VI | EN
Xem lại vai trò của “cá” và “nháy” trong cấu tạo chữ Nôm (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (115) 2012; tr.3 - 11)
Xem lại vai trò của “cá” và “nháy” trong cấu tạo chữ Nôm (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (115) 2012; tr.3 - 11)

XEM LẠI VAI TRÒ CỦA “CÁ” VÀ “NHÁY”
TRONG CẤU TẠO CHỮ NÔM

GS.TSKH. NGUYỄN QUANG HỒNG

GS.TSKH. Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Các học giả nghiên cứu về chữ Nôm, hầu như không một ai bỏ qua hiện tượng ( 񠝪) “cá” và “nháy” trong cấu tạo chữ Nôm. Song xem xét một cách toàn diện và rành mạch về chỗ giống nhau và chỗ khác nhau của hai hiện tượng này thì dường như là chưa được ai thực hiện. Trong một vài công trình mới đây của mình (xem: [4], [5]) , chúng tôi đã bước đầu đề cập đến vấn đề này, song việc luận giải e rằng chưa thật thấu đáo và vẫn còn có đôi điều cần được bổ sung.

Trước hết, hãy xem xét về sự khác biệt của “cá” so với “nháy”.

Điều dễ nhận thấy nhất là hai ký hiệu này hoàn toàn khác nhau trên mặt chữ cũng như về lai lịch của chúng. ( 񠝪) “cá” vốn là một chữ Hán (dạng phồn thể là ), còn “nháy” dù thực tế viết kiểu gì đi nữa, thì vẫn đơn giản là một cái dấu phụ, chứ không là một ký tự hẳn hoi, và nó chỉ có mặt trong chữ Nôm, mà không hề xuất hiện trong Hán văn.

Tiếp theo, cũng như nhiều ký tự Hán khác, “cá” được các cụ nhà ta mượn dùng trước hết là để biểu âm. Còn “nháy” thì đương nhiên là không thể làm cái biểu đạt cho một âm nào. Có hai khía cạnh trong chức năng biểu âm, mà ký tự “cá” đều có thể gánh vác được:

(a)Ký tự “cá” dùng làm thành tố biểu âm trong cấu tạo chữ “hình thanh đẳng lập”. Dẫn chứng hiện chỉ có một chữ 𩵜cá, nhưng được dùng khá phổ biến:

·𩵜{ F1: ngư 魚⿰񠝪 cá}. . 񢀏 񠎦񠁁坤且𩵜Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá (Ức Trai, 4a) 𩵜語鈎沈吹伴另𪀄疑弓𨉠𠸒饒𠖤Cá ngỡ câu chìm, xui bạn lánh. Chim ngờ cung bắn, rủ nhau bay (Hồng Đức, 4a) 〇保饒都志立功񠟅䋥𩵜底烘𥙩𪀄Bảo nhau đua chí lập công. Rắp đem lưới cá để hòng lấy chim (Thiên Nam, 33a) 補之𩵜𡊱𪀄籠麻制Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi (Truyện Kiều, 46a).

(b)Ký tự “cá” dùng làm thành tố phụ trong cấu tạo chữ Nôm “hình thanh chính phụ”. Trong vai trò này, “cá” được sử dụng khá nhiều trong các văn bản Nôm cổ tạo tác trong thời kỳ tiếng Việt còn “sở hữu” các dạng thức từ ngữ kiểu CCVC. Thí dụ:

·񠝪{lâm 林⿰񠝪[*kl- > tr-]}. Trăm:񠝪{ 񣌢} 门劫乙[ ] 特及Trăm ngàn muôn kiếp ắt khôn [khó mà] được gặp (Phật thuyết, 3a).

·񣚳 { “lộng” “cá” [*kl- > tr-]}. Tróng (Gióng):南於工񣚳 Nằm ở trong tróng [cũi xe] [Phật thuyết, 33b].

·񠝪 { lẫm 禀⿰񠝪 cá [*kl- > s-]}. Sấm. 震雷動疾雷񠝪 񣅬 “Chấn lôi”: sấm động. “Tật lôi”: sấm ran (Ngọc âm, 2b).

·񣁬 {lập 񠝪 [*kl- > s-]}. Sắp.棟宇񣁬排年梁平科 “Đống vũ”: sắp bày nên rường bằng khoa (Ngọc âm, 24b) 〇牝牡立񣁬排邑“Tẫn mẫu”: sấp ngửa sắp bày úp che (Ngọc âm, 25b).

GS. Hoàng Xuân Hãn gọi đây là trường hợp 񠝪“cá” (cũng như “cư” “cự” “cổ”) thể hiện “khởi âm *[k-] trong các âm tiết kiểu CCVC đó (xem: [3, tr.14]. Chúng tôi quy các chữ Nôm này vào loại chữ “hội âm chính phụ”. Tiếng Việt sau này không còn giữ lại cách phát âm mang tổ hợp CC- nữa, nghĩa là “khởi âm” [*k-] (cũng như nhiều “khởi âm” khác) biến mất, ký tự “cá” nếu có được tiếp tục dùng, thì vai trò của nó khi ấy không còn là một thành tố phụ biểu âm nữa, mà sẽ khác đi như những gì chúng ta có thể quan sát tiếp theo dưới đây.

Vai trò của “cá” không chỉ dừng lại ở chức năng biểu âm như trên. “Cá” còn xuất hiện như một ký tự phụ kèm để lưu ý người đọc đến những sự phân biệt cần thiết khác giữa chữ Nôm tự tạo (có “cá” phụ kèm) với chữ Nôm mượn Hán thông thường. Chính là trong vai trò chức năng này mà “cá” tìm thấy sự tương đồng với dấu “nháy”, xuất hiện muộn hơn trong các văn bản Nôm và chủ yếu là trong các văn bản viết tay. Có lẽ là dựa trên cơ sở này mà GS. Hoàng Xuân Hãn đã nhận định rằng: “Trong một vài trường hợp, hình như kẻ viết sợ kẻ đọc lầm lẫn chữ Hán Nôm với chữ Hán thật, bèn tháp và chữ Hán Nôm một chữ 񠝪 () để nhắc rằng đó là chữ Nôm. Phần phụ ấy sẽ là dấu phụ, và đây là dấu , mà người sau có lúc đổi ra dấu “nhấp nháy” ()” (xem: [3], N.5, tr.13).

Năm 1976 GS. Nguyễn Tài Cẩn và GS N.V. Xtankevich trong một bài nghiên cứu công phu về cấu tạo chữ Nôm, cũng coi những chữ Nôm kèm dấu “nháy” là chữ Nôm tự tạo, và xếp chúng vào loại D trong sơ đồ tổng quát về cấu tạo chữ Nôm do tác giả lập. Hai tác giả đã có một thuyết minh kĩ hơn về vai trò chức năng của “cá” khi nó được “gia thêm” vào chữ Hán mượn dùng: “Đây là một kiểu có thể tạm gọi là phái sinh vì xuất phát từ một thành tố chính và gia thêm một biến đổi phụ. Với riêng thành tố chính, chúng ta đã có thể cho đây là trường hợp C2: trường hợp dùng một chữ Hán để phiên âm đại khái một tiếng Việt. Tác dụng của ký hiệu phụ là để báo hiệu cho người đọc biết rằng đây không phải là trường hợp C1, gặp những chữ kiểu này thì không thể căn cứ hoàn toàn vào cách đọc đã cho [âm Hán Việt - NQH] trong tự điển, mà phải đọc chệch đi” (dẫn theo bản in cuối cùng: [2], 2001, tr.66).

Nhiều tác giả sau đó, kể cả tác giả bài viết này, đều cùng tiếp thu cách nhìn như trên của các học giả tiền bối, đặc biệt là nhận định của GS. Nguyễn Tài Cẩn và N.V. Xtankêvich về vai trò chức năng của dấu “nháy” như là một dấu hiệu “đọc chệch” âm Hán Việt của chữ Hán làm thành tố chính, và nhiều người gọi đó là chức năng “chỉnh âm” của dấu “nháy” và cả dấu “cá” như đã nêu trên.

Đi tới một cách giải thuyết như trên đây là một điều rất đáng được ghi nhận. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ, đi sâu khảo sát các tác phẩm và văn bản chữ Nôm, chúng ta có thể sẽ bắt gặp một số cứ liệu về “cá” và “nháy” có vẻ không thỏa mãn với cách phân tích như trên. Bản thân chúng tôi đã thu thập hàng trăm câu trích dẫn từ các văn bản Nôm được tạo tác qua nhiều thời kỳ, mà trong đó có xuất hiện những chữ Nôm mang dấu “cá” hoặc dấu “nháy”. Dưới đây chỉ xin dẫn ra và phân tích một số, quy thành 4 nhóm (trong đó, mỗi chữ Nôm với dấu “cá” hoặc “nháy” được phân tích cấu trúc đặt trong ngoặc uốn {}. Mấy ký hiệu hình tròn dùng để ngăn cách các câu dẫn, cùng với sự phân biệt về nghĩa của chữ đó, lần lượt là:giống nhau, hơi khác nhau, khác hẳn nhau). Cụ thể như sau:

(a). Có những trường hợp chữ Nôm mang dấu “cá” hoặc dấu “nháy” đích thị là dùng để báo hiệu “đọc chệch” (thực ra là đọc theo âm Tiền Hán Việt hoặc Hậu Hán Việt) so với âm Hán Việt của chữ Hán được mượn làm thành tố chính, nhưng vẫn bảo lưu nghĩa của chữ Hán đó. Có nghĩa là xuất phát điểm của chữ Nôm kiểu này là chữ Hán mượn dùng thuộc loại A1 (hoặc A2). Thí dụ:

·{A1|A2>G2: tịch >}. Tiệc. 揖𤽗胡典𠳨浪句踈題班𣈜𤽗牢体吱蒸𡗋丕񣠥 Ấp ngươi Hồ đến tiệc. Hỏi rằng: Câu thơ đề ban ngày, ngươi sao thấy chê chưng lắm vậy vay (Truyền kỳ, I, Hạng Vương, 3b).

·{A1|A2>G2: môi > }. Mối. 񠟅職𥄭𣈜意景欣沫𢚸順Mối đem giấc ngủ ngày ấy cảnh hơn [thắng cảnh] mát lòng thuận dễ (Truyền kỳ, III, Na Sơn, 19b).

·謹 个{A1|A2>G2: cẩn > 謹 个}. Ghín.񠏊𤽗𣈜𨎠蜍孛極謹个Chúng ngươi ngày trước thờ Bụt cực ghín (Truyền kỳ, III, Đông Triều, 36b).

·񣆱{A1|A2>G2: sơ > 񣆱}. Xưa. 񣆱𨍦體𦷾濫囷񢼮����油些掌大權Xưa sau thể [thể theo] đấy làm khuôn phép. Dốc một dầu ta chưởng [nắm] đại quyền (Bách vịnh, 25b).

·񢼮{A1|A2>G2: pháp> 񢼮}. Phép. 񣆱𨍦體𦷾濫囷񢼮񠝧油些掌大權Xưa sau thể [thể theo] đấy làm khuôn phép. Dốc một dầu ta chưởng [nắm] đại quyền (Bách vịnh, 25b) 機冉暸咍機妙造񢼮牟透特񢼮神通Cơ nhẹm liêu [hiểu rõ] hay cơ diệu tạo. Phép mầu thấu được phép thần thông (Bách vịnh, 27a).

·歳个 {A1|A2>G2: tuế > 歳个}. Tuổi. 𤽗王陵𠊛於坦沛人本志奇歳个群𡮈樁堂率𧗱塵世群萱堂奉養歆枚Ngươi Vương Lăng người ở đất Bái, nhân (người) vốn chí cả. Tuổi thơ còn bé nhỏ, thung đường thoắt về, trần thế còn huyên đường phụng dưỡng hôm mai (Vương Lăng, 2b).

·{A1|A2>G2: >> tranh}. Giành. 几争功񣡶𠊛分初Kẻ tranh công trước, người giành phần sơ (Thiên Nam, 35b).

·{A1|A2>G2: quả > }. Góa 苦拯貪𢀭拯貪𤳇Khó chẳng tham giàu, góa chẳng tham trai (Thiên Nam, 71b).

·{A1|A2>G2: > }.Mày.呐耒騎馭𠫾毛揚慈油油Nói ri cưi nga đi mau. Dương T lơ láo dàu dàu mày chau (Dương T, tr.38).

(b) Li có tình trng ngưc li, trong đó du “cá” hoc du “nháy” ch ct đ báo hiu cn phi điu chnh v nghĩa ch, tc là phi hiu nghĩa ca ch mang du ph khác đi (theo tiếng Vit), ch không gi li nghĩa ca ch Hán đã cho. Còn âm đc thì vn gi y nguyên như âm ca ch Hán mưn dùng đó, và đây có s trùng hp âm Hán Vit và âm Nôm. Xut phát đim ca nhng ch Nôm kèm du ph này chính là ch Hán mưn dùng thuc loi C1. Thí dụ:

· {C1>G2: lỗi > }. Lỗi.埃恳朱卞񠥔磊个林女Ai khấn sự chi nên, mà chẳng giữ cho bền, thì cũng lỗi lầm nữa(Thánh giáo, tr.121).

·{C1>G2: điếm > }. Điếm.呐浪柴仕𢭂身店Nói rằng thầy sãi trau thân điếm đàng (Dương Từ, tr.44).

·{C1>G2: lôi > }.Lôi. 准城市捹輸半鲁巾巾襖襖共染味扲尼村民同𤽸渃񣠬񢩘񢩘𠓨񣖞Chốn thành thị buôn thua bán lỗ, khăn khăn áo áo cũng nhuốm màu cầm. Nơi thôn dân đồng trắng nước trong, ruộng ruộng trâu trâu cũng lôi vào lọ (Nha phiến, 4a) 𧡊蔑頭𥿗𢷀外𠰘妬柴雷𦋦𣈙Thấy một đầu chỉ lôi thôi. Rủ ngoài miệng đó, thầy lôi ra rày (Thiên Nam, 82a).

Đành rằng những dẫn chứng về chữ Nôm kiểu này là không nhiều, song rõ ràng những chữ kiểu này là có thật, chứ không phải chỉ là trên lý thuyết. Với những cứ liệu này thì không thể nói rằng dùng dấu “cá” hay “nháy” chỉ cốt là để báo hiệu “đọc chệch” hay để “chỉnh âm” mà thôi.

(c) Đa số các trường hợp tạo chữ Nôm bằng cách “tháp” thêm dấu “cá” hoặc dấu “nháy” là kiêm nhiệm chức năng báo hiệu “chỉnh âm” và cả “chỉnh nghĩa”. Xin dẫn ra dưới đây một số thí dụ về những chữ Nôm kiểu này, mà nếu chỉ quy vai trò của “cá” và “nháy” vào mỗi chức năng “chỉnh âm” không thôi, thì thật là không “công bằng”, vì rõ ràng là chữ Nôm được tạo ra khác hẳn với chữ Hán mượn dùng ban đầu cả về âm lẫn về nghĩa. Xuất phát điểm của loại này là C1 (hoặc C2)

·񣘕 {C1|C2>G2: đối > 񣘕}. Dối. 曳庄咍谷񣘕疑篤虐Nghê [ngô nghê] dại chẳng hay cốc [biết], dối ngờ dốc ngược [điên đảo] (Phật thuyết, 41a).

·񣐪{C1|C2>G2: y >񣐪}. Ấy. 板床反揖񣐪𦍛種饒“Bn sàng” phn y cũng dưng ging nhau (Ngc âm, 38a).

·񣈬 {C1|C2>G2: tốc > 񣈬}. Tóc. [] 堯事变饒平񣈬Thời nghèo [hiểm nghèo] sự biến nhiều bằng tóc (Ức Trai, 18a) 重孛修身用駡磊蔑絲蔑񣈬 Trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc (Cư trần, 37b).

·񣓀{C1|C2>G2: ngọ>񣓀}. Ngủ. 񣓀丁馨𦣰񣡻竹醝了少頂唐樁Ngủ đềnh hênh, nằm cửa trúc. Say lểu thểu đứng đường thông (Ức Trai, 23a).

·񣛐{C1|C2>G2: niệm> 񣛐}. Nắm. 񣓃񣛐𣋀񣘹𠄼𠀧丐於方東Năm nắm sao mọn kia. Năm ba cái ở phương Đông (Thi kinh, I, 22a).

·񣛰{C1|C2>G2: ý > 񣛰}. Ấy.台茹񣛰Hai nhà ykhí tưng tp tc thy c chng đng (Truyn k, I, Khoái Châu, 15b)埃可皮意񣛰付默񣢄春撴𢱜A i kh va ý y, phó mc gió xuân đun đy (Truyn k, III, Thúy Tiêu, 44b).

·񣒂{C1|C2>G2: lăng> 񣒂}. Lâng. 針針駢篤𢚸圖報糁𡎝񣒂񣒂所域清Chăm chăm bền dốc lòng đồ báo. Tám cõi lâng lâng thửa vặc thanh (Bách vịnh, 34a).

·񣓕{C1|C2>G2: lịch > 񣓕}. Rích. 𠶓𠾷勾疎񣆇񣓕唏呵񣕇𨢇興茌Vếu váo câu thơ cũ rích. Hì hà chén rượu hăng sì (Sô Nghiêu, 6a).

·񣙠{C1|C2>G2: tung > 񣙠}. Tuông.切爲񠁵񣡶尼賖塘挭񠢡稽柴拋񣙠Thiết vì mười giới trước nay. Xa đường gánh nặng, ghe [nhiều, lắm] thầy phao tuông [xông xáo] (Xuất gia, 5b).

·{C1|C2>G2: lư > }. Lua. 饒咹於吝矧𠫾𧗱𨳱社廊民Lấy nhau ăn ở lua kề [chung đụng, dựa dẫm]. Lẩn thẩn đi về ngõ xã làng dân (Thiên Nam, 24b).

·{C1|C2>G2: manh > }. Mành. 单節夏燶油默針務冬񢼹拖𩂏Manh đơn tiết hạ nồng dầu mặc. Chằm đụp mùa đông rét đỡ che (Sô Nghiêu, 6a).

·{C1|C2>G2: thạch >}. Thịch. 𩛄三乘本㐌渚滇񠆒固𢟹勃񠞤Bánh Tam thừa vốn đã chứa chan, nào có nhọc bột đâm thì thịch (Thiền tịch, 40b).

·{C1|C2>G2: mộc> }. Mc.本坦񠥔𦓿耚招榪固湄񣘌񢾒񠁴朱蔭񠥔買固穭Vốn đất thì cày bừa, gieo mạ, có mưa xuống nắng lên cho ấm. thì mới có lúa mọc tốt (Thánh giáo, tr.25) 〇外頭梂渃如𤀓塘边梂𦹵群𡽫Ngoài đầu cầu nước trong như lọc. Đường bên cầu cỏ mọc còn non (Chinh phụ, 2b) 〇仉𤞻𦼔諸宣𠲣𨻫𩙌椿咷撫佛坡Kẽ hùm rêu mọc trơ toen hoét. Luồng gió thông reo vỗ phất phơ (Xuân Hương, 5b).

(d) Cuối cùng, còn có những trường hợp chữ Nôm tự tạo với dấu “cá” hoặc dấu “nháy” mà không liên can gì với “chỉnh âm” và cả “chỉnh nghĩa”. Có nghĩa là những chữ Nôm này chỉ khác biệt với chữ Hán mượn dùng ban đầu về hình chữ (vì có gia thêm dấu phụ), chứ về âm và về nghĩa vẫn giữ lại y như âm và nghĩa của chữ Hán đó. Như vậy, vai trò chức năng của dấu “cá” và dấu “nháy” ở đây chính là để “chỉnh hình”, để Nôm hóa hình thể chữ được tạo ra, phân biệt với chữ Hán mượn dùng tương ứng. Xuất phát điểm của những chữ Nôm kiểu này là chữ Hán mượn dùng thuộc loại A1. Thí dụ:

·񣟧 {A1>G2: mỗ> 񣟧}. Mỗ.准山房拯固񣟧役侵𠓨店񠋱更殘Chốn sơn phòng chẳng có mỗ việc. Xâm vào đêm mấy canh tàn (Truyền kỳ, II, Đào Thị, 27a).

· {A1>G2: tiếp > }. Tiếp. 筓玉麻沙渃񣀬疎使接个默動񠍧𢚸Vỗ kê ngọc mà sa nước mắt. Thưa sứ tiếp màđộng tấm lòng (Truyền kỳ, II, Long Đình, 12b).

·損个{A1>G2: tổn > 損个}. Tổn. 福麻袍襖𠃣損个𧝦𦷾特𢯰塊Phúc mà bào áo ít tổn rách đấy, được tuột khỏi (Truyền kỳ, I, Mộc miên, 41b).

·' {A1>G2: mộc > ' }. Mộc. '爫年茹庄噲񠒻意爲署意庄𥙩事之𠇮麻爫茹Thợ mộc làm nên nhà, chẳng gọi là “cha nhà”, ấy vì thợ ấy chẳng lấy sự chi trong mình mà làm nhà (Thánh giáo, tr.25).

· {A1>G2: nguy > }. Nguy. 嘆浪係几義忠牢固農𢚸几奸Than rằng hỡi kẻ nghĩa trung. Nước nguy sao có nống lòng kẻ gian (Thiên Nam, 121a).

Cá biệt có trường hợp chữ mượn dùnglàm thành tố gốc lại là một chữ Nôm tự tạo, như:

·噒‹{F2>G2: khẩu lân: răn > 噒‹}. Lăn.假爫噒‹哭𠳿𡗶𤤰牢女負񠏊碎𢧚𢚸Giả làm lăn khóc vỉ [kêu van] trời. Vua sao nỡ phụ chúng tôi nên lòng (Thiên Nam, 120a).

Suy cho cùng thì tất cả các trường hợp đã kể ra trên đây, từ (a) đến (d) đều liên quan đến sự cải biến hình chữ được mượn để tạo chữ mới, chứ không riêng gì các chữ ở (d). Một cách tổng quát, có thể lập bảng sau đây:

Nhóm

Chỉnh âm

Chỉnh nghĩa

Chỉnh hình

Ví dụ

(a)

+

0

+

Tịch > Tiệc; Quả > 寡‹Góa

(b)

0

+

+

Lỗi > Lỗi; Điếm > 店‹Điếm.

(c)

+

+

+

Ý>񣛰 Ấy ; Manh > Mành

(d)

0

0

+

Tổn > Tổn; Nguy > Nguy


Qua bảng trên đây, ta thấy rằng kiểu lọai (c) đáp ứng đầy đủ các chức năng (và chiếm phân lượng lớn nhất trong toàn bộ những cứ liệu thực tế thu thập được). Lại thấy rằng chức năng “chỉnh hình”, tức cải biến hình chữ để tạo chữ Nôm mới là chức năng được tất cả các kiểu loại đáp ứng. Như vậy, chức năng nổi trội bao quát cho tất cả chữ Nôm mang dấu phụ “cá” và “nháy” là cải biến hình thể của chữ, để phân biệt với chữ gốc trước hết là trên mặt chữ. Còn chức năng “chỉnh âm” và “chỉnh nghĩa” là những chức năng cụ thể của từng chữ một trong các văn cảnh khác nhau.

Không có gì phải bàn cãi khi chúng ta coi tất cả các chữ Nôm với dấu “cá” hoặc dấu “nháy” như trên đây là chữ Nôm tự tạo. Cũng khó lòng xếp chúng vào các loại chữ Nôm ghép hai thành tố kiểu Hội ý, Hội âm hay Hình thanh được, vì như đã thấy, dấu “cá” hoặc “nháy” trong các chữ đó chỉ là “dấu phụ” (như GS. Hoàng Xuân Hãn đã gọi thế), không hề biểu âm hay biểu ý (mà đó là chức năng bắt buộc phải có đối với các thành tố trong chữ Nôm ghép). Vậy có nên chăng lập ra một loại mới là loại chữ Nôm có cấu trúc “phụ gia”, không thuộc chữ ghép mà cũng không thuộc chữ đơn (tương tự như từ “phụ gia” có mang suffix “hậu tố”), nằm giữa hai loại đó (xem: [1], 1985, tr.52). Đây là một cách xử lý ít nhiều có cơ sở, nhưng có phần xa lạ với truyền thống lưỡng phân chữ đơn - chữ ghép đối với các hệ văn tự ô vuông biểu âm biểu ý như chữ Hán, chữ Nôm. Bởi vậy chúng tôi có xu hướng muốn quy các chữ Nôm tự tạo mang dấu “nháy” hoặc “cá” vào loại chữ đơn. Tính chất chung của loại chữ Nôm đơn này (chúng tôi gọi là loại G) là: trên cơ sở một chữ gốc mượn dùng (không cứ là loại C1, mà cả A1, A2, F1, F2 v.v.), thực hiện gia công cải biến hình chữ theo hai hướng: (G1) Giảm bớt nét bút (như “náo” > nào, “y” > 𧘇ấy,“một” > 𠬠, v.v… (G2) Hoặc là gia thêm nét bút vào chữ gốc (như “nữ” > 𡚦đĩ). Trong các tác phẩm Nôm có nhiều chữ đĩ khác nhau (như: 𡞖𡜤𡛜), riêng chữ 𡚦thì chúng tôi đã “mục sở thị” trong một cuốn Nguyễn tộc gia phả ở Nghệ An và trong Quế Đường thi tập của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Giờ đây, chúng ta có thể bổ sung vào nhóm G2 tất cả các chữ Nôm mang dấu “nháy” và tiền thân của nó là dấu “cá”.

Có lẽ cần xem xét thêm về chỗ giống nhau và chỗ khác biệt giữa chữ 𡚦đĩ với những chữ Nôm mang dấu “cá” hoặc “nháy”. Điểm giống nhau duy nhất giữa chúng là 𡚦đĩ cũng được tạo bởi một chữ gốc có trước rồi gia thêm một dấu phụ vào để có một chữ mới. Thế nhưng, với 𡚦đĩ ta có một chữ Nôm mà âm, hình, nghĩa đều ổn định trong mọi văn cảnh. Đó là một chữ mà theo phép Lục thư của Hứa Thận thì thuộc vào loại chữ đơn chỉ sự, cũng tương tự như chữ “mạt” (‘ngọn cây’- chữ “mộc” gia thêm nét ngang bên trên “cành lá”) và chữ “bổn” (‘gốc cây’ - chữ “mộc” gia thêm nét ngang bên dưới “cành lá”). Trong khi đó thì những chữ Nôm mang dấu phụ “cá” và “nháy” thì không có được sự ổn định như vậy, mà viết, đọc và hiểu chúng là rất linh hoạt và bất thường. Chính vì vậy mà cố đưa thật nhiều những chữ loại có “dấu phụ” này vào tự điển, cho dù là “đại tự điển” chữ Nôm, là việc làm tốn công mà không có mấy ý nghĩa.

Mong rằng những điều vừa trình bày trên đây sẽ làm sáng tỏ hơn những gợi ý xác đáng ban đầu của GS. Hoàng Xuân Hãn (như đã trích dẫn ở trên) và có thể góp phần điều chỉnh những cách giải thuyết chưa thật thỏa đáng đã có ở nhiều tác giả sau này về những hiện tượng chữ Nôm mang “cá” và “nháy”.

TƯ LIỆU CHỮ NÔM

1.Bách vịnh - Khâm định Thăng bình bách vịnh tập 欽定昇平百詠集. Tập thơ Nôm [của Trịnh Tùng 鄭松 (?-1623)]. Bình An Vương平安王ngự đề. Bản chép tay, 33 trang. Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm: (VNCHN) AB.587.

2.Chinh phụ - Chinh phụ ngâm bị lục.征婦吟備錄. Nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn 鄧陳琨(?-?), Đoàn Thị Điểm 段氏點(1705-1748) [có thuyết nói Phan Huy Ích (1751-1822)] diễn âm Nôm, thể “song thất lục bát”. Bản in theo ván khắc năm Thành Thái Nhâm Dần (1902), của nhà tàng bản Long Hòa. Gồm 65tr. VNCHN: AB.26 (trong sách Danh gia quốc âm名家國音).

3.Cư trần - Cư trần lạc đạo phú居塵樂道賦của Trần Nhân Tông 陳仁宗(Trần Khâm陳欽: 1278-1293). Văn vần biền ngẫu. Trong sách Thiền tông bản hạnh禪宗本行 (từ tr.22a đến tr.29b), khắc ván in tại chùa Liên Hoa (Liên Phái) năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745). Bản photocopy trong công trình của Hoàng Xuân Hãn: Văn Nôm & chữ Nôm thời Trần Lê. Tập san Khoa học xã hội, N.6, Paris, 1978.

4.Dương Từ - Dương Từ - Hà Mậu 楊慈何茂. Truyện thơ Nôm thể “lục bát” của Nguyễn Đình Chiểu阮廷炤 (1822-1888). Bản photocopy từ một bản chép tay, gồm 96tr. VNCHN: Nc.85.

5.Ngọc âm - Trùng san chỉ nam bị loại các bộ dã đàm đại toàn重刊指南備類各部野譚大全, thường gọi là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa指南玉音解義(theo trang ghi Mục lục). Chưa rõ soạn giả. Bản in theo ván khắc năm Tân Tỵ (?), gồm 164tr. (Tựa, Mục lục 6 tr. & Chính văn từ tr.1a-79b). Văn vần thể “lục bát”. VNCHN: AB.372.

6.Nguyễn tộc - Gia phả họ Nguyễn Minh tại Hà Tĩnh. 太安村阮明族家譜本. Bản gia phả của họ tộc Nguyễn Minh ở thôn Yên Thái, tỉnh Hà Tĩnh. Văn bản chép tay từ năm Khải Định thứ 9 (1924), gồm 34 tờ (68 tr.). (Tư liệu do Trần Thị Xuân, sinh viên ngành Hán Nôm, Đại học KHXH và Nhân văn, Hà Nội cung cấp).

7.Nha phiến - Tế nha phiến văn 祭鴉片文. Bài văn tế chữ Nôm về tệ nạn thuốc phiện. Văn bản khắc in, không rõ niên đại (có thể vào đời vua Thành Thái). Gồm 5 tờ (1a-5b). VNCHN: AB.57.

8.Phật thuyết - Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh 佛說大報父母恩重經 (Kinh này Bụt thốt cả trả ơn áng nạ cực nặng 經尼孛說垰把恩盎那極曩). Nguyên tác Hán văn dịch Nôm, văn xuôi. Không rõ soạn giả. Bản photocopy từ một văn bản in khắc ván (từ tr.2a đến 47a), lưu trữ tại Thư viện Hiệp hội Á châu Paris. VNCHN: VHc.125.

9.Quế Sơn - Quế Sơn thi tập 桂山詩集. Tập thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Khuyến (1835-1909), tên hiệu Quế Sơn, người làng Yên Đổ tỉnh Hà Nam. Sách chép tay, gồm 45 tờ (tr.1a-45b). VNCHN: VHv.2154.

10.Sô Nghiêu - Sô Nghiêu đối thoại芻蕘對話. Lạc An cư sĩ樂安居士soạn. Thơ đối đáp thể “lục bát” và Đường luật. Bản in theo ván khắc năm Cảnh Hưng thứ 41 (1870), gồm 48 tr. VNCHN: AB.469 (Sách đóng chung với Kính phụng Táo thần diễn ca).

11.Thánh giáo - Thiên chúa thánh giáo khải mông 天主聖教. Tác phẩm truyền giáo của giáo sĩ người Ý Jeronimo Maiorica (1591-1656), được sao chép sau đó ít lâu. Toàn văn chữ Nôm, gồm 158 trang. Bản photcopy từ nguyên bản hiện lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp, Paris, ký hiệu “Vietnamin - B6”. Tư liệu do đồng nghiệp cung cấp.

12.Thi kinh - Thi kinh giải âm詩經解音. Văn bản song hành nguyên văn chữ Hán và lời dịch chữ Nôm theo câu văn xuôi. Chưa rõ dịch giả là ai. Bản in theo ván khắc năm Vĩnh Thịnh 10 thứ (1714) của nhà Kế Thiện Đường. Chỉ còn 8 quyển, khuyết 2 quyển cuối. Sách lưu tại Viện Văn học: HN.527 (Q.I & II), HN.528 (Q.III & IV), HN.529 (Q.V & VI), HN.530 (Q.VII & VIII).

13.Thiên Nam- Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ天南語綠外紀. Bản viết tay, 280 tr. (chính văn 260 tr., từ tr.1a-130b). Văn vần thể “lục bát”. Chưa rõ soạn giả. Sách được viết ra vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. VNCHN: AB.478 / 1-2.

14.Thiền tịch - Thiền tịch phú 禪寂賦. Bài phú Nôm về cảnh thiền của hòa thượng Tuệ Đăng慧燈, tự Chân Nguyên眞原(1653?-1734?). Trong sách Thiền tông bản hạnh 禪宗本行, khắc ván in tại chùa Vĩnh Nghiêm năm Bảo Đại thứ 7 (1932). VNCHN: AB.562.

15.Truyền kỳ - Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (Tân biên truyền kỳ mạn lục)新編傳奇漫錄增補解音集註 (新編傳奇漫錄). Gồm 20 truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam. Nguyên tác Hán văn của Nguyễn Dữ 阮嶼(thế kỷ XV), đời nhà Mạc. Dịch từng câu sang văn xuôi chữ Nôm (tương truyền do Nguyễn Thế Nghi 阮世儀(thế kỷ XVI) cùng thời Mạc Đăng Dung [1483-1541] thực hiện). Bản in theo ván khắc được coi là “gia bản” của Nguyễn Đình Lân 阮廷遴, thực hiện năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774), gồm 4 quyển. Sách lưu tại Thư viện Viện Văn học: HN.257 (Q.I & II), HN.258 (Q.III & IV).

16.Truyện Kiều - Kim Vân Kiều tân truyện金雲翹新傳. Truyện thơ Nôm thể “lục bát” của Nguyễn Du阮攸(1765-1820). Bản in theo ván khắc năm Tự Đức thứ 24 (1871) của Liễu Văn Đường tàng bản, gồm 138 tr. (1a-69b). Bản in chụp trong sách: Truyện Kiều - bản Nôm cổ nhất Liễu Văn đường 1871. Nxb. Văn học, H. 2002, do Nguyễn Quảng Tuân soạn; cũng xem: Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều - bản Liễu Văn đường 1871 của Đào Thái Tôn. Nxb. KHXH, H. 2006.

17.Ức Trai - Quốc âm thi tập國音詩集. Tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi阮廌 (1380-1442). Là quyển 7 trong bộ Ức Trai di tập抑齋遺集卷之七. Nhà Phúc Khê Đường khắc ván năm Tự Đức thứ 21 (1868), 144 tr. VNCHN: Nv.5.

18.Vương Lăng - Vương Lăng phú 王陵賦. Bài phú Nôm về nhân vật Vương Lăng đời nhà Hán. Không rõ soạn giả (có thể là Nguyễn Hữu Chỉnh 阮友整). Bản in theo một ván khắc không rõ năm tháng. Gồm 5 tờ (1a-5a). VNCHN: AB.34.

19.Xuân Hương - Xuân Hương thi tập 春香詩集. Sưu tập thơ Nôm của Hồ Xuân Hương胡春香(?-?). Bản in theo ván khắc năm Khải Định Nhâm Tuất (1922) của nhà tàng bản Quan Văn Đường, có khắc kèm chữ Quốc ngữ, gồm 32 tr. (1b-16b).

20.Xut gia - Xut gia sa di quc âm thp gii出家沙彌國音十戒. Lân Giác sa di Như Như 麟角沙彌如如(?-?) dch Nôm, văn vn “lc bát”. Bn in theo ván khc ti chùa Sùng Phúc, ph Thưng Tín, năm Cnh Thnh th 5 (1797), 11 tr. VNCHN: AB.366.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] NguyÔn Tµi CÈn (víi sù céng t¸c cña N.V. Xtankevich). Mét sè vÊn ®ª vÒ ch÷ N«m. Nxb §¹i häc vµ Trung häc chuyªn nghiÖp, H. 1985.

[2] NguyÔn Tµi CÈn: Mét sè chøng tÝch vÒ ng«n ng÷, v¨n tù, v¨n hãa. Nxb. §¹i häc Quèc gia Hµ Néi, 2001.

[3] Hoµng Xu©n H·n: V¨n N«m vµ ch÷ N«m thêi TrÇn Lª. TËp san Khoa häc X· héi. Paris, sè 5 vµ 6, 1978.

[4] NguyễnQuang Hồng: Hiện tượng Nôm hóa các hình thể chữ Hán mượn vào văn bản tác phẩm Nôm. Trong sách “Nghiên cứu về chữ Nôm” (Kỷ yếu “Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm”, Huế, 6-2006). Nxb. KHXH, H. 2008.

[5] Nguyễn Quang Hồng: Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nxb. Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh, 2008.

[6] Nguyễn Tá Nhí: Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chư Nôm Việt. Nxb. KHXH, H. 1997.

[7]. Hứa Thận: Thuyết văn giải tự. 許慎 (). 說文解字》 (公元 100). 段玉裁 () . 上海古藉出版社 (1981), 1984./.

(Tạp chí Hán Nôm, số 6 (115) 2012; tr.3 - 11)

Nguyễn Quang Hồng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm