Về hai bài phú của Nguyễn Bá Lân (Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (80) 2007; Tr.3-11)
VỀ HAI BÀI PHÚ CỦA NGUYỄN BÁ LÂN
LẠI VĂN HÙNG
PGS.TS. Viện Văn học
1. Nguyễn Bá Lân sinh năm Tân Tị (1701), niên hiệu Chính Hòa thứ 22 triều vua Lê Hy Tông. Quê gốc ở làng Hoài Bão, huyện Tiên Du (Bắc Ninh), có ông tổ 3 đời “giỏi địa lý, thích phong thủy làng Cổ Đô”(1) (huyện Tiên Phong, Sơn Tây - nay là huyện Ba Vì, Hà Tây) “mới dời đến ở đó”(2). Cha Nguyễn Bá Lân là Nguyễn Công Hoàn, cũng là một nhân vật nổi tiếng văn chương. Truyền rằng hai cha con ông thường đua tài nhau về thơ phú(3). Thuở nhỏ học ở nhà, đến năm Tân Hợi (1731) đỗ Tiến sĩ, cùng khoa với Nguyễn Nghiễm(4). “Bước đầu làm một chức ở phiên, ông nổi tiếng trong sạch, cẩn thận”(5). Tháng 9-1737, được cử tham gia dẹp trộm cướp ở Sơn Tây, Thái Nguyên. Đầu đời Cảnh Hưng (khoảng 1740) làm Tả Chấp pháp, luôn giữ sự công bằng, không hề a dua bè phái. Đầu năm 1740 lại được cử đi dẹp giặc cướp ở Sơn Tây, tháng 5 năm đó phá được giặc núi ở đồn Hoàng Cương, chức quan: Thị giảng(6). Năm Giáp Tý (1744), làm Lưu thủ Hưng Hóa (có nơi chép làm Trấn thủ), rồi chuyển làm Đốc trấn Cao Bằng, có công “vỗ về người Man, dẹp yên trộm cướp”(7). Năm Mậu Thìn (1748), cùng đem quân tiếp ứng chống “giặc” ở Kinh Bắc. Năm Bính Tý (1756), tháng 4: “cho Nguyễn Bá Lân làm Thiêm đô Ngự sử, Nhập thị Bồi tụng. Lân có văn học, thật thà, thẳng thắn, dám nói. Chúa thường hay hỏi về kế sách trị trộm cướp. Lân nói vừa ý, được chúa khen, trao cho làm chức ấy ngay trước mặt”(8); tháng 5 được ban kiêm Tế tửu Quốc tử giám lo việc giảng học để “cổ vũ, bồi dưỡng nhân tài”(9). Năm Nhâm Ngọ (1762) làm Học sĩ ở Bí thư các để tuyển duyệt sách vở. Năm Đinh Hợi (1767) trời hạn nặng, Nguyễn Bá Lân lúc này đã được phong tước Lễ Trạch hầu, dâng lời tấu: “Chính sự của vua chúa cảm thông đến trời… Nay chúa mới coi chính sự (chỉ việc Trịnh Sâm mới lên ngôi vào tháng 5 - LVH), nên chuộng khoan hậu, xin lại dùng Lê Quý Đôn, Phan Cẩn để cất nhắc người bị khuất trệ đã lâu. Khoan thu tiền chuộc tội, tiền phạt phải tội lây, chẩn cứu dân lưu tán, ban ơn cho gia thần, bổ dùng những người mới đỗ Thư toán, để thu phục nhân tâm và tạ lỗi với trời”(10). Sở dĩ có việc tấu sớ đó vì vào năm Ất Dậu (1765), Phan Cẩn do “tính sơ khoáng, các quan chấp chính ghét rồi bị họ ngấm ngầm bới lông tìm vết, phải giáng xuống làm chức nhàn tản”(11), tức là Phan Cẩn bị giáng từ Hàn lâm Hiệu thảo làm Cấp sự trung Công khoa. Cùng năm Phan Cẩn bị giáng, Lê Quý Đôn xin từ chức về nhà, “chúa thương cha Đôn là Trọng Thứ tuổi già, cho Đôn nghỉ việc nhưng ở lại kinh đô”(12). Bản tấu trình của Nguyễn Bá Lân “chúa đều nhận lời, lại dùng Đôn làm Thị thư, Cẩn làm Cấp sự, còn các khoản khác giao cho chính phủ bàn thi hành”(13).
Ít lâu sau, ông lại dâng lời tâu về việc quân ở Hưng Hóa, chúa khen giỏi, cho cai quản cơ Tả nhuệ và được nhận chức Tuyên phủ sứ Hưng Hóa. Nhưng rồi người em trai ông là Nguyễn Kim Luyện bị chết khi trong quân, lại tuổi già sức yếu, đến năm Canh Dần (1770), lúc đã 70 ông từ chức ở hai Bộ Lại và Binh xin về, “Chúa bảo rằng: ngươi dẫu già, sức còn làm việc được. Và tìm người nhậm được chức ấy rất khó, ta đang chọn người có thể thay ngươi. Ngươi tại chức cũng có người nói nhảm, nhưng ta không nghe đâu. Nay ngươi dẫu từ nhiệm, nhưng nên lưu lại ở kinh để cho ta hỏi các công việc”(14). Đến cuối năm 1770, ông lại vào làm Thượng thư Bộ Công. Ba năm sau, năm 1773, ông lại khởi phục giữ Thượng thư Bộ Lễ, rồi lại đổi Thượng thư Bộ Hộ, hàm Thiếu bảo. Đến năm 1777 được dùng làm Phụng thị ngũ lão cùng 4 người nữa. Ông mất năm Ất Tỵ (1785), thọ 85 tuổi.
Nguyễn Bá Lân đỗ đạt và trải quan trường gần trọn hai đời chúa giỏi của họ Trịnh là Trịnh Doanh và Trịnh Sâm. Ông lại mất trước khi xảy ra sự kiện Bính Ngọ (1786) khi Tây Sơn ra Bắc “phò Lê diệt Trịnh”. Hành trạng của ông, có thể nói là một hành trạng đẹp của kẻ sĩ Nho học: đỗ đạt cao, hoạn lộ hanh thông không tỳ vết, có công dẹp loạn, ưu lo cho dân, cứu giúp đồng liêu, v.v… Trên hoạn lộ, ông có dịp kinh lịch nhiều, nhất là các vùng Sơn Tây, Hưng Hóa; quan tước cao, trải cả 5 Bộ, ông cũng có dịp gần cận nơi cung vua, phủ chúa… điều đó ít nhiều cũng âm ba vào các sáng tác văn học của ông.
2. Sự nghiệp văn chương Nguyễn Bá Lân hiện còn không nhiều. Ông có một số bài thơ vịnh sử chép trong các sách Vịnh sử thi quyển (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.849), Mao thi ngâm vịnh thực lục (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.314), Quốc âm thi (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.179); một số tấu, sớ, khải về việc quân, về việc thân oan cho các bạn đồng liêu, về việc xin từ chức… Nhưng Nguyễn Bá Lân nổi tiếng hơn cả là về phú, trong đó đáng chú ý nhất là hai bài: bài phú Nôm Ngã ba Hạc phú và bài phú chữ Hán Dịch đình dương xa phú.
2.1. Ngã ba Hạc phú là bài phú chữ Nôm độc vận, gồm 25 liên (51 câu). Như tên gọi, đây là bài phú tả cảnh sắc nơi ngã ba Hạc, tức là nơi gặp nhau của 3 dòng sông: sông Hồng, sông Lô và sông Đà, nay ở gần thành phố Việt Trì (Phú Thọ), xưa thuộc vùng Sơn Tây - Hưng Hóa. Theo Ức Trai dư địa chí: “Huyện Bạch Hạc là đất Phong Châu thời cổ, nhân có con hạc trắng làm tổ trên cây, nên gọi là Bạch Hạc”. Nguyễn Bá Lân quê ở Cổ Đô, Ba Vì, Sơn Tây, nơi cách Bạch Hạc không xa; ông lại có thời gian trị nhậm, dẹp loạn ở vùng này, nên rất có thể truyền thuyết đẹp về một vùng sông nước cộng với hiểu biết thực tế đã gây men cảm hứng sáng tác cho tác giả.
Mở đầu bài phú miêu tả cảnh tượng chung:
“Xinh thay ngã ba Hạc,
Lạ thay ngã ba Hạc!
Dưới họp một dòng,
Trên chia ba ngạc.
Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào;
Lênh lang dễ biết nông sâu, nước đen pha nước bạc.”
Rõ ràng là một cảnh tượng sông nước hợp nguồn hùng vĩ vừa đẹp vừa lạ, cái mức sâu, rộng, lớn của cảnh là “khôn đo”, không “dễ biết”, nhưng mà “xinh”. Cái chữ xinh này khiến cảnh gần cận, thu hẹp tầm cảnh để nhận biết chứ không gây cảm giác choáng ngợp. Nó xinh xinh như có thể nắm lấy được, có thể ngắm nghía được.
Tiếp đến, là nói nguồn gốc cảnh:
“Nẻo xưa:
Vũ trụ mơ màng,
Càn khôn xếch xác.
Chân tình chứa đầy hải hà,
Tú khí còn ngưng quang nhạc.
Vua Bàn Cổ mở lò tạo hóa, hồng mông đà phơi phới hơi xuân;
Họ Hữu Ngu khơi mạch sơn xuyên, cương giới vẫn rành rành dấu tạc.”
Là một cảnh tinh khôi của tạo hóa, có gì đó nguyên sơ; lại như có từ lâu lắm rồi mà vẫn luôn tươi, luôn trẻ. Hẳn nhiên là tú khí của trời đất, là chân tình của sông biển chung đúc nên. Tả cảnh sông mà dùng mấy chữ “mở lò”, “khơi mạch” thì ông Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân đã dụng công đúc chữ.
Rồi bài phú giới thiệu và tả trực tiếp vào cảnh:
“Vậy có:
Dải đất Đoài phương,
Cõi trời Nam quốc.
Trên xô nguồn, nguồn chảy vẩn vơ;
Dưới ngấn nước, nước xuôi tuồn tuột.”
…
“Dưới thì:
Tiêu sái mọi bề,
Thanh tao nhiều cuộc.
Rủ dây dù ông Lã mắc cần,
Trần trụi mặc Chử Đồng ngâm nước.
…
Trên thì:
Mỗi vẻ một màu,
Mỗi chiều mỗi khác.
Sương gieo ngọn cỏ ngọc dầy dầy,
Đá giãi hơi sương vàng xua xủa. ”
…
Mấy câu đầu thể hiện tình cảm tự hào về cảnh: như một báu vật của xứ Đoài, trời Nam, chứ không phải cảnh vật đã thành điển chương ở xứ người, ý này còn thấy ở đoạn sau của bài phú khi tác giả so sánh:
“Nào hiếm chi:
Cảnh chốn Tiêu Tương,
Đồ tranh thủy mạc.
Nguồn Đào kia cũng nguồn Đào,
Nước Nhược nọ cùng nước Nhược.”
Cảnh vật ấy “càng quý nữa”, ở chỗ nó là nơi để cho con người thỏa chí vẫy vùng:
“Càng quý nữa:
Cảnh sắc nhẫn nay,
Phong quang gồm trước.
Địa đồ tự mở chốn doanh cung,
Thiên hiểm dễ khoe bề anh thạc.
Trôi trối dài hơi cốc lặn, mênh mang vây nước ao thành;
Vênh vênh thẳng cánh cò bay, sẵn nước doành Ngân bến Bắc.”
Nói cốc, nói cò, thì cũng là để nói con người. Cảnh ấy đủ dài, đủ rộng để trên thì tha hồ bay, dưới thì tha hồ lặn. Một cách nói hình ảnh về chí nam nhi chăng? Rất có thể chỗ này tác giả ngầm bày tỏ sự mãn nguyện của chính cuộc đời tung hoành ngang dọc, công thành danh toại và khá đắc chí của mình: “Thiên hiểm” càng “dễ khoe bề anh thạc”, khi mà: “Địa đồ” đã “tự mở chốn doanh cung”.
Thỏa chí, thành đạt nên không có gì khó hiểu khi Nguyễn Bá Lân kết thúc bài phú bằng việc ca tụng cảnh tượng thái bình:
“Nay mừng:
Vận mở tam dương,
Tộ yên chín vạc.
Trên lọ phải vén quần vua Tống, gia sức anh quyền;
Dưới cũng vui vỗ bụng trời Nghiêu, xướng ca anh tạc.”
Trên đã nói, Nguyễn Bá Lân gặp được hai vị chúa giỏi là Trịnh Doanh và Trịnh Sâm; được chúa tin dùng và nghe lời. Kẻ sĩ thế là ổn. Và ông tụng ca là phải, trong thời điểm đó. Còn về sau Trịnh Sâm có quá dục, có ham sắc thì chính Nguyễn Bá Lân đã kín đáo làm Dịch đình dương xa phú ngầm răn rồi. Ở đây, lại thấy tác giả quả là người dám nói: thấy cái gì đáng khen thì khen, thấy cái gì đáng chê cũng không kiêng nể. Tụng ca hoặc biếm trích thời sự bằng văn chương, thơ phú là quyền của kẻ sĩ xưa, ấy nên người ta thường nói văn chương cổ gắn liền với chính sự. Đấy cũng là lẽ đương nhiên.
Tư tưởng chính của Ngã ba Hạc phú là ca ngợi cảnh tượng thiên nhiên tươi đẹp, thời buổi thịnh trị. Điều ấy không phải bàn cãi gì. Nhưng càng đọc càng thấy bài phú mang tính đa nghĩa. Đã hơn một lần nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân cho rằng bài phú này có bút pháp “hóm hỉnh”, ngôn từ “nghịch ngợm”(15); còn Lã Nhâm Thìn thì cho rằng bài phú có “cách viết tả thực và trào lộng”(16). Quả thực, ngôn ngữ tác phẩm là điều rất đáng lưu tâm. Cùng với một vài tác giả khác như Nguyễn Hành, Nguyễn Giản Thanh trước đó, rồi Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ sau này, Nguyễn Bá Lân đã có công đưa biền văn Nôm trong thể phú đến một trình độ trác việt. Tác giả đã sử dụng văn Nôm trong thế đối xứng, cân chỉnh mà vẫn đảm bảo tính hàm súc và uyển chuyển. Ngôn ngữ Nôm đã đạt đến độ trong sáng, dễ hiểu, giàu hình ảnh, nhạc điệu, màu sắc.
Điểm đáng lưu ý là, nối được truyền thống dùng từ láy, từ điệp của thơ ca Nôm trước, Nguyễn Bá Lân đã sử dụng chúng một cách rất linh hoạt.
Khi cần ví von, so sánh tác giả dùng điệp từ:
“Nguồn Đào kia cũng nguồn Đào,
Nước Nhược nọ cùng nước Nhược.”
Khi cần tả cảnh nước chảy tác giả dùng cả điệp từ lẫn từ láy:
“Trên xô nguồn, nguồn chảy vẩn vơ,
Dưới ngấn nước, nước xuôi tuồn tuột.”
Đặc biệt các từ láy đều mang sắc thái vừa trữ tình vừa rất “hóm”. Và một hình ảnh đẹp đậm đà ý nhị, vừa phong tình, vừa gợi cảm:
“Ngày tháng thoi đưa thấm thoát, khách câu trăng ngồi đợi nhiều phen,
Xưa nay chiều dẫy lăm tăm, cảnh chỉ gió luồn lồng mấy cách.
Bên cạnh từ điệp, từ láy vừa “tinh”, vừa “hóm” như trên, cũng cần chú ý tới các động từ và động trạng từ trong tác phẩm, chúng hiện diện ở hầu hết các câu trong bài phú. Những họp, chia, khôn đo, dễ biết, lẫn, pha, chứa, ngưng, mở, khơi, xô, chảy, v.v… rồi những điểm, đâm, mở, khoe, lăn, bay, thoi đưa, chiều dẫy, câu trăng, chỉ gió, v.v… rồi bản thân tác giả thấy “ngã ba Hạc xinh thay” cũng làm (chơi một đạc) và xin thiên hạ chớ “bới lông tìm vết”. Và đấy là trần gian khoái lạc.
Hệ từ vựng như thế dễ khiến người ta liên tưởng đến thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến sau này, và rất có thể tác giả đã ẩn chứa trong đó một ánh phản “phồn thực”. Cảnh như có hơi hướng của người, của sinh hoạt người. Không có gì lạ là văn chương dùng cảnh để nói chuyện người, hay tả người qua cảnh. Cũng không có gì lạ là cảnh tượng thái bình thường đi kèm với vận hội sinh sôi, nảy nở. Cõi thế tục phồn sinh, cái là mẹ của thiên hạ phảng phất mà vẫn vô cùng trang nhã, lại hồn toàn, tươi xuân, đầy sức sống đem đến sự hấp dẫn và lôi cuốn.
Hư từ trong tác phẩm cũng được sử dụng rất đắt. Chữ Hán thường kiêng hư từ, coi đây là từ “nước” chứ không phải từ “đặc”. Nhưng nếu không có các hư từ như “kia, nọ, cũng, cùng” trong hai câu:
“Nguồn Đào kia, cũng nguồn Đào,
Nước Nhược nọ, cùng nước Nhược.”
Hay các hư từ “lọ, cũng” trong vế: “Trên lọ phải vén quần…; Dưới cũng vui vỗ bụng…” thì chắc hẳn mấy câu ấy mất ý vị nhiều. Cho nên, có lẽ khác với văn Hán, văn Nôm thích dụng với hư từ. Nhiều khi hư từ là thước đo độ thấm, độ nhuần nhuyễn ngôn từ. Ai cũng biết học một ngôn ngữ thì việc khó hơn cả lại là ở việc sử dụng sao cho thạo hư từ.
Nối các đoạn liên trong bài phú, Nguyễn Bá Lân còn dùng các liên từ như: nẻo xưa, vậy có, dưới thì, trên thì, càng quý nữa, nào hiếm chi, nay mừng và rày nhân. Các liên từ này đều có vị trí ngữ nghĩa trong tác phẩm và nó giúp kết nối bố cục tác phẩm cho được chặt chẽ; vế này, đoạn này hô ứng các vế, đoạn tiếp sau.
Một ưu điểm nữa cũng nên nhắc lại là việc dùng điển cố. Bài phú Nôm không nhiều điển, tác giả đã dùng cả điển Việt và điển đã được Việt hóa bên cạnh điển cố Hán học, tỷ lệ là 6/8. Việc dùng điển như thế, kết hợp với tài năng sử dụng ngôn ngữ Việt, tất cả rõ ràng: “Là những bằng chứng về sự thoát ly ngày càng nhiều ảnh hưởng của Hán học, đồng thời cũng lại là bằng chứng về khả năng to lớn của ngôn ngữ văn học dân tộc trong cấu trúc văn biền ngẫu”(17).
2.2. Tuy thế, không phải Nguyễn Bá Lân chỉ có sáng tác phú Nôm, ông còn là tác giả của bài phú chữ Hán Dịch đình dương xa phú. Bài phú gồm 31 liên (63 câu). Tên bài phú có nghĩa là: “Bài phú vua cưỡi xe dê đến các phòng cung nữ”. Tấn thư giải thích điển “vua cưỡi xe dê” như sau: Các phòng nơi hậu cung của Vũ Đế, số người được sủng ái rất đông, vua chẳng biết đến phòng nào, bèn cưỡi xe dê, mặc nó chở đi. Bọn cung nữ mới lấy lá trúc cắm trước cửa, lấy nước muối vẩy ướt đất để dẫn dụ xe vua, ấy vì lá trúc và nước muối là thứ mà con dê đều thích. Chắc hẳn bài phú được sáng tác dựa vào điển cố đó, để nói việc hành lạc của Vũ Đế trong cung cấm, đồng thời có ý răn đe việc hành lạc quá mức của ông ta, lấy đó làm phúng thích các vua chúa về sau.
Mở đầu bài phú là cảnh tượng thăng bình:
“Ngụy hồ tích liễm,
Tấn mã phù trưng.
Đặc địa chi hổ văn nhật bính;
Ngự thiên chi long vị thời thừa.”
(Ngụy hồ lẩn dấu,
Tấn mã điềm trưng.
Dậy đất hổ văn thêm chói lọi,
Thay trời long vị thật tưng bừng)(18).
Lúc bốn bể đã yên lặng:
“Kình thiếp Ngô giang,
Ngưu quy Chu dã.
Ngoại hoạn thanh trục lộc chi trần…”
(Kình lặng Ngô giang,
Trâu về Chu dã.
Ngoài lo quét sạch bụi săn hiêu…)
Cho nên nhà vua:
- “Dịch dình dương xa, cực nhân gian chi yến lạc,
(Cung cấm xe dê hưởng thú nhân gian khoái lạc).
- “Nội bế trọng trầm ngư chi giá,
Châu cung phấn đại, tuyển trung chi như ý ngũ thiên,
Kim ốc yêu kiều, trữ lý chi khả nhân vạn cá.”
(Trong được đắm say duyên lặn cá,
Phấn son cung ngọc, kén hầu non vừa đủ năm ngàn,
Kiều diễm nhà vàng, chất chứa sẵn tình yêu muôn ả).
Và cảnh ái ân, khoái lạc được miêu tả:
- “Chung tình nhất vật,
Thích chí lưỡng luân”
(Chung tình một món,
Thích chí bội phần).
- “Tiêu đồ lân thứ loan phòng, bán yểm chi sa song ẩn ước,
Đàn chế nhạn hàng đế bí, tư hành chi triệt tích tân phân.”
(Vách tiêu vây dát, khép mở phòng loan, bóngsong the thấp thoáng,
Bầy nhạn thành hàng, dọc ngang liễn giá, vết xe cộ rối lần).
Ông vua dường như chỉ đắm chìm trong cảnh ấy:
“Tự thích khả Nam, khả Bắc, yến nhàn tư vô hạn chi xuân”.
(Tùy ý sang Nam, sang Bắc, nhàn vui chỉ những mừng xuân).
Rồi ông ta:
“Phu bát hữu tự phụng chi phồn hoa,
Khoáng thiên cổ vô truyền chi cấm dịch.”
(Riêng một mình hưởng thú phồn hoa,
Trải muôn thuở không cần thay đổi).
Nếu chia bài phú làm 2 phần thì 28 câu (14 liên) trước, tác giả phô bày những cảnh ông vua chơi bời hành lạc cùng các cung tần mỹ nữ. Nhưng ở 35 câu (17 liên) sau lời phú lại mang tính nghị luận sắc bén, phê phán và cảnh giới khá trực diện.
Đây là cái hại của mỹ nhân và nữ sắc:
“Tằng bất tư:
Nữ nhung bại quốc,
Sắc trận thương sinh.”
(Từng chẳng nghĩ:
Gái kia nghiêng nước,
Sắc nọ hại mình).
Đã có khá nhiều vị vua mất nước vì người đẹp. Và cũng vì ham sắc mà nhiều kẻ tổn thọ. Cho nên nhà Phật giới sắc, còn nhà Nho thì khuyên “quả dục”. Trong chữ “sắc”, nếu chiết tự, có chữ “đao”, sắc chính là lưỡi dao có thể cắt mòn sinh lực.
Để cho nghị luận thêm sắc bén, tác giả đưa ra những ví dụ như là bằng chứng sinh động cho lời khuyên của mình:
“Dữ kỳ hàm Hán phi tần, hổ bôn tác hắc xà chi quỷ,
Thục nhược quyên Tần cung nữ, miêu truyền diên xích đế chi tinh.
Quan thành bại dĩ chiêu ư tiền triệt,
Tức yến du nghi tiết ư hậu đình.”
(Nếu cứ say đắm Hán phi, quân lính biến hắc xà quỷ quái,
Sao bằng nhãng quên Tần nữ, giống nòi thêm xích đế tinh anh.
Coi thành bại rõ ràng trên vết cũ,
Bớt yến du dìu dặt ở sân đình).
Phân tích rõ lợi - hại, được - mất, và cũng phải biết rút ra bài học từ quá khứ:
“Đãn tham vưu vật dĩ vi ngu,
Tuy đạo phúc xa nhi bất cố.
Tọa kiến:
Sắc giai tửu phạt,
Chí dĩ tình hoang”.
(Chỉ ham của quý làm vui,
Qua vết xe nghiêng chẳng ngó.
Ngồi trông:
Tửu sắc đều hại,
Tâm chí hoang toàng).
Và cuối cùng tác giả quả quyết:
“Phất thu tự kỷ chi phóng tâm,
Vô nại cập thân chi tư ngữ.”
(Nếu chẳng thu những nỗi phóng tâm,
Ắt di hại đến điều danh dự).
Bài phú có cái hay ở chỗ tác giả nói rất nhiều đến các loài vật. Trong số 36 lần tên các con vật được nhắc tới (trung bình 1 liên có 1 con) có 26 loài gồm: hồ, mã, hổ, long, dương, yến, phượng, kình, ngưu, lộc, ngư, lân, loan, hạc, quỷ, nhạn, kê, xà, quy, miêu, tinh, cưu, nghê, trĩ, khuyển, đà. Đấy là chủ ý của Nguyễn Bá Lân, và tác giả đã thầm ngụ một điều gì trong đó. Nếu phân loại các con vật, mới thấy chúng đều mang tính biểu tượng.
Có loại biểu tượng cho sức mạnh như hổ, long, kình, ngưu; cho sự thấp kém: khuyển; cho sự ác độc nguy hiểm: xà, hồ, quỷ, tinh; cho sự ân ái nam nữ: yến, nhạn, loan, phượng, ngư, kê; và nhất là có loại biểu tượng cho sinh hoạt tình dục như là hạc, quy, dương. Con dương (dê) thì đã rõ, người ta hay nói dâm dê, thằng dê cụ, lão dê già, và không phải vô cớ mà hình ảnh ông vua thường ngự xe dê đến các tẩm cung đã gợi hứng “đề bài” cho tác giả. Tuy thế, sinh động hơn cả là hình ảnh hạc và quy:
“Hạc minh sơ nhi liệu quang hàn,
Quy dâm sính nhi vu mộng trách.”
(Hạc kêu thưa, lửa sáng lạnh dần,
Quy vui sướng, hồn mê sôi nổi).
Thì đấy rõ là cách “nói lóng” để chỉ cuộc ái ân. Các cụ nho xưa tuy bề ngoài mực thước, điềm đạm nhưng khối cụ phong tình. Các cụ không nói trực diện mà hay mượn chuyện, hay thác lời, hay dùng hình ảnh để nói “chuyện ấy”, như ở Việt Nam kỳ phùng sự lục cũng có đoạn:
“Khiêu binh vị phá Tần quan tráng,
Mộng cảnh cương hiềm Sở giáp thâm”
(Cửa Tần vẫn vững quân chưa bại,
Non Giáp dày mây mộng luống chìm).
(Băng Thanh dịch)
Ở đây, cửa Hàm Cốc nơi quan ải (cửa Tần) chỉ là cái cớ, còn nghĩa ngầm chỉ chuyện khác. Thực chất là anh chàng muốn tán mà “người ta” chưa chịu ngay. Còn ở phú của Nguyễn Bá Lân thì hạc và quy là để chỉ sự kết hợp âm dương. Do thế, ta hiểu cách dùng biểu tượng để nói lóng cũng là một phương thức thể hiện của người xưa. Ngược lên bài phú Nôm (cách dùng hình ảnh, ngôn ngữ), càng thấy tác giả quả có sở trường về thủ pháp này.
Tác giả kết bài phú cũng bằng một biểu tượng con vật:
“Thuyết đáo: Đồng đà kinh cức”
(Nói đến: đồng đà gai góc).
Nhưng ở đây không phải là con vật bình thường để chỉ những chuyện giăng gió nữa rồi. Đây là con linh vật để chỉ sự hưng vong của cả một vương triều, nó gắn với vận mệnh của cả một đất nước, một dân tộc. Cho nên đến mấy câu kết, giọng điệu bài phú sắc lạnh, nghiêm trang hẳn lại. Tác giả như muốn nói: Tôi không phê anh cái chuyện anh phải làm “nhiệm vụ” giữa đám cung tần mỹ nữ, tôi cũng đã răn anh về tác hại của việc quá mê đắm tửu sắc, giai nhân; nhưng nếu cứ như thế mãi thì đến lúc biểu tượng thiêng của cả một quốc gia sẽ bị vứt lăn lóc giữa đám cỏ cây, gai góc mà thôi. Và bài phú kết luận chắc nịch: “Vị thường bất truy tiếu Vũ hoàng chi thất ngự” (Thì ai chẳng ngán cho Vũ hoàng, đã làm hỏng cả quyền hành thống ngự).
Dịch đình dương xa phú làm theo thể phú tỷ, dùng vật để nói người, dùng người xưa để nói người sau. Giọng điệu của tác phẩm là biếm trích, phê phán thực trạng và thể hiện thái độ ta thán, ngán ngẩm của chủ thể sáng tạo. Tác giả như nói được tâm trạng chung của kẻ sĩ ưu thời hồi cuối triều Lê - Trịnh.
Dương Quảng Hàm từ năm 1943 đã nhận xét về Nguyễn Bá Lân là: “Rất giỏi về nghề phú”(19). Quả có thế. Và khen như thế là hết lời. Bởi trong các thể tài văn chương cổ thì phú mới là chỗ để các đại nho khoe tài đích thực. Làm phú phải có từng trải, kinh lịch nhiều và phải có cả lượng tri thức nhiều. Cố nhiên, lịch sử phú của ta đến Nguyễn Bá Lân đã có độ tuổi đến cả ngàn năm, thể loại cũng đã có những đỉnh cao trong quá khứ, cả Hán lẫn Nôm. Đóng góp của Nguyễn Bá Lân là ở chỗ: đối với phú Nôm, ông có công đưa nghệ thuật biền ngẫu tiếng Việt đến trình độ điêu luyện, ông cũng sử dụng tối đa khả năng của ngôn ngữ Việt, tiếp thu người đi trước và mở ra một lối phú mang khuynh hướng riêng cho các tác giả về sau. Phú Nôm của ông là để ca tụng, vịnh phẩm xa lìa từ trường Hán hóa, đề cao tiếng mẹ đẻ; thì ở phú Hán ông lại đi vào kho từ vựng, điển cố Hán học một cách “hết bút”, vừa phô bày được tài năng theo một cách riêng lại gửi gắm được tâm sự, tư tưởng của mình một cách kín đáo. Đó là những tác phẩm phú đặc sắc mà Nguyễn Bá Lân đã để lại cho văn học sử nước nhà.
Chú thích:
(1),(2),(5),(7) Theo Lịch triều hiến chương loại chí (bản dịch của Nguyễn Mạnh Duân, Trương Văn Chinh), Nxb. KHXH, H. 1992, tr.302.
(3) Bùi Duy Tân chú: “Tương truyền Dịch đình dương xa phú là kết quả của một cuộc thi tài đọ sức văn chương giữa Nguyễn Bá Lân và cha là Nguyễn Công Hoàn khi hai cha con cùng qua đò. Nguyễn Bá Lân thắng cuộc vì làm xong trước. Vì thế khi bài phú được người đời tán thưởng và truyền tụng thì lại mang thêm cái tên: “Nhất độ giang thành chương phú”, nghĩa là: Bài phú được làm thành trên một chuyến đò qua sông” (Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb. Giáo dục, H. 2001, tr.533).
(4) Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, chép ông đỗ “Hội nguyên”; Đại Việt sử ký tục biên (Ngô Thế Long, Nguyễn Kim Hưng dịch), Nxb. KHXH, H. 1991 chép: “Bọn Nguyễn Bá Lân 8 người đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân” (tr.134).
(6) Việt sử thông giám cương mục (bản dịch), tập II, Nxb. Giáo dục, H. 1998, tr.519 chép giặc ở đây là quân Lê Duy Mật, chức quan của Nguyễn Bá Lân là “Bồi tụng”. Nhưng cũng sách này, tr.631 lại chép mãi đến tháng 5-1756 mới “Thăng chức cho Nguyễn Bá Lân làm Thiêm đô ngự sử, vào hầu phủ chúa, giữ chức Bồi tụng, kiêm giữ chức Tế tửu ở Quốc tử giám”.
(8),(9) Đại Việt sử ký tục biên, Sđd; tr.253-254.
(10),(13) Sách trên; tr.308.
(11) Sách trên; tr.285.
(12) Sách trên; tr.286.
(14) Sách trên; tr.338.
(15),(17) Xem Văn học Việt Nam (thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII), Sđd, tr.533-538.
(16) Xem Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam (dùng cho nhà trường), Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2004; tr.334.
(18) Các trích dẫn và dịch bài phú lấy từ Đăng khoa lục sưu giảng (Trung tâm học liệu Sài Gòn xb.,1968), chuyển dẫn theo Tổng tập văn học Việt Nam, Tập VII (Bùi Duy Tân chủ biên), Nxb. KHXH, H. 1997.
(19) Xem Việt Nam văn học sử yếu, Nha Học chính Đông Pháp xb., H. 1943, tr.305./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (80) 2007; Tr.3-11)