VI | EN
Về văn bản bia Bảo Ninh Sùng Phúc thời Lý ở Tuyên Quang (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (114) 2012; tr.61 - 67)
Về văn bản bia Bảo Ninh Sùng Phúc thời Lý ở Tuyên Quang (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (114) 2012; tr.61 - 67)

VỀ VĂN BẢN BIA BẢO NINH SÙNG PHÚC

THỜI LÝ Ở TUYÊN QUANG

PGS.TS. ĐINH KHẮC THUÂN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc khắc vào thời Lý, năm 1107 ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang là sử liệu quý, được nhiều người quan tâm, nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi. Tuy nhiên, về nội dung văn bản văn bia này còn đôi chỗ cần được đi sâu nghiên cứu, nhất là danh tính nhân vật đề cập đến trong văn bia này so với ghi chép trong chính sử có chút khác biệt. Bài viết này nhằm đi sâu vào vấn đề đó(1).

1. Việc phát hiện và nghiên cứu văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc

Một phần kho thác bản văn bia Viện Nghiên cứu Hán Nôm vốn do Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội tổ chức in rập thác bản và thu thập trước năm 1945, không có thác bản văn bia này. Chính vì vậy, trong nghiên cứu về văn bia thời Lý và Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn, giới thiệu lần đầu năm 1949 không có văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc. Xa hơn nữa là Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII khi sao chép kim thạch di văn thời Lý - Trần cũng không biết đến văn bia này. Có lẽ bia ở vùng rừng núi phía Bắc xa xôi, nơi có rất ít di sản Hán Nôm so với các vùng đất khác, nên không có tư liệu nào đề cập đến văn bia ở đây hoặc giả chùa cổ bị đổ nát, bia cổ vùi sâu trong lòng đất, ít người biết đến. Sau năm 1964, kho lưu trữ văn khắc ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm mới được bổ sung bản ảnh và bản chép tay văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc, kí hiệu N020946. Có lẽ đây là tư liệu do Trần Huy Bá thuộc Bộ Văn hóa khi đó sưu tập. Và cũng chính Trần Huy Bá là người đầu tiên giới thiệu văn bia này vào năm 1964. Sau đó được nhóm đề tài Thơ văn Lý - Trần thuộc Viện Văn học đến khảo sát vào năm 1972 và giới thiệu trong Thơ văn Lý - Trần tập I (Nxb. KHXH, H. 1977). Nguyên văn chữ Hán cũng được giới thiệu trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Tập 1 từ Bắc thuộc đến thời Lý, do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viễn đông Bác cổ Pháp, xuất bản năm 1998. Tuy nhiên, tác giả công trình này cho rằng bia bị mất, và chỉ dựa vào bản chép tay ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Năm 2009, nhóm sưu tầm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Trịnh Khắc Mạnh, Đinh Khắc Thuân, Trương Đức Quả, Hoàng Văn Nam, Vũ Xuân Hiển) đã đến khảo sát, in rập thác bản bổ sung vào kho bia Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Nội dung văn bia gần đây được giới thiệu lại trong Văn bia chùa Phật thời Lý (Đinh Khắc Thuân: Thích Đức Thiện tổ chức bản thảo, Nxb. KHXH, H. 2011); và trong Văn bia thời Lý do PGS.TS. Nguyễn Văn Thịnh chủ trì, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội giới thiệu năm 2010.

Hiện tại bia được dựng trên lưng rùa, đặt trong chùa Bảo Ninh Sùng Phúc thuộc thôn Vĩnh Khoái xã Uyên Nguyên huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang. Bia bị gẫy và vỡ một góc, mới được dựng lại cùng với việc xây dựng lại ngôi chùa Bảo Ninh Sùng Phúc. Vì thế trước kia từng có truyền ngôn rằng: "... xưa kia bia đặt ở địa phận xã Hoà Phú, về sau dân ở một vùng khác đã đến mang trộm đi. Nhưng khi mang đến địa điểm hiện nay, thì dừng lại để ăn khoai, ăn xong ra mang đi tiếp thì bia đã cắm sâu xuống đất, không tài nào lay chuyển được nữa. Bãi đất này từ đó có tên là bãi Khuân Khoai(2)". Thực tế đây chỉ là lời truyền trong dân gian, khi mà ngôi chùa này bị tàn phá từ lâu không còn dấu tích gì, bia thì đổ vỡ.

2. Đặc điểm trang trí và văn bản văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc

Bia cao 140cm rộng 79cm (không kể đế bia). Đế bia là hình rùa vững chắc. Bia bị nứt và vỡ một góc phía dưới, chữ còn khá rõ. Trang trí và bố cục bài văn bia vẫn giữ nguyên trạng thái ban đầu.

Đặc điểm trang trí và văn bản văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc hoàn toàn có nét chung của văn bia thời Lý, đồng thời có những đặc điểm riêng của một văn bia ở địa đầu tổ quốc thời văn minh Đại Việt.

Trán bia khắc hai hình rồng chầu ô chữ tên bia ở giữa. Tên chữ gồm 6 chữ, khắc nổi, được khắc theo hàng ngang, từ phải sang trái: Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi碑寺福崇寧保. Thông thường tên bia thời Lý thường được khắc thành hai dòng theo chiều dọc, nên tên bia thường choán hết ô chữ ở giữa trán bia, như bia An Hoạch sơn Báo Ân tự chùa Báo Ân (Thanh Hóa, năm 1100), hoặc bia Sùng Thiện Diên Linh chùa Đọi (Hà Nam, 1121), bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự chùa Diên Phúc (Hưng Yên, năm 1157). Tên chữ trên trán bia Bảo Ninh Sùng Phúc không giống như những bia thời Lý còn được bảo lưu nguyên vẹn như trên, nhưng lại giống trán bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự chùa Linh Xứng (Thanh Hóa, năm 1126) và bia Càn Ni Hương Nghiêm tự chùa Hương Nghiêm (Thanh Hóa, năm 1125), hoặc bia Báo Ân Thiền tự chùa Báo Ân (Phúc Yên, năm 1210)... được khắc lại vào thời Lê và thời Nguyễn.

Cũng cần giải thích thêm về ý nghĩa đầu đề văn bia "Bảo Ninh Sùng Phúc tự". Khi dịch tên bia này, phần lớn các bản dịch đều giữ nguyên phiên âm như bản gốc Văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc. Duy có bản dịch trong Văn bia thời Lý, xuất bản năm 2010 thì dịch là "Bia chùa Bảo Ninh núi Sùng Phúc”. Thực ra, Sùng Phúc mới là tên chùa, còn Bảo Ninh là địa danh nơi đây, như Báo Ân là chùa, An Hoạch là địa danh (núi An Hoạch), hoặc Hương Nghiêm là chùa và Càn Ni là địa danh. Địa danh Bảo Ninh được PGS.TS. Nguyễn Tá Nhí xác định là tên gọi một trong bảy trạm dịch do nhà Lý đặt năm Đinh Hợi (1047) ở vùng địa đầu phía Bắc. Mỗi trạm đều dựng ụ đá dùng làm chỗ nghỉ trọ cho người Man di(3). Cách thức ghi tên chùa gắn với địa danh nơi có chùa là đặc điểm riêng biệt thường gặp trên bia thời Lý.

Rồng trên trán bia Bảo Ninh Sùng Phúc có thân uốn lượn thắt túi mềm mại, tương tự các hình rồng thời Lý khác. Tuy nhiên, thân rồng ngắn, không có nhiều khúc uốn lượn như những rồng thời Lý. Có lẽ do rồng được trang trí trên góc trán bia chật hẹp, nên phải ép gọn lại.

Diềm thân bia được trang trí hoa cúc mãn khai đối sánh qua dây leo uốn lượn hình sin, khá tiêu biểu trên diềm bia thời Lý. Trang trí trên diềm chân bia là hoa văn sóng nước. Các ngọn sóng tiếp nối và xen kẽ nhau, tạo thành những lớp sóng nhấp nhô khá sinh động.

Như vậy là hoa văn trang trí trên diềm bên và diềm chân bia, cũng như trên trán bia Bảo Ninh Sùng Phúc vẫn được giữ nguyên trạng thái ban đầu. Chỉ có tên bia là được khắc lại về sau.

Thân bia khắc văn bản chữ Hán, gồm 28 dòng, mỗi dòng từ 32 đến 44 chữ, cả thảy khoảng 1.200 chữ.

Bố cục văn bia gồm: Về người dựng bia, bài kí, bài minh và cuối cùng là tác giả. Tương tự văn bia thời Lý khác, bia này không ghi niên đại khắc bia, nhưng có chung bố cục văn bia thời Lý như nêu trên.

Dòng đầu tiên và dòng cuối cùng được khắc chữ nhỏ hơn các dòng chữ trong nội dung văn bia. Dòng cuối thì ghi rõ là soạn, tức là họ tên chức tước người được ghi ở dòng cuối này là người soạn văn bia; còn dòng đầu tiên do bia vỡ nên mất một số chữ, nhưng hoàn toàn nhận rõ đây là họ tên, chức tước người chủ xướng dựng bia này, như thường gặp trong các bia thời Lý khác.

Đó là Hà công, giữ chức Tri Vị Long châu, phụ ký lang, Đô tri Tả vũ vệ Đại tướng quân, Kim tử Quang lộc đại phu, Kiểm hiệu Thái phó, đồng Trung thư môn hạ Bình chương sự, kiêm Quản nội khuyến nông sự, Thượng trụquốc, thực ấpba nghìn chín trăm hộ, thực phong chín trăm hộ.

Tiếp đó là bài ký với phần mở đầu ca tụng sự nhiệm màu của đạo Phật, đặc biệt nhấn mạnh đến tượng pháp và sự cần kíp dựng chùa:

"Ôi! Cái chân không trong lặng, giấu hình khi trời đất chưa chia; cái diệu hữu nẩy sinh, bao trùm trước hữu hình vận động. Sáng suốt gạt bỏ cái “không”, thì hình tướng không phải là không; u mê bám lấy cái “có”, thì mầu nhiệm chẳng phải là có. Xa nghĩ đức Phật tổ xưa, trí tuệ của người xem xét tất cả không sót một ai. Cho nên người: giấu kín cái “thực”, làm rõ cái “quyền”, để gọi bảo cái đạo “thường”, “vui” mãi mãi; từ cái “không” đi vào cái “có” để giúp cho sự hồi hướng giải thoát đời đời. Khéo mở ra muôn vạn pháp môn; để dạy bảo muôn nghìn thế giới. Lênh đênh dòng nước trời Tây; vời vợi suối nguồn Chu Mục. Bắt đầu xây dựng chùa; hết dạ tôn sùng tượng giáo. Người xưa khuyên bảo, đổi mới không ngừng; hậu thế lưu truyền, đời đời nối dõi. Kẻ có duyên thì cải ném đầu kim; người không hiểu thì nước trôi xô đá...".

Sau mở đầu là phần chính của văn bia, trình bày một cách tỉ mỉ công việc hay sự kiện diễn ra, ngợi ca vị thí chủ có công đức lớn lao trong việc hoằng dương Phật pháp, cũng như cứu giúp chúng sinh, phù trì cơ đồ quốc gia bền vững. Nội dung này là nguồn sử liệu quan trọng, bởi có thể nhận biết từ đó những thông tin cụ thể về gia thế, hành trạng của nhân vật lịch sử được đề cập, về quy mô kiến trúc từng ngôi chùa cụ thể, cũng như các nghi thức tế lễ và hoạt động tín ngưỡng đương thời.

Bài minh trên văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc thời Lý này cũng rất dài, gồm 32 câu. Bài minh thường là tóm lược lại toàn bộ bài kí trước đó, được trình bày dưới dạng văn vần, gồm 4 chữ. Tuy là sự “trình bày lại” bài kí, nhưng lại khá lớp lang, có vần điệu, khiến người đọc dễ hiểu, dễ nhớ.

Người soạn văn bia là Lý Thừa Ân, (có sách chép là Lý Phụng Ân vì kiêng húy chữ Thừa thời Trần) chức Triều thỉnh đại phu, đồng Thượng cáp môn sứ... Thượng thư Viên ngoại lang, tứ Tử kim ngư đại, một thức giả và đại thần trong triều đình nhà Lý.

Rõ ràng là trang trí và bố cục văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc có đặc điểm tương tự ở các bia thời Lý khác. Tuy nhiên, khảo sát kỹ lưỡng, nhận thấy có một số vấn đề về văn bản. Cụ thể là tên bia và văn tự trên bia đã được khắc lại về sau.

3. Về tên húy vị họ Hà chủ nhân đề cập trong văn bia

Nhân vật được đề cập trong văn bia này Hà công, tức là ông họ Hà, vị họ Hà. Tuy nhiên, khi giới thiệu văn bia này, Trần Huy Bá thì chua là Dụ Tông, còn nhóm tác giả (Đỗ Văn Hỉ) trong bản dịch của Thơ văn Lý - Trần, thì chua là Hưng Tông. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (giới thiệu 1998), xác định Hà Công là Hà Di Khánh. Văn bia thời Lý Văn bia chùa Phật thời Lý cũng đề cập đến vấn đề này.

Thực tế, trong văn bia, sau chữ Hà Công có hai chữ khắc nhỏ là Hưng Tông 興宗. Vậy hai chữ Hưng Tông này từ đâu mà có?

Trong văn bản có một số chữ để cách, được gọi là chữ đài vì sự tôn sùng khi gặp những chữ liên quan đến vua, thần, phật,... Chẳng hạn ở dòng thứ 7, cách 2 chữ trước chữ Thái Tổ Hoàng đế 太祖皇帝, dòng 11 cũng cách 2 chữ trước chữ Hoàng đế, dòng thứ 15 để cách 2 chữ trước chữ Hoàng đế, dòng 21 cách 1 chữ trước chữ Kim Thượng (đương kim Hoàng đế) 今上, dòng 12 cách 1 chữ trước chữ Thiên nhan 天顏. Trong văn bia còn có 3 trường hợp khác cũng được để cách một chữ, đều là các chữ sau chữ (họ) Hà, tộc họ được đề cập đến trong văn bia này. Đó là ở dòng thứ 5, có 2 chỗ cách chữ như Thái phó Hà Công, và Cao tổ Hà (cách 1 chữ) 高祖何 Đắc Trọng 得重. Trường hợp sau vẫn còn ô trống cách chữ, còn trường hợp đầu thì chỗ cách chữ đó được khắc thêm hai chữ nhỏ Hưng Tông 興宗. Hai chữ Hưng Tông này còn gặp ở một vài chỗ khác như ở cuối dòng thứ 7 sau chữ "Tự Đệ tứ nam (thêm hai chữ nhỏ Hưng Tông), Khảo tỉ", nghĩa là "Từ con trai thứ tư (tên Hưng Tông)". Dòng thứ 8 “Đệ tứ nam (Hưng Tông), Khảo”, hai chữ Hưng Tông được khắc nhỏ gọn trong 1 ô chữ bỏ cách. Thực ra đây là ô cách vì đài chữ Khảo tỉ và Khảo sau đó, nhưng người ta đã khắc chèn hai chữ Hưng Tông này vào ô chữ đài đó. Dòng thứ 16, sau chữ "thừa dụ" (khắc thêm 2 chữ Hưng Tông nhỏ hơn), tiếp đến là "nhất thập ngũ đại", nghĩa là: "sau đó cứ tiếp tục theo nhau, được 15 đời". Ý muốn nói rằng kéo dài đến vị họ Hà này là 15 đời. Nếu có ý như vậy thì không bao giờ được gọi tên tục trống không của người đó là Hưng Tông ra, mà vẫn phải viết là “Thừa dụ Hà công tự hoặc hiệu Hưng Tông”, nếu vị này có tên gọi là Hưng Tông.

Rõ ràng hai chữ Hưng Tông này đều được khắc nhỏ trong 1 ô chữ. Nhưng chắc chắn không phải được khắc từ đầu mà được khắc thêm về sau. Khảo sát kỹ văn bản, thấy rằng văn bia đã được khắc lại, bởi có những chữ bị mờ không rõ như các chữ khác, có chỗ bị bỏ trống, nhưng không phải do viết đài mà do mờ không khắc lại được, như câu "...ốc huyền giám nhi vô cương (cách một chữ). Cư tuy phụng thổ chi thần" ( (cách 1 ô) ... giữ cương huyền mãi mãi. Dẫu bề tôi giữ đất). Giữa chữ "vô cương" và chữ "cư" chắc chắn còn một chữ nữa, nhưng không rõ nên bỏ trống, chứ không phải là chữ đài. Văn bản không có chữ húy thời Trần, thời Lê, nhưng có vết tích chữ húy thời Nguyễn. Đó là chữ Chiêu và chữ Thời cùng ở dòng thứ 10. Chữ Chiêu có bộ nhật viết bớt một nét ngang, chữ thời có bộ nhật ở bên cũng được viết bớt nét ngang ở trong. Đây chính là chữ húy thời Nguyễn kiêng húy vua Tự Đức(4), mà khi viết chữ Thời phải đổi thành chữ Thìn . Tuy nhiên, chữ Thời vốn có trên bia từ trước nên không thể đổi thành chữ Thìn được, nên thợ khắc đã bớt đi một nét để trỏ kiêng húy.

Hiện tượng khắc lại thường gặp trên bia thời Lý vì lâu ngày chữ mờ nên dựa vào đó khắc cho sâu thêm, nên chữ còn khá rõ, mà cơ bản vẫn giữ nguyên trạng thái văn bản ban đầu. Tuy vậy, có một đôi chữ không thể luận được nét chữ, nên đã không khắc lại mà phải để ô trống, đôi khi tự ý thêm chữ khác vào, như trường hợp hai chữ Hưng Tông là được khắc thêm khi khắc lại bia này vào thời Nguyễn.

Vậy Hà Hưng Tông được ghi trên bia này là ai? Văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc (Tuyên Quang) ghi lại khá tỉ mỉ lai lịch dòng họ Hà này ở đây. Khởi thủy là cụ viễn tổ Hà Đắc Trọngtừng làm quan Thái thú châu Vị Long (nay thuộc huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang). Trải 13 đời đều có công cai quản 49 động, 15 huyện. Đến ông nội được ban tước Thái bảo, nhân cưới con gái thứ 3 vua Thái Tổ nhà Lý, được phong chức Hữu Đại liêu ban, phu nhân được gọi là Quận quân. Phụ thân ông là Thái phó. Đến Hà công, nhân vật chính đề cập trong văn bia, được cưới công chúa Khâm Thánh. Khi ấy, Hà công mới 9 tuổi, vua vời về kinh gả em gái cho. Năm sau, ông về Kinh đón cô dâu và lãnh chức Tả Đại liêu ban. Năm 1082 được rước cô dâu về bản địa. Năm 1085, bố mẹ ông qua đời. Năm 1086, được phong Tiết độ sứ, Tả Đại liêu ban, kiêm Tri châu Vị Long.

Tiểu sử và sự kiện liên quan đến vị Hà công này được ghi trong văn bia hoàn toàn trùng khớp với sự kiện và nhân vật Hà Di Khánh được ghi chép trong các bộ chính sử như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư,...Cụ thể như Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỷ 3, tờ 11a) ghi là "Hà Di Khánh được gả công chúa Khâm Thánh. Khi ấy Di Khánh mới 9 tuổi, được vua vời về Kinh gả em gái cho. Năm sau ông về Kinh đón cô dâu và được lãnh chức Tả Đại liêu ban".

Rõ ràng là nhân vật đề cập đến trong văn bia là vị họ Hà, được người sau khắc lại bia đã chua rõ là Hà Hưng Tông, chính là Hà Di Khánh được tài liệu lịch sử ghi chép.

Việc khắc thêm hai chữ Hưng Tông trên văn bia này là chủ ý của người địa phương khi cho khắc lại bia này, rất có thể là do hậu duệ họ Hà ở vùng Chiêm Hóa này muốn ghi nhận công lao làm chấn hưng dòng họ Hà ở đây mà tôn xưng gọi là Hưng Tông. Thực tế, ông là tổ trung hưng dòng họ quý tộc họ Hà vì được vua nhà Lý gả công chúa cho, nhờ đó mà dòng họ Hà nơi đây vẻ vang. Do đó tộc họ tôn xưng ông là Hưng Tông, như Trần Hưng Đạo vốn có tên thật là Trần Quốc Tuấn, nhưng trở thành người hưng nghiệp vẻ vang cho nhà Trần với chiến thắng oanh liệt trước quân xâm lược, nên có tên gọi tôn vinh là Hưng Đạo Đại vương hay Trần Hưng Đạo. Vua Lê Lợi cũng vậy, có công đánh dẹp loạn phía Tây, nên có biệt hiệu là Hưng Tây. Danh xưng Trần Hưng Đạo và Trần Quốc Tuấn là một, song tên gọi phổ biến hơn trong tộc họ và dân gian lại là Trần Hưng Đạo, hay Hưng Đạo đại vương. Do đó nhân vật được đề cập trong văn bia này - Hà Hưng Tông, hoàn toàn có cơ sở nhất định từ di duệ dòng họ ở địa phương. Vì vậy, khi đặt tên đường phố, hoặc đặt tên trường học mang tên danh nhân lịch sử họ Hà này, nên chăng sử dụng tên gọi tôn vinh của địa phương là Hà Hưng Tông.

Tóm lại, văn bia chùa Sùng Phúc ở đất Bảo Ninh (Chiêm Hóa, Tuyên Quang) tuy có đôi chỗ cần lưu ý về văn bản học như nêu ở trên, song vẫn bảo lưu tốt diện mạo ban đầu, có giá trị nhiều mặt trong việc nghiên cứu lịch sử văn hóa xã hội đương thời, nhất là về tiểu sử nhân vật. Chính chùa Bảo Ninh Sùng Phúc được dựng là do Hà công vị chủ quan vùng đất này khởi xướng, nhằm phục vụ cho gia đình quý tộc, đồng thời khẳng định sự tôn sùng Phật giáo của triều đình, khẳng định chủ quyền quốc gia trên vùng đất địa đầu tổ quốc thời văn minh Đại Việt - Lý Trần.

Chú thích:

(1) Ngày 24 tháng 8 vừa qua, tại Tp Tuyên Quang, Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang cùng Hội khoa học Lịch sử Việt Nam và Ban liên lạc họ Hà Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học về “Các danh nhân họ Hà châu Vị Long và giá trị tấm bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự”. Tôi có bài viết “Văn bản và giá trị sử liệu văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc tỉnh Tuyên Quang”, chủ yếu bàn về giá trị tư liệu văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc. Trong Hội thảo, nhiều vấn đề về văn bản tư liệu được đặt ra, do vậy tôi thấy cần khảo sát lại và giới thiệu văn bản văn bia này.

(2) Khuân Khoai là tiếng Tày, khoai nghĩa là khoái (vui vẻ) không có liên quan gì đến ngô khoai cả.

(3) Nguyễn Tá Nhí, Khảo cứu tên gọi ngôi chùa cổ Bảo Ninh Sùng Phúc ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, trong Kỷ yếu Hội thảo về “Các danh nhân họ Hà châu Vị Long và giá trị tấm bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự”, tháng 8 năm 2012, tr.95.

(4) Xem Ngô Đức Thọ: Chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn hóa, H. 1997, tr.144-147.

 

Tài liệu tham khảo

1. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, T.I: Từ Bắc thuộc đến thời Lý, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Viện Viễn đông Bác cổ Pháp, 1998.

2. Văn bia thời Lý, PGS.TS. Nguyễn Văn Thịnh chủ trì, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010.

3. Văn bia chùa Phật thời Lý (Đinh Khắc Thuân sưu tập, giới thiệu), Nxb. KHXH, H. 2011.

4. Kỷ yếu Hội thảo về “Các danh nhân họ Hà châu Vị Long tỉnh Tuyên Quang và giá trị tấm bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự”, Tuyên Quang 8-2012.

 

Phụ lục:

(Tạp chí Hán Nôm; Số 5(114) 2012; Tr.61-67)

Đinh Khắc Thuân
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm