Hiểu thêm về khai quốc công thần Lê Lộng qua tấm bia mới phát hiện (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (94) 2009; Tr. 78-80)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (94) 2009; Tr. 78-80)
HIỂU THÊM VỀ KHAI QUỐC CÔNG THẦN LÊ LỘNG
QUA TẤM BIA MỚI PHÁT HIỆN
NGUYỄN VĂN THẮNG
Trường CĐ Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa
Mới đây, tại vùng đất Lam Sơn xưa đã phát hiện một tấm bia cổ có liên quan đến một “công thần khai quốc” thời Lê. Bia được ông Lê Văn Mừng người dân làng Như Áng, xã Kiên Thọ huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa tìm thấy khi đi phát ruộng trồng mía ở địa phận khu đất đồi thuộc làng Lam Sơn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. Bia đã được đưa về bảo quản tại Văn phòng nhà máy đường Lam Sơn trong tỉnh. Đây là văn bia vô cùng quý giá về một vị khai quốc công thần thời Lê. Vì vậy chúng tôi xin giới thiệu bia và nội dung văn bia này. Bia cao 1,30m, rộng 1,50cm, dầy 0,5cm. Bia không có trán mà tạo tác theo kiểu giá văn bằng gỗ có cắt hai góc phần trên bia tạo thành hình lục lăng. Đường diềm xung quanh bia chạm hoa văn hình sin tựa như dây cúc leo, có các đao xoắn ngược chiều nhau ở mỗi bán cung. Phần trán bia viết sáu chữ Triện: Thụy Cung Vũ chi thạch bi làm tên bia. Bia không ghi năm dựng nhưng loại bia này có cùng phong cách với bia Đại Việt Đường Vương chi mộ(1) thời Hồng Đức hiện dựng ở xã Thọ Minh huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Bia gồm hai mặt chữ. Toàn văn chữ Hán, khắc kiểu chữ Khải chân, 36 dòng, mỗi dòng từ 4 đến 19 chữ. Có một số chữ viết “đài” giống như các bia ở lăng vua Lê hiện dựng tại khu di tíchlịch sử Lam Kinh, huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. Văn bia do Nguyễn Trực,(2) đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), giữ chức Thủ Trung thư lệnh soạn.
Nộidung văn bia viết về thân thế, sự nghiệp của Lê Lộng. Ông là Khai quốc công thần thời Lê, đã từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và có nhiều công lao phò tá bốn triều vua Lê Thái Tổ - Lê Thái Tông - Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông.
Về nhân vật Lê Lộng, trong các bộ chính sử(3), hành trạng của ông được ghi quá ít ỏi, do đó qua nội dung văn bia góp thêm tư liệu quý giá về nhân vật lịch sử này. Xin giới thiệu toàn bộ nội dung văn bia này.
Nội dung bia như sau:
Phiên âm:
Thụy Cung Vũ chi thạch bi
Tặng: Suy trung Bảo chính công thần, Sùng tiến tổng nhung phủ, Nhập nội Kiểm hiệu Thái úy Bình chương sự, Thượng trụ quốc, tứ Kim ngư đại ngân phù, tứ quốc tính, thụy Cung Vũ thạch chí, Nhập nội Kiểm hiệu Đại đô đốc, Bình chương sự, Chưởng Nam đạo Đô đốc phủ Tả đô đốc, Lê công húy Lộng, Thanh Hóa trung lộ, Lương Giang huyện, Khả Lam hương nhân.
Khảo húy Miêu, [Trùm] quan lang, tỉ diệc tính Lê húy Lậu, sinh nam, nhị viết: Luyện, kỳ thứ Nhập nội Thiếu úy, hành Thanh Hóa phủ đô phủ quản. Công kỳ trường dã. Ư Bính Tý niên sinh, ký trưởng tòng Cao Hoàng đế khởi nghĩa sư.
Thuận Thiên nguyên niên Mậu Thân sắc thụ Đại tướng đồng quản lĩnh Hưng Nghĩa quân, Quan Nội hầu, lịch Thiên Uy quân quản lĩnh, thăng Lạng Sơn trấn Đồng tri vệ chư quân sự, hậu trừ bản trấn Tuyên úy sứ, Vị cơ thăng đại sứ.
Kỷ Mùi triệu hoàn thụ Đồng tổng quản Kim Ngô vệ chư quân sự. Canh Thân chuyển Quy Hóa vệtiến trật Tổng quản. Canh Ngọ thụ Phụng tuyên sứ hành quân Tổng quản Kim Ngô vệ chư quân sự Tân Bình, Thuận Hóa phủ. Đô phủ quản tri quân dân sự tầm, thăng Nhập nội Thiếu úy.
Quý Dậu, nhập triều dĩ bản quan nhậm Hạ Hồng vệ, Giáp Tuất cải Hạ Nam Sách vệ. Bính Tý tiến Thiêm tri chính sự hành quân tổng quản, Bổng Thánh vệ chư quân sự. Canh Thìn thăng nhập nội Đô đốc Đồng bình chương sự, Hành quân tổng quản Hạ Nam Sách vệ chư quân sự.
Canh Thìn thất nguyệt dĩ bản quan Thiêm tri Đông đạo chư vệ quân sự. Bát nguyệt thăng Nhập nội Đô đốc bình chương sự, Đồng đô tổng quản Nam vệ chư vệ quân sự.
Quang Thuận lục niên Ất Dậu lục nguyệt thăng, Nhập nội [hết mặt 1] Kiểm hiệu Đại đô đốc, Bình chương sự; nhưng chưởng Nam đạo Đô đốc phủ, Tả Đô đốc, Thượng Trí tự tước, tự Quan nội hầu lũy gia chíHuyện thượng hầu, viết Thượng Trí tự tòng kim chếkỳ niên. Cửu nguyệt nhị thập tam nhật, Đinh Mão hoăng ư Kinh sư chi đệ. Thập nhất nguyệt thập lục nhật Canh Thân táng vu kỳ lang chi hướng. Nguyên kỳ tẩm tật dã. Thượng mệnh trung sứ thị vấn danh y chẩn trị, cập kỳ dịch trách hựu mệnh họa công sái kỳ hình mạo, cấp tặng vật thậm hậu úy tế, truy tặng Tráng Nghi, tất y định chế, chuế triều tam nhật, chu quân hoàn kỳ táng.
Thê Huy nhân Lê Thị Lỗ, thiếp NguyễnThị Ngai, Lê Thị Kính, Lại thị Phong, tử nam Khắc Cần duệ kinh quân đồng quản lãnh Hy lật nhị cục, chính giám, giai tiên công suất kiến lộc hiếu cực nhị cục chính giám, Khắc Kiệm thượng ấu. Nữ cố Thị Dương, sơ thích Nhập nội Thiếu úy Lê Yết, hậu quy nguyên Đồng tri. Hoàng Hinh. Cố Thị Bình thích nguyên Chỉ huy Lê Vĩ, cố thị Ân thích đội trưởng thủ quân [Phá] Cao Thiểm, Thị Viện thích hương quan Lê Nhân Liệt, Thị Kỷ thích đồng tri Lê Nhữ Hồ.
Công chẩm chí quả quyết, lịch sự tứ triều phục lao vương gia xuất phiên, nhập vệ đông chinh tây phạt, sở hướng hữu công nhi phác hậu, kỳ tư kiệm ước tự xứ, cố năng thiện thủy nhược chung vân.
Nhâm Tuất khoa tứ Trạng nguyên thủ Trung thư lệnhNguyễn Trực chí.
Dịch nghĩa:
Bia đá ghi ông tên thụy là Cung Vũ
Tặng chức Suy Trung Bảo chính công thần, Sùng tiến tổng nhung phủ, Nhập nội Kiểm hiệu Thái úy Bình chương sự Thượng trụ quốc, ban kim ngư ngân phù, cho quốc tính, tên thụy là Cung Vũ, chép ghi vào đá. Ông họ Lê tên húy là Lộng người làng Khả Lam, huyệnLương Giang thuộc trung lộ Thanh Hóa(4), giữ chức Nhập nội Kiểm hiệu Đại đô đốc, Bình Chương sự, chưởng Nam đạo, Đô đốc phủ, Tả Đô đốc.
Cha húy là Miêu làm quan chức Quan lang. Mẹ cũng họ Lê tên húy là Lậu, sinh trai hai người, con trai thứ là Luyện giữ chức Nhập nội Thiếu úy, hành Thanh Hóa phủ, Đô Phủ quản.
[Ông là con trưởng] sinh năm Bính Tý (1396), đến lúc trưởng thành theo chủ soái Thái Tổ Cao Hoàng đế khởi nghĩa ở Lam Sơn. Năm Thuận Thiên thứ 1, tức năm Mậu Thân (1428) được sắc thụ Đại tướng Đồng quản lĩnh quân Hưng Nghĩa, tước Quan Nội hầu. Trải quản lĩnh quân Thiên Uy, thăng Lạng Sơn trấn Đồng tri vệ chư quân sự. Sau giữ chức Tuyên úy sứ bản trấn. Không lâu lại thăng Đại sứ.
Năm Kỷ Mùi (1439) được gọi về cho nhận chức Đồng Tổng quản vệ Kim Ngô.
Năm Canh Thân (1440) giữ chức Tổng quản vệ Qui Hóa.
Năm Canh Ngọ (1450) được nhận chức Phụng tuyên sứ Hành quân tổng quản, Kim Ngô vệ chư quân sự ở phủ Tân Bình và Thuận Hóa, Quản tri quân dân sự, thăng Nhập nội Thiếu úy.
Năm Quí Dậu (1453) được gọi về triều đảm nhiệm mệnh quan ở vệ Hạ Hồng.
Năm Giáp Tuất (1454) lại đổi quản lĩnh vệ Nam Sách Hạ.
Năm Bính Tý (1456) giữ chức Thiêm tri chính sự Hành quân Tổng quản vệ Bổngthánh.
Năm Canh Thìn (1460) thăng chức Nhập nội Đô đốc Đồng Bình chương sự, Hành quân tổng quản, Hạ Nam Sách vệ chư quân sự. Tháng 7 cùng năm giữ chức Bản quan Thiêm tri Đông đạo chư vệ quân sự. Tháng 8 lạithăng Nhập nội Đô đốc Bình chương sự, Đồng Đô đốc quản Nam vệ chư vệ quân sự.
Cuối tháng 6 năm Ất Dậu niên hiệu Quang Thuận thứ 6 (1465) thăng chức Nhập nội kiểm hiệu Đại Đô đốc Bình chương sự. Lại được thăng Chưởng Nam đạo Đô đốc phủ, Tả Đô đốc, tước Thượng Trí tự. Từ tước Quan Nội hầu nhiều lần gia phong đến Huyện Thượng hầu, rồi đến Thượng Trí tự.
Ngày Đinh Mão tức ngày 23 tháng 9 ông mất ở phủ đệ Kinh Sư, đến ngày Canh Thân tức ngày 16 tháng 11 táng ở làng quê.
Ông lúc còn tật bệnh trong cung, Hoàng Thượng lệnh cho các danh y đến bắt mạch chữa trị, đến lúc sắp mất lại được ban lệnh sai thợ vẽ một bức họa về hình mạo, triều đình cấp tặng lễ vật rất nhiều để lo việc tế cúng. Truy tặng các đồ y quan táng lễ đầy đủ, nghỉ thiết triều 3 ngày, sau đó đưa thuyền trở về quê hương an táng.
Vợ là Huy nhân Lê Thị Lỗ, các bà thiếp là Nguyễn Thị Ngai, Lê Thị Kính, Lại Thị Phong. Con trai cả là Khắc Cần, trải qua quân đội chức Đồng quản lĩnh Chính giám hai cục Hi Lật. Trước đây ông quản lãnh hai cục Kiến lộc, Hiếu Cực Chính giám. Con trai thứ là Khắc Kiệm còn nhỏ. Con gái Thị Dương ban đầu xuất giá lấy quan Nhập nội Thiếu úy Lê Yết sau tái giá với Hoàng Hinh, giữ chức Đồng tri. Thị Bình xuất giá lấy nguyên là quan Chỉ huy Lê Vĩ. Thị Ân lấy Đội trưởng thủ quân [Phá] Cao Thiểm; Thị Viện lấy quan người Lê Nhân trong làng Liệt; Thị Kỷ lấy Đồng tri Lê Nhữ Hồ.
Ông tính trầm lặng, mạnh mẽ nhưng quả quyết, làm quan trải bốn triều vua, một lòng cần lao phò tá nhà vua đánh đông dẹp tây thật có công lớn, một lòng son sắc trước sau, đáng nêu danh vậy.
Nguyễn Trựcđỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất (1442), giữ chức Trung Thư lệnh ghi chép.
*
Trên đây là nội dung văn bia vị Khai quốc công thần Lê Lộng.
Ngoài ra tại địa phương, hiện còn lưu giữ được một “bản khai sự tích”(5), ghi chép rất rõ về công cuộc bình định giặc Minh của ông cùng với các bậc khai quốc công thần khác trong 10 năm. Nội dung được dịch ra như sau:
Lê Lộng là người đóng góp rất nhiều trong mười năm bình định giặc Minh và là người có mặt rất sớm ngay từ những ngày đầu của hội thề Lũng Nhai. Năm Mậu Tuất (1418) ông đã tham gia đánh trận cùng Lê Lý, Lê Ngân và nhiều người khác đi trước vây hãm giặc ở đồn Lạc Thúy, chém được đầu giặc hơn nghìn thủ cấp, thu nhiều quân nhung khí giới.
Năm Canh Tý (1420) lại vâng lệnh cùng Lê Triện, Lê Vấn đánh giặc ở Mường Thôi quân giặc đại bại tan tác.
Năm Tân Sửu (1421) vâng lệnh cùng Lê Lễ, Lê Bí, Lê Xí… đánh giặc ở Úng Ải, giặc phần đông bị thất bại.
Năm Nhâm Dần (1422) vâng lệnh cùng Lê Lĩnh, Lê Hào… xông lên trước vây hãm trận giặc, chém được tướng giặc là Phùng Quý, bọn giặc hồn bay phách lạc đại bại.
Năm Quý Mão (1423), theo Bình Định Vương đem quân trở về Lam Sơn, lại được vua sai cùng Lê Bôi, Lê Khôi… đánh giặc ở các nơi: Khả Lưu, Chi Lăng, Trà Lân, Mã Yên, Bồ Lạp. Tướng giặc là Hoàng Phúc, Lý An, Phương Chính, Thôi Tụ sợ hãi thoát thân chạy trước, quân giặc đại bại tan tác, thu khí giới quân nhung rất nhiều.
Năm Giáp Thìn (1424) hiệp sức cùng Lê Nỗ, Lê Đa lĩnh binh đánh giặc ở cửa Khả Lưu, quân giặc đều chạy tán loạn đến Khoái Châu, Thượng Hồng, Kinh Bắc, Lạng Giang, Lạng Sơn… trên đường tháo chạy lại bị quân ta phục kích đánh cho đại bại, tan rã.
Năm Ất Tỵ (1425) theo vua vào Nghệ An, lại vâng lệnh cùng Lê Thụ, Lê Văn An đem quân đi đánh giặc ở Giang Ngạn để tạo thế công phá thành Tây Đô, lược định Trường An, Thiên Trường, Kiến Xương.
Năm Bính Ngọ (1426) cùng với Lê Ngân, Lê Quốc Hưng, đem binh đi đánh giặc ở Tốt Động, Ninh Kiều… chém được tướng giặc là Trần Hiệp, Lý Lượng và hơn năm vạn quân giặc. Giặc phần bị chém đầu, phần bị chết đuối, bắt sống hơn vạn quân, thu vũ khí quân nhung ngựa voi tiền bạc không biết bao nhiêu mà kể. Cùng trận chiến năm đó ông còn vâng lệnh cùng Lê Mưu men theo đường sông nhỏ, thẳng về thượng lưu công phá bọn giặc làm cho chúng bối rối không biết chaỵ vào đường nào.
Năm Đinh Mùi (1427) vâng mệnh cùng Lê Thụ, Lê Liệt lãnh tinh binh hơn vạn người, năm thớt voi, ngầm phục binh ở ải Chi Lăng đánh pháquân viện binh của giặc chém được đầu tướng giặc là Liễu Thăng, Lý Khánh cùng năm vạn thủ cấp, bắt sống Hoàng Phúc, Thôi Tụ, cùng khí giới voi ngựa không biết bao nhiêu mà kể…
Năm Mậu Thân (1428), vua luận công ban thưởng, ông được ban phẩm trật chức tước là: Khang Vũ hầu, vinh phong Suy trung Đồng đức Tĩnh nạn Kiệt tiết Tuyên lực công thần, gia tặng cho ngân thanh Vinh lộc đại phu, Tả xa kỵ vệ Đại tướng quân, Khai nội phủ Đô đốc, Thiếu bảo Khang Quốc công.
Như vậy từ những tài liệu vừa nêu trên phần nào cho chúng ta biết thêm về công trạng của vị khai quốc công thần triều Lê sơ. Mặc dù tài liệu quốc sử ghi chép ông là con trai của Lê Đa Mỹ có khác với tài liệu văn bia ghi chép cha ông là Miêu; nhưng những thông tin mà bia ký, bản khai sự tích ghi chép có thể khẳng định rằng ông là người có mặt ngay từ buổi đầu của khởi nghĩa Lam Sơn cũng như phụng sự vương triều Lê, trải qua bốn triều vua với nhiều chức vụ khác nhau mà đỉnh cao trên hoạn lộ là chức Bình chương quân quốc (Tể tướng), tước Thượng Trí tự, tặng phong Khang Quốc công. Tên tuổi của ông sẽ mãi ghi trong sử sách. Ông là tấm gương sáng về lòng trung trinh, cần lao, tận tâm, tận lực vì đất nước.
Chú thích:
1- Tức Mộ Đường Vương Cảo, Hoàng tử con trai thứ 4 của vua Lê Thánh Tông, tên hiệu là Đường Vương, tên húy là Cảo, mẹ là Tuyên TừHà Thị Dĩ.
2- Nguyễn Trực tên tự là Công Dĩnh, hiệu là Hu Liêu, người làng Bối Khê huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội). Ông thi đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442); là vị Trạng nguyên đầu tiên triều hậu Lê được ghi tên trong bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc tử giám). Vào đời vua Nhân Tông (1442-1459), Nguyễn Trực giữ chức Hàn lâm, Trực học sĩ. Đời vua Thánh Tông (1460-1497) Nguyễn Trực giữ chức Hàn lâm viện Thừa chỉ, Trung thư lệnh kiêm Tế tửu Quốc tử giám. Ông đã từng đi sứ phương Bắc và được sĩ phu Bắc quốc khen ngợi. Năm Quý Tỵ (1473) ông mất thọ 56 tuổi. Nhân dân thường lấy tên làng đặt cho tên ông gọi là Trạng nguyên Bối Khê. Các tác phẩm có: Bối Khê tập, Hu Liêu tập, Ngu Hành tập.
3- Đại Việt sử ký toàn thư; Viện Sử học, Nxb. KHXH, 1972, tập 3, chép niên hiệu Thiệu Bình thứ nhất (1434), Tuyên úy Lê Đồ - Lê Lộng không biết vỗ về chế ngự nên bị bọn Hoàng Nguyên Úy mang lòng oán hận. Ngoài ra sách còn lược ghi: Lê Lộng là con trai của Lê Đa Mỹ, vào tháng 12 niên hiệu Quang Thuận thứ 3 (1462) phong cho ông chức Đô đốc Bình Chương quân quốc trọng sự. Năm Hồng Đức thứ 10 (1479) mùa thu tháng 7, vua xuống chiếu thân chinh đi đánh giặc Ai Lao cất cử Phó tướng Lê Lộng đi đường châu Thuận Mỗi để bóp cổ họng, chặn lưng địch…
4- Nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
5- Hiện lưu giữ tại làng Thành Công, xã Thọ Vực, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Theo nội dung bản khai sự tích thì Lê Khắc Kiệm con trai thứ của Lê Lộng, làm quan dưới triều Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông, được giao cho giữ chức Bắc quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, hành Tổng quản trấn Nghệ An, quản Tri quân dân sự vụ, tước An Mỗ hầu, sau này về trí sĩ sống tại thôn Lao xã Tịnh Man (làng Thành Công xã Thọ Vực huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa), mất tại quê nhà. Nay mộ vẫn còn trên địa phận xã Thọ Vực, nhân dân gọi đó là Mả Quan.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (94) 2009; Tr. 78-80)