ khó đọc chữ ở dòng ghi niên đại. Đối chiếu với ấn đồng cổ Môn hạ sảnh ấn thời Trần Duệ Tông chúng tôi thấy có điểm giống nhau về vấn đề này. Ở ấn Môn hạ sảnh trên núm phía bên phải khắc bốn chữ Môn hạ sảnh ấn và ta dễ dàng xác định cả 4 chữ này. Phía bên trái khắc dòng niên đại, song một số chữ nhất là 2 chữ đầu ghi niên hiệu bị sứt mờ rất khó đọc. Sau khi nghiên cứu xem xét kỹ chúng tôi mới xác định được đó là các chữ Long Khánh ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập tam nhật tạo.(2)
Xem xét đối chiếu với một vài ấn đồng khác có niên đại muộn hơn chúng tôi thấy đa số dòng khắc niên đại bị mờ hơn dòng bên ghi nội dung, hoặc trọng lượng, hay tên cơ quan tạo ấn. Ở đây có lẽ là vấn đề nét khắc sâu nông, đậm nhạt kiểu chữ của 2 vế trên mặt núm ấn khác nhau. Dòng khắc ghi niên đại ở quả ấn này được khắc nét mảnh, chữ nông hơn so với dòng khắc nội dung ấn. Qua những nét khắc rất mảnh và mờ mòn còn lại, bằng việc sử dụng kỹ thuật, kinh nghiệm xác định văn tự ghi niên hiệu trên ấn, chúng tôi cho rằng hai chữ đầu là 2 chữ Đại Khánh (大慶).
Ở dòng ghi niên đại này, chữ duy nhất còn tương đối rõ nằm ở vị trí cuối dòng là chữ Nhật (日), trước chữ Nhật chỉ thấy một nửa chữ có thể là chữ nhị (貳)?. Tổng số dòng niên đại có khoảng 10 hoặc 11 chữ, đều là số thứ tự ghi năm, tháng, ngày tạo ấn. Những chữ còn lại bị mờ hoàn toàn không thể xác định được.
Niên hiệu Đại Khánh 大慶là niên hiệu triều vua Trần Minh Tông thời Trần tồn tại từ năm 1314 đến năm 1323. Từ năm 1324 đến năm 1329 hết triều Trần Minh Tông được đổi làm niên hiệu Khai Thái. Việc xác định quả ấn có niên đại thời Trần là có cơ sở. Trước hết là địa danh được ghi trên ấn, đồng thời là tên cơ quan, được khắc ghi liền dòng cả trên mặt ấn và ở chữ Triện mặt dấu. Chất liệu của ấn đồng này với thực trạng sần sùi, lỗ mọt, màu sắc cũng là những tiêu chí để xác định về niên đại. Bên cạnh đó là nét khắc chữ Triện, khuôn chữ trong dấu cùng dòng văn tự trên núm ấn cũng sẽ cho ta thêm các tiêu chí xác định.
Trước hết xin nói về địa danh Tam Giang Khẩu được khắc ghi trên ấn. Tam Giang là địa danh hành chính lớn cấp Lộ có từ đầu thời Trần. Các bộ chính sử lớn của ta như Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí - phần Dư địa chí, Đại Việt sử ký toàn thư đều ghi là Lý Công Uẩn chia nước làm 24 lộ, song chỉ thấy ghi địa danh của 12 lộ. Cho đến đời Trần Thái Tông mới đổi 24 lộ thời Lý làm 12 lộ, sách sử chỉ ghi tên các lộ là: Long Hưng, An Khang, Thiên Trường, An Tiêm, Bắc Giang, Tam Giang, Tam Đới, Quốc Oai, Lạng Giang, Sơn Nam, Khoái, Hồng, Diễn, Trường Yên. Chức quan đứng đầu mỗi lộ là chức An phủ sứ có chức Phó sứ phụ giúp. Giai đoạn này cơ cấu cấp hành chính khác giai đoạn sau, dưới cấp Lộ là cấp Châu đặt chức quan Thông phán và Thiêm phán cai quản. Cấp huyện thời này lại nằm dưới cấp Châu do chức Lệnh úy và Chủ bạ quản lý.
Lộ Tam Giang thời Trần quản ba Châu là Thao Giang, Tuyên Giang và Đà Giang. Châu Thao Giang quản các huyện Ma Khê, Sơn Vi, Thanh Ba và Hạ Hoa. Châu Tuyên Giang quản 3 huyện Tây Lan, Đông Lan và Hổ Nham. Châu Đà Giang quản hai huyện Long Bạt và Cổ Nông. Các huyện này chủ yếu thuộc địa phận trấn Sơn Tây giai đoạn sau.
Lộ Tam Giang với danh xưng đặt như vậy bởi nằm quanh khu vực ba con sông lớn là sông Hồng, sông Lô và sông Đà. Ba dòng sông này hợp lưu ở một điểm là ngã ba với khoảng nước mênh mông, đấy chính là Tam Giang Khẩu. Tam Giang Khẩu với vị thế trọng yếu trong chiến lược quân sự, phòng thủ, giao thương buôn bán, giao thông qua lại của cả một khu vực phía Tây Bắc kinh thành Thăng Long(3).
Cuối thời Trần theo bản chú sách Cương mục thì năm Quang Thái thứ 10 đời Trần Thuận Tông các lộ được đổi làm trấn. Theo sách Thiên hạ quận quốc thì cấp phủ bên cạnh cấp trấn cũng được đặt vào cuối thời Trần và thời thuộc Minh có sự thay đổi hành chính hợp tách châu, huyện. Sang thời Lê sơ đã có thay đổi về phân chia đặt tên cấp đơn vị hành chính. Cả nước được chia làm năm đạo là Nam đạo, Bắc đạo, Đông đạo, Tây đạo và Hải - Tây đạo. Các lộ, trấn, phủ, châu, huyện đều lệ thuộc. Triều Lê Thánh Tông năm Quang Thuận thứ 10 (1466) đặt 12 Thừa tuyên trên phạm vi toàn quốc cộng với Trung đô kinh thành có phủ Phụng Thiên. 12 Thừa tuyên gồm Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam, Hải Dương, An Bang, Ninh Sóc, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hưng Hóa, Thanh Hóa, Nghệ An và Thuận Hóa.
Như vậy địa danh Tam Giang từ đầu thời Lê sơ trở về sau không còn tồn tại và ở sử sách không còn ghi. Xem xét đối chiếu các châu, huyện của lộ Tam Giang ta vẫn thấy còn nguyên đa số danh xưng được lệ vào Thừa tuyên Sơn Tây và một phần nhỏ vào Thừa tuyên Tuyên Quang.
Thừa tuyên Sơn Tây thuộc Tây đạo quản các phủ Tam Đới, Thao Giang, Quốc Oai, Đoan Hùng và Quảng Oai. Dưới cấp phủ là cấp huyện và Thừa tuyên Sơn Tây quản tổng cộng 24 huyện. Phủ Thao Giang (sau đổi làm phủ Lâm Thao) gồm các huyện Sơn Vi, Hoa Khê, Thanh Ba, Hạ Hoa. Tên 3 huyện Sơn Vi, Thanh Ba và Hạ Hoa vẫn giữ nguyên như thời Trần, còn Hoa Khê chính là huyện Ma Khê xưa và đến thời Nguyễn triều Thiệu Trị đổi gọi là Cẩm Khê(4).
Châu Tuyên Quang và huyện Hổ Nham đến thời Lê sơ không còn thấy ghi, song 2 huyện Đông Lan và Tây Lan vẫn tồn tại. Tên Đông Lan còn đến đời Cảnh Thống (1498 - 1504) thì đổi làm Đông Quan, Tây Lan được đổi gọi là Tây Quan; Cả hai huyện này đều thuộc vào phủ Đoan Hùng. Huyện Hổ Nham nằm dưới lưu vực sông Lô, một phần giáp Đông Lan; Sang thời Lê sơ sáp nhập vào địa phận Tuyên Quang là huyện Yên Sơn thời Nguyễn sau này.
Châu Đà Giang thời Lê không còn thấy ghi, song hai huyện Long Bạt và Cổ Nông đã được đổi tên gọi và vẫn giữ cấp đơn vị hành chính. Huyện Long Bạt nằm ở tả ngạn sông Đà, đời Lê Quang Thuận đổi gọi là Bất Bạt, lệ vào phủ Đà Dương, sang triều Vĩnh Thịnh đổi thuộc vào phủ Quảng Oai. Huyện Cổ Nông nằm ở hữu ngạn sông Hồng tồn tại thời Lê sơ, sau đổi làm huyện Tam Nông triều Vĩnh Thịnh (1705 - 1720). Trong tất cả khu vực hành chính kể trên, tính từ thời Lê sơ chúng tôi không tìm thấy địa danh Tam Giang hay Tam Giang Khẩu ghi trong một sách sử nào. Tra cứu sự thay đổi các địa danh hành chính trên để khẳng định rõ thêm cho địa danh Tam Giang, Tam Giang Khẩu không còn tồn tại từ thời Lê sơ trở về sau.
*
**
Trở lại ba chữ Tuần kiểm ty được khắc ghi trên ấn, đây là tên cơ quan nằm trong hệ thống hành chính địa phương. Ở Trung Quốc đã có từ thời Ngũ đại, triều đình lập Tuần kiểm ở Kinh sư và các trọng trấn biên thùy. Kinh sư đặt chức Đô Tuần kiểm hay Đô Tuần kiểm sứ, bên ngoài gọi là Tuần kiểm hoặc Tuần kiểm sứ. Chữ sứ dùng khi chức này do quan Khâm sai, Khâm phái kiêm quản, chức này thường đặt kiêm nhiệm chưa chính chức. Đến thời Bắc Tống, Tuần kiểm mới được coi là quan chính ngạch đặt ở các lộ, châu, huyện lớn có điểm trọng yếu giữ việc tuần sát an ninh tiễu trừ giặc giã. Cơ quan gọi là Tuần kiểm ty, quân có vài trăm người, vài huyện hoặc cấp châu xung yếu mới được đặt chức Tuần kiểm, hay Tuần Kiểm sứ. Cấp lộ đặt Đô Tuần kiểm hoặc Đô Tuần kiểm sứ, có các thuộc tướng và quân đông hơn cấp châu, huyện. Ở Lộ hoặc Châu lớn đôi khi Tuần kiểm do chức quan hành chính kiêm quản. Vùng duyên hải và các cửa sông lớn trọng yếu cũng được đặt Tuần kiểm.
Nước ta thời Lý - Trần hệ thống hành chính địa phương thiết lập theo mô hình Bắc Tống. Ty Tuần kiểm cũng được đặt ở một số cửa ải, cửa sông quan trọng xung yếu. Tam Giang Khẩu là nơi hợp lưu của ba con sông lớn của nước ta là sông Hồng sông Lô và sông Đà. Đây là cửa sông rộng lớn quan yếu nhất bấy giờ có vị thế chiến lược phòng thủ và giao thông, buôn bán của cửa ngõ kinh thành Thăng Long. Tam Giang Khẩu ở đây thuộc cấp Lộ thiết lập Ty Tuần kiểm do chức Đô Tuần kiểm quản lĩnh. Chức này có thể do một viên tướng hoặc do chức quan hành chính cấp lộ Tam Giang kiêm quản. Tuần kiểm Ty có ấn tín và quyền hạn riêng biệt theo quy chế của triều đình. Chức Tuần kiểm chỉ tồn tại tới đầu thời Lê sơ, sau không thấy ghi; Có lẽ các triều vua sau theo phép đặt quan chức nhà Thanh bỏ không dùng. Ấn Tam Giang Khẩu Tuần kiểm ty ấn là ấn tín của chức Đô Tuần kiểm quản lĩnh Tam Giang Khẩu lộ Tam Giang. Với trọng lượng thể tích, kích thước các dòng chữ Chân và chữ Triện mặt đế đã khẳng định đây là ấn tín của chức quan không nhỏ thời Trần. Việc xác định địa danh Tam Giang và tên cơ quan Ty Tuần kiểm cùng chức quan tương ứng từ nội dung văn khắc trên ấn đã khẳng định rõ thêm niên đại thời Trần của quả ấn.
Về niên hiệu Đại Khánh (1314 - 1329) được khắc trên ấn với nét khắc rất mờ. So sánh đối chiếu với tên niện hiệu của một số triều vua thời Trần trước và sau đó sẽ giúp cho việc xác định niên đại này được rõ hơn. Trước Đại Khánh là các niên hiệu Kiến Trung (建中) Nguyên Phong (元丰), Thiệu Long (紹隆), Bảo Phù (寶符), Thiệu Bảo (紹寶), Hưng Long (興隆). Sau Đại Khánh là các niên hiệu Khai Thái (開泰), Khai Hựu (開祐), Thiệu Phong (紹豐), Đại Trị (大治), Đại Định (大定), Thiệu Khánh (紹慶), Long Khánh (隆慶), Xương Phù (昌符), Quang Thái (光泰), Kiến Tân (建新). Rồi tính đến cả nhà Hồ với các niên hiệu Thánh Nguyên (聖元), Thiệu Thành (紹成), Khai Đại (開大). Nhà Hậu Trần là Hưng Khánh (興慶), Trùng Quang (重光). Chúng tôi thấy tự dạng của các niên hiệu trên không phù hợp với nét chữ trên ấn.
Đối chiếu lịch sử về việc đúc đồng thời Trần qua cổ tiền và một vài loại hình chất liệu đồng khác. Chúng tôi thấy trước niên hiệu Đại Khánh là ba triều vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông, hơn nửa thế kỉ nhà Trần chuẩn bị và thực hiện ba cuộc đại chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông. Kinh thành Thăng Long và nhiều nơi đã bị quân Nguyên cướp phá, lại còn nạn giặc giã, khởi nghĩa nông dân liên miên. Kim loại nguyên liệu đồng chủ yếu dành phục vụ cho quân sự đúc vũ khí, ngay cả việc đúc tiền cũng không thực hiện chưa kể đến việc đúc các loại khác.
Đến triều Trần Minh Tông, niên hiệu Đại Khánh những năm đầu, nguyên liệu đồng đã cạn kiệt, phải đến năm thứ 10 (1323) mới cho đúc tiền kẽm. Toàn thư ghi triều Trần Minh Tông “Năm Đại Khánh thứ 10… mùa đông tháng 11 đúc tiền kẽm”(5). Mấy năm sau kinh tế phục hồi, triều đình mới bỏ đúc tiền chì cho đúc tiền đồng Khai Thái Nguyên Bảo, từ đấy về sau việc đúc tiền đồng và đồ đồng đã trở lại hoàn bị và phong phú hơn trước.
Về chất liệu của ấn Tam Giang khẩu tuần kiểm ty ấn với màu xám xỉn đen khác với chất đồng của nhiều ấn khác. Quả ấn này được đúc trong thời gian nguyên liệu đồng khan hiếm nên khả năng được pha thêm chì hoặc kim loại khác, cộng với thời gian bị vùi lấp do đó ấn có màu khác hẳn. Ý nghĩa này thêm cứ liệu cho việc xác định niên đại của ấn vào năm Đại Khánh (1314 - 1323) là có cơ sở.
Quả ấn đồng Tam Giang khẩu tuần kiểm ty ấn hiện nay được coi là ấn hành chính cổ nhất ở nước ta bên cạnh Môn hạ sảnh ấn đời Trần Duệ Tông có niên đại năm 1377. Qua công tác khảo sát, nghiên cứu giám định ấn tín có niên đại sớm ở các cơ quan văn hóa và một số nhà sưu tầm cổ vật từ Bắc vào Nam, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy thêm một ấn hành chính nào mang niên đại thời Trần. Đồng thời cho đến nay cũng chưa có một công bố nào về hiện vật ấn hành chính ở nước ta có niên đại tương đương hai quả ấn thời Trần mà chúng tôi đã giới thiệu.
Khi công trình Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX xuất bản, chúng tôi đã rất mong muốn có những bài viết và công trình kế tiếp. Hy vọng chúng ta sẽ tiếp tục tìm ra những ấn tín giá trị có niên đại từ thời Lý - Trần đến giai đoạn Lê - Trịnh và thời Nguyễn, góp phần bổ sung hoàn thiện cho ấn chương Việt Nam nói riêng và kho tàng di sản văn hóa dân tộc nói chung.
Ảnh ấn:
(Tạp chí Hán Nôm; Số 4(113) 2012; Tr.12-18)