Xác lập tên 36 phường của Kinh thành Thăng Long từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII (Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (105) 2011, Tr.29 - 33)
XÁC LẬP TÊN 36 PHƯỜNG CỦA KINH THÀNH THĂNG LONG TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XVIII
PGS.TS. PHẠM THỊ THÙY VINH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Từ trước đến nay cách gọi Hà Nội 36 phố phường được hiểu như là sự ước lệ không có thực. Tên gọi 36 phố phường của Thăng Long được cho là xuất hiện vào thời Lê nhưng lại không có tài liệu nào ghi lại cụ thể. Tư liệu địa chí về Thăng Long đều chỉ có trong thời Nguyễn, chính nguồn tư liệu này cũng không cho biết tên cụ thể các phường của kinh đô Thăng Long. Những thông tin liên quan đến vấn đề nàyhầu như chỉ cho biết rất sơ lược một số địa danh hành chính thuộc kinh thành Thăng Long xưa(1). Ngày nay chúng ta chỉ biết là thời Trần, Thăng Long được chia làm 61 phường giống như các thời trước, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư cũng chỉ nhắc đến tên 3 phường dưới thời Lý và 8 phường dưới triều Trần. Cùng với các sách khác khi điểm về số phường trong 61 phường thì chỉ có 13 phường được nhắc tên. Đó là các phường sau: phường Thái Hòa, phường Cơ Xá, phường Bố Cái, phường Hạc Kiều, phường Yên Hoa, phường Giai Tuân, phường Toán Viên, phường Tây Nhai, phường Các Đài, phường Giang Khẩu, phường Báo Thiên, phường Phủng Nhật, phường Thịnh Quang(2).
Trong quá trình điều tra tư liệu về địa danh hành chính trên các bài minh văn chữ Hán của Hà Nội, chúng tôi đã sưu tập được khá nhiều địa danh hành chính cấp phường thuộc hai huyện Quảng Đức và Thọ Xương thuộc phủ Phụng Thiên, kinh thành Thăng Long. Những địa danh này xuất hiện trên văn khắc từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX. Trong bài viết này chúng tôi giới thiệu các tên phường, trại, sở xuất hiện từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Sở dĩ chúng tôi chọn giai đoạn này để khoanh vùng thời gian vì trong các tài liệu ghi về địa danh hành chính còn lại đến nay chủ yếu là ghi cụ thể từ thời Nguyễn với những năm đầu của thế kỷ XIX. Cách gọi Hà Nội 36 phố phường cho đến nay vẫn được nêu như một tồn nghi vì chưa có tài liệu nào ghi lại cụ thể danh sách các phường đó. Chưa có một danh sách cụ thể về con số 36 phố phường của Thăng Long trước khi trở thành tỉnh thành Hà Nội. Các nghiên cứu hiện nay thiên về cho cách gọi 36 phố phường chỉ là cách gọi ước lệ theo tiêu chí của con số 36 cộng lại sẽ là số đẹp.
Tuy nhiên dựa trên tư liệu văn khắc Hán Nôm trên địa bàn Hà Nội ngày nay, chúng tôi lại có cơ sở để tin chắc rằng đã thực sự tồn tại 36 phường tại Thăng Long trong thời kỳ trung cận đại. Tư liệu văn khắc Hà Nội mà chúng tôi tiến hành khảo cứu được phân bổ tại tất cả các quận nội thành, trải dài từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XX. Trên các bia đá và chuông khánh đồng đó thường khắc ghi những dòng địa danh hành chính để chỉ chủ sở hữu của từng tấm bia hoặc chuông khánh đồng thuộc về địa phương nào. Trên cùng một di tích như đình chùa, đền miếu có thể có nhiều bia hoặc chuông được tạo dựng trong những thời gian khác nhau. Nhặt những dòng địa danh được khắc trên đó và xâu chuỗi lại sẽ cho chúng ta những thông tin quý giá mà không có tài liệu nào ghi lại.
Theo cách hiểu của nhiều nhà nghiên cứu thì phường là một đơn vị hành chính tương đương với cấp làng xã nhưng phường còn mang đặc trưng của phường nghề nghiệp như phường Yên Thái chuyên sản xuất giấy, phường Bái Ân dệt lụa thường, phường Võng Thị dệt lĩnh...Còn phố không phải là đơn vị hành chính mà chỉ là một phần đất để bày bán hàng hóa. Như vậy là phố nằm trong địa bàn phường. Khi chúng tôi tiếp cận với các bài văn khắc để tìm hiểu về địa danh hành chính từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, chỉ thấy ghi đơn vị hành chính từ phủ huyện, tổng, phường xã, dưới phường xã là thôn, xóm, trại, giáp; không thấy ghi tên các phố. Đơn vị tổng chủ yếu xuất hiện nhiều từ thế kỷ XVIII về sau này, trước đó chỉ xuất hiện thưa thớt.
Dưới đây là tên các phường từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII của hai huyện Quảng Đức và Thọ Xương được khắc trên bia đá, chuông khánh đồng còn lại đến ngày nay của các quận nội thành Hà Nội. Tất nhiên là không phải địa danh nào của trung tâm Hà Nội cũng còn lưu giữ được nguồn tư liệu này. Thời gian càng lùi xa thì hiện vật càng bị thất thoát, nhưng những gì mà văn khắc Hán Nôm Hà Nội còn lưu lại được cũng đủ để chúng ta tìm thấy những địa danh hành chính tưởng sẽ không bao giờ khôi phục được.
I. Tên phường xuất hiện trên minh văn thế kỷ XV
1. Phường Đông Các huyện Vĩnh Xương 東閣坊永昌縣
2. Phường Nghi Tàm 宜蠶坊
II. Tên phường xuất hiện trên minh văn thế kỷ XVI
1. Phường Báo Thiên huyện Thọ Xương 報天坊壽昌縣
2. Phường Vĩnh Thái huyện Thọ Xương 永泰坊壽昌縣
III. Tên các phường thuộc huyện Quảng Đức thế kỷ XVII
1. Phường Bái Ân 拜恩坊
2. Phường Công Bộ 公部坊
3. Phường Đông Hồ 東湖坊
4. Phường Hồ Khẩu湖口坊
5. Phường Nghi Tàm 宜蠶坊
6. Phường Nhật Chiêu 日昭坊
7.Phường Quảng An 廣安坊
8. Phường Quảng Bố 廣布坊
9. Phường Tây Hồ 西湖坊
10. Phường Thịnh Quang 盛光坊
11. Phường Thụy Chương 瑞章坊
12. Phường Trích Sài 摘柴坊
13. Phường Yên Hoa 安華坊
14. Phường Yên Phụ 安阜坊
15. Phường Yên Thái 安泰坊
16. Thôn Nam Đồng 南同村 sở Dịch Vọng 驛望所.
IV. Tên các phường thuộc huyện Quảng Đức thế kỷ XVIII
1. Phường Bái Ân 拜恩坊
2. Phường Công Bộ 公部坊
3. Phường Nghi Tàm 宜蠶坊
4. Phường Nhật Chiêu 日昭坊
5. Phường Quảng Bố 廣布坊
6. Phường Tây Hồ 西湖坊
7. Phường Thịnh Quang 盛光坊
8. Phường Võng Thị 網市坊
9. Phường Yên Hoa 安華坊
11. Phường Yên Thái 安泰坊
12. Phường Yên Phụ 安阜坊
13. Trại Yên Lãng 安朗寨.
V. Tên các phường thuộc huyện Thọ Xươngthế kỷ XVII
1. Phường Báo Thiên 報天坊
2. Phường Diên Hưng 延興坊
3. Phường Đông Tác 東作坊
4. Phường Đồng Xuân 同春坊
5.Phường Đồng Lạc 同樂坊
6. Phường Hòe Nhai 槐厓坊
7. Phường Hà Khẩu 河口坊
8. Phường Xã Đàn 社壇坊
VI. Tên các phường thuộc huyện Thọ Xươngthế kỷ XVIII
1. Phường An Xá 安舍坊
2. Phường Bạch Mã 白馬坊
3. Phường Báo Thiên huyện Thọ Xương 報天坊
4.Phường Bích Câu 碧溝坊
5. Phường Diên Hưng 延興坊
6. Phường Đông Các 東閣坊
7. Phường Đông Hà 東河坊
8. Phường Đông Tác 東作坊
9. Phường Đồng Lạc 同樂坊
10. Phường Đồng Xuân 同春坊
11.Phường Hà Khẩu 河口坊
12. Phường Hòe Nhai 槐街坊
13. Phường Hồng Mai 紅枚坊
14. Phường Phúc Bổ 福埔?(蒲?) 坊
15. Phường Phục Cổ 復古坊
16. Phường Phúc Tào 福曹坊
17. Phường Thái Cực 泰極坊
18. Phường Thạch Khối 石塊坊
19. Trại Quỳnh Lôi 瓊雷寨
Thống kê trên cho thấy trong thế kỷ XV, cụ thể là năm Thái Hòa thứ 3 (1445) và Quang Thuận thứ 7 (1466) trên văn bia chùa Đại Bi (nay là chùa Kim Liên) và trên văn bia Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7 đã có 2 tên phường xuất hiện là phường Nghi Tàm và phường Đông Các. Phường Nghi Tàm chỉ ghi kèm theo tên chùa còn phường Đông Các được ghi thêm tên huyện là Vĩnh Xương. Sang thế kỷ XVI trên minh văn của Hà Nội cũng chỉ có tên 2 phường xuất hiện. Đó là phường Báo Thiên và phường Vĩnh Thái thuộc huyện Thọ Xương. Lúc này tên huyện Vĩnh Xương đã đổi thành huyện Thọ Xương. Tên hai phường này được ghi lại trên văn bia Tiến sĩ Chế khoa Ất Sửu niên hiệu Chính Trị thứ 8 (1565). Nhưng bia được dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653) tức là sau khoa thi đó xấp xỉ 100 năm.
Đến thế kỷ XVII và XVIII thì tên phường xuất hiện nhiều hơn trên minh văn, điều đó đồng nghĩa với việc tư liệu văn khắc giai đoạn này còn giữ được nhiều. Sang thời kỳ này chúng tôi thống kê tên phường theo từng huyện. Phủ Phụng Thiên bấy giờ gồm hai huyện Quảng Đức và Thọ Xương. Huyện Quảng Đức có số phường xuất hiện khá đều trong hai thế kỷ. Thế kỷ XVII có 15 phường, thế kỷ XVIII có 12 phường, trong đó có 11 phường trùng với tên phường trong thế kỷ XVII, chỉ thêm tên một phường mới là phường Võng Thị. Do đó số phường xuất hiện trên tư liệu văn khắc trong hai thế kỷ của huyện Quảng Đức là 16 phường 1 sở. Đó là các phường: phường Bái Ân 拜恩坊, phường Công Bộ公部坊, phường Đông Hồ 東湖坊, phường Hồ Khẩu湖口坊, phường Nghi Tàm 宜蠶坊, phường Nhật Chiêu 日昭坊, phường Quảng An 廣安坊, phường Quảng Bố 廣布坊, phường Tây Hồ 西湖坊, phường Thịnh Quang盛光坊, phường Thụy Chương瑞章坊, phường Trích Sài 摘柴坊, phường Yên Hoa安華坊, phường Yên Phụ 安阜坊, phường Yên Thái 安泰坊, phường Võng Thị網市坊, trại Yên Lãng 安朗寨 và thôn Nam Đồng 南同村, sở Dịch Vọng 驛望所 (phường Thịnh Quang và phường Nam Đồng hiện ở gần Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, Hà Nội).
Trong văn bia thế kỷ XV, hai phường Tây Hồ và Thụy Chương của huyện Quảng Đức thế kỷ XVII chỉ xuất hiện là đơn vị hành chính cấp xã. Huyện Thọ Xương có số phường xuất hiện nhiều trong thế kỷ XVIII với 18 phường và 1 trại nhưng thế kỷ XVII chỉ có 8 phường được lưu lại trên văn khắc. Trong 8 phường xuất hiện trong thế kỷ XVII chỉ có 1 tên phường là mới so với các phường của thế kỷ XVIII, đó là phường Xã Đàn. Vì vậy huyện Thọ Xương có 19 tên phường xuất hiện trong hai thế kỷ XVII và XVIII. Nhưng ở đây có tên một phường mà văn bản không ghi nó thuộc huyện Quảng Đức hay Thọ Xương, đó là phường Bích Câu. Chúng tôi xếp phường này vào huyện Thọ Xương dựa trên văn bản được lưu giữ tại địa điểm thuộc huyện Thọ Xương cũ. Như vậy, huyện Thọ Xương có 19 phường và 1 trại là: phường An Xá 安舍坊, phường Bạch Mã 白馬坊, phường Báo Thiên huyện Thọ Xương 報天坊, phường Bích Câu 碧溝坊, phường Diên Hưng 延興坊, phường Đông Các 東閣坊, phường Đông Hà 東河坊, phường Đông Tác 東作坊, phường Đồng Lạc 同樂坊, phường Đồng Xuân 同春坊, phường Hà Khẩu 河口坊, phường Hòe Nhai槐街坊, phường Hồng Mai 紅枚坊, phường Phúc Bổ 福埔? (蒲?) 坊, phường Phục Cổ 復古坊, phường Phúc Tào福曹坊, phường Thái Cực 泰極坊, phường Thạch Khối 石塊坊 và trại Quỳnh Lôi 瓊雷寨.
Như vậy trong hai thế kỷ XVII và XVIII huyện Quảng Đức có 16 phường, 1 trại, 1 sở được ghi lại, huyện Thọ Xương có 19 phường và 1 trại được ghi lại. Cộng cả số phường của hai huyện Quảng Đức và Thọ Xương chúng ta sẽ có 35 phường, 2 trại, 1 sở. Kết hợp với tên 4 phường xuất hiện trong hai thế kỷ XV và XVI thì chúng ta sẽ có kết quả rất thú vị. Trong 4 phường được ghi lại trên minh văn từ năm 1445 đến năm 1565 có 3 phường trùng với tên của các giai đoạn sau là phường Báo Thiên, phường Đông Các, phường Nghi Tàm. Riêng phường Vĩnh Thái thuộc huyện Thọ Xương thì không thấy xuất hiện trong minh văn thế kỷ XVII, XVIII. Thế là ở đây chúng ta sẽ có thêm một phường nữa để gộp vào với số 35 phường vừa nêu trên. Đến đây chúng ta đã có đủ tên của 36 phường suốt dọc thời gian gần 4 thế kỷ của thời kỳ Hậu Lê. Có thể các tên phường này trong thực tế từng thế kỷ sẽ có những biến động, thay đổi nhưng dù sao đây cũng là một sự may mắn để chúng ta tiếp tục nghiên cứu về địa danh hành chính nói chung và địa danh hành chính của Thăng Long 36 phường nói riêng. Từ kết quả này có thể sửa lại cách gọi 36 phố phường của kinh đô Thăng Long là 36 phường chứ không phải là phố phường. Và như thế con số 36 có thể là ước lệ nhưng cũng có thể là chính xác lắm chứ? Nếu coi là ước lệ thì rất có thể chúng ta lại tìm thêm được tên các phường của Thăng Long trong bốn thế kỷ đó? Nếu coi số 36 là giới hạn của các phường được đặt ra dưới triều Lê thì phải chăng chúng ta đang chạm đếnđiều mà lâu nay nhiều nhà nghiên cứu mong đợi và còn bỏ ngỏ? Đây là lần đầu tiên chúng tôi đã xác lập được tên 36 phường của hai huyện Quảng Đức và Thọ Xương phủ Phụng Thiên từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII thông qua nguồn tư liệu văn khắc Hán Nôm trong cùng thời kỳ. Tên gọi các phường này hiện được lưu lại chính xác trên văn bản. Hy vọng đây là một đóng góp nhỏ trong quá trình nghiên cứu về địa danh hành chính nói chung, cung cấp thêm những thông tin mới về Hà Nội trong quá trình vận động và phát triển.