Sưu tầm, xử lý nguồn tài liệu Hán Nôm vùng Hoằng Hóa, Thanh Hóa (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr.74-81)
SƯU TẦM, XỬ LÝ NGUỒN TÀI LIỆU HÁN NÔM
VÙNG HOẰNG HÓA, THANH HÓA
LÊ VĂN TOAN
TS. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí minh
Do duyên phận với quê hương, thời gian qua tôi được Huyện ủy Hoằng Hóa, Thanh Hóa mời tham gia biên soạn cuốn sách Danh nhân văn hóa Hoằng Hóa tập I (từ khởi thủy đến đầu thế kỷ XX). Để biên soạn được bộ sách này phải sưu tầm nguồn tài liệu trong khoảng thời gian hơn nghìn năm dựng nước và giữ nước ở một vùng quê vốn là địa linh nhân kiệt, mà nguồn tài liệu này chủ yếu được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Đây là công việc quá phức tạp, khó khăn, nhưng nếu làm được thì kết quả mang lại sẽ là nhất cử lưỡng tiện. Một là góp phần quan trọng có tính quyết định cho việc biên soạn cuốn sách. Hai là, tập hợp được bộ sưu tập lớn tài liệu Hán Nôm về một vùng miền, làm phong phú nguồn tài liệu trong kho tàng di sản Hán Nôm ở Việt Nam góp phần nghiên cứu và phát huy truyền thống văn hóa Việt Nam.
Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu những kết quả đạt được trong sưu tầm, khảo cứu, giám định nguồn tài liệu Hán Nôm về vùng Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
Để đạt được mục đích nêu ra, Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Hoằng Hóa, Ban Biên soạn sách Danh nhân văn hóa Hoằng Hóa đã triển khai các đợt sưu tầm tài liệu rộng khắp trên 49 xã và thị trấn của huyện, huy động sức lực, trí tuệ của mọi cấp chính quyền và các tổ chức chính trị, xã hội cũng như sự hiểu biết, đóng góp công sức của nhân dân, các học giả trong và ngoài huyện; tổ chức khảo cứu các nguồn tư liệu trong dân gian, trong các viện nghiên cứu, đặc biệt là Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Sử học, Viện Văn học và các thư viện có liên quan, tất cả đều nhằm hướng đến mục tiêu tìm kiếm, nghiên cứu tối đa nguồn tư liệu giúp cho biên soạn tác phẩm danh nhân của một vùng miền đã và đang in nhiều dấu ấn trong lịch sử dân tộc. Nói là đầy đủ thì chưa thể, nhưng những gì tìm tòi, sưu tập được thể hiện qua 1.400 tài liệu chữ Hán và chữ Nôm viết về một vùng miền đã giúp cho Ban Biên soạn sách có cách nhìn tương đối toàn diện về địa lý, lịch sử, môi trường văn hóa, phong tục tập quán và sự xuất hiện của hơn 500 danh nhân của vùng quê Hoằng Hóa mà trước đây đã có thời gọi là giáp Cổ Đằng hay là Mỹ Hóa, Vi Hoa và được tụng xưng là "nhất thốn sơn hà nhất thốn kim" (một tấc non sông một tấc vàng).
Các bước triển khai được tiến hành cẩn trọng mà khâu đầu tiên trong công tác sưu tập các nguồn tài liệu về Hoằng Hóa là điều tra, khai thác các nguồn tài liệu. Song nếu không chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng ngay từ khâu đầu tiên này thì mọi việc sẽ gặp nhiều khó khăn vì tính phức tạp của nó do các nguồn tài liệu không phải có sẵn trong các tủ sách, mà chúng nằm rải rác trong nhân dân, nên phải có phương pháp từ cơ chế, chính sách đến động viên, huy động sức người, sức của rộng khắp và một sự hiểu biết về chuyên ngành khảo cứu văn bản nhất định mới sưu tập được.
Những biến thiên của lịch sử không cho phép những người sưu tầm, chỉnh lý nguồn tài liệu này tiến hành một cách tuỳ tiện, mò mẫm, gặp chăng hay chớ, trái lại phải điều tra một cách tỉ mỉ, nghiên cứu, khổ công. Phải đi sâu vào hoàn cảnh ra đời của từng tài liệu mà cân nhắc, đánh giá, dần dần cố gắng khôi phục dáng dấp ban đầu của tài liệu. Đó là nền tảng góp phần làm cho các nguồn tài liệu gắn lại hữu cơ khăng khít, từ tài liệu này có khả năng gợi mở tìm tòi những tài liệu khác, và như vậy việc sưu tập tài liệu sẽ thuận lợi hơn.
Tóm lại, việc nghiên cứu lịch sử các nguồn tài liệu về huyện Hoằng Hóa chính là giám định tài liệu bằng lịch sử - một phương pháp cần thiết trước khi chuyển sang các bước giám định bằng phương pháp lôgíc, bằng so sánh dị bản và cứ liệu ngôn ngữ học rồi tiến hành phân định và chú thích.
Phần tiếp theo sẽ trình bày rõ hơn, cụ thể hơn trên những nét khái quát về những kết quả đã làm. Ở phần này, chúng tôi trình bày, mô tả khái quát nguồn tư liệu viết về huyện Hoằng Hóa và có liên quan đến huyện Hoằng Hóa trên các bình diện sau:
1. Về nguồn tài liệu nguyên bản Hán Nôm viết về điều kiện tự nhiên, xã hội, văn sử nói chung đã sưu tập được trong các kho sách của các cơ quan nhà nước và tủ sách gia đình
Ngày nay và kể cả một thời gian dài sau này, chắc sẽ khó tổng kết đầy đủ có bao nhiêu tài liệu viết về điều kiện tự nhiên, xã hội và con người vùng đất Hoằng Hóa. Những gì sưu tập được trong kho tàng tư liệu thành văn ở các kho sách của các cơ quan nhà nước về nội dung trên, chủ yếu là 73 tài liệu với tổng số 14.069 trang. Qua khảo cứu có thể khẳng định rằng không phải tất cả các sách trên do các học giả trong nước viết riêng về Hoằng Hóa, hoặc sách của các học giả người Hoằng Hóa, viết ra không phải chỉ chuyên về điều kiện tự nhiên, xã hội, con người riêng Hoằng Hóa mà ở các vùng khác nhau trong nước hay là những vấn đề chính trị, những sáng tạo thơ văn gửi lại cho đời.
- Những sách của các học giả trong nước có những nội dung viết về vùng đất, con người Hoằng Hóa không phải là ít, đơn cử như:
+ Sách Ai vãn đối liên tập 哀輓對聯集của nhiều tác giả, sách gồm một bản viết tay, ký hiệu VHb.71, 132 trang của nhiều tác giả có viết về Nhữ Bá Sĩ, quê Cát Xuyên, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Nhữ Bá Sĩ còn xuất hiện nhiều trong các sách: Chư gia văn tập 諸家文集do nhiều tác giả biên soạn có phần trướng, văn bia do Nhữ Bá Sĩ biên soạn; sách Trướng đối tạp lục do nhiều tác giả soạn có nhiều bài thơ, biểu, tấu của Nhữ Bá Sĩ; sách Quảng ký tập thi văn lục 廣既集詩文錄do nhiều tác giả soạn trong đó có tập Phi điểu nguyên âm 飛鳥元音của Nhữ Bá Sĩ; hay sách Bi ký tạp biên 碑記雜編của nhiều tác giả biên soạn cũng có những bài của Nhữ Bá Sĩ như Du Thuận An hải môn, Khương Công Phụ sự trạng khảo 游順安海門, 姜公父事狀考.
+ Sách Lê triều khiếu vịnh thi tập 黎朝嘯詠詩集của Hà Nhậm Đại, sách có hai bản viết tay, ký hiệu A.315, 108 trang và VHv.1575, 87 trang, sách vốn được soạn vào khoảng năm 1590. Sách có nhiều bài thơ của Hà Nhậm Đại vịnh các nhân vật triều Lê, trong đó có bài vịnh về Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Triều, Hoằng Phong, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, là vị quan trung thần nổi tiếng triều Lê. Có nhiều sách còn viết về Lương Đắc Bằng như: Sách Nam sử 南史bản VHv.1873 và VHv.1874 đều chép về Lương Đắc Bằng dâng lên triều đình bản Trị bình thập tứ sách治平十四策; sách Thanh Hóa tỉnh địa dư chí 清化省地輿志 cũng chép về Lương Đắc Bằng sau khi đã chép về địa lý, lịch sử, điều kiện khí hậu, phong tục, thổ sản, thành trì, cổ tích, đền miếu và các đơn vị hành chính của Thanh Hóa.
+ Sách Toàn Việt thi lục 全越詩錄của Lê Quý Đôn, tổng tập thơ Việt Namgồm 2303 bài thơ của gần 200 tác giả thuộc các triều Lý, Trần, Hồ, Lê. Bản viết tay ký hiệu A.1262, 996 trang, quyển 22 có chép 15 bài thơ của Lưu Đình Chất, người làng Đông Khê, xã Quỳ Chử, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hoằng Định thứ 8 (1607) đời Lê Kính Tông. Bản A.3200 có chép bài thơ Hiến Tông Duệ Hoàng đế ban cho Đệ nhất giáp Tiến sĩ đỗ khoa thi năm Ất Mùi là Lương Đắc Bằng.
Ngay việc tìm hiểu về danh nhân Nguyễn Quỳnh (Trạng Quỳnh) ngoài những tư liệu đã công bố, chúng tôi cũng tìm thấy trong nhiều tài liệu Hán Nôm có ghi chép về Nguyễn Quỳnh mà cho đến nay còn ít người khảo cứu như sách Sự tích ông Trạng Quỳnh 事跡翁狀瓊gồm 4 bản in: VNb.57: 54 trang; VNv.172: 50 trang; AB.405: 54 trang; VNb.5: 52 trang. Ngoài ra, trong các sách như: Lịch triều danh phú 歷朝名賦, bản A.366: 202 trang; Nam thiên lịch đại tư lược sử南天歷代私略史, bản VHv.2480; Bản quốc ký sự 本國記事, bản viết tay, ký hiệu A.1788, 134 trang và bản ký hiệu A.989: 248 trang đều có chép những nội dung khác nhau về Nguyễn Quỳnh.
Và rất nhiều tác phẩm khác viết về Hoằng Hóa, Thanh Hóa trên nhiều bình diện như:
- 對聯雜錄Đối liên tạp lục. Tác giả: không ghi, bản viết tay, ký hiệu VNv.151, 108 trang, niên đại: đời Nguyễn.
- 海杏詩集 Hải hạnh thi tập. Tác giả: Lê Khắc Cẩn (sau đổi là Nghị), bản viết tay, ký hiệu A.466. (226 trang).
- 夢海文集 Mộng hải văn tập. Tác giả: không ghi, bản viết tay, ký hiệu VHv.98, 39 trang, niên đại: đời Nguyễn.
- 愚山詩文全集 Ngu Sơn thi văn toàn tập. Tác giả: Vũ Phạm Khải, Hai bản viết tay (14 tập, 18 quyển), ký hiệu: VHv.265/1-11, 13, 14, 1694 trang (thiếu tập 12 gồm quyển 15, 16). VHv.1792: Ngu Sơn văn tuyển, 128 trang (tập 12 gồm quyển 15, 16), niên đại: đời Nguyễn, v.v...
Đơn cử như vậy để thấy rằng, nguồn tài liệu Hán Nôm trong kho tàng di sản văn hóa thành văn ở nước ta vốn rất đa dạng, phức tạp, việc phân tích thành môn loại vốn không rõ ràng. Điều này đòi hỏi những người sưu tầm, giám định văn bản phải làm việc với tinh thần cẩn trọng, khoa học mới có thể chắt lọc được trong kho di sản phong phú, đa phức tạp ấy những gì cần thiết cho công tác nghiên cứu của mình.
- Những sách của các học giả quê Hoằng Hoá, Thanh Hóa.
Tác giả Nhữ Bá Sĩ, biên soạn các sách: Nguyên Lập Việt hành tạp thảo thi 元立粵行雜草詩, 2 bản viết tay, ký hiệu: VHv.100: 120 trang và A.1285: 56 trang. Đây là tập thơ Nhữ Bá Sĩ sáng tác trong thời gian đi sứ Trung Quốc vào khoảng năm 1832 và một số bài vịnh cảnh, cảm hoài, tế, tựa, v.v… Sách Việt sử tam bách vịnh 越史三百詠của Nhữ Bá Sĩ, 3 bản viết tay, 1 tựa, 1 mục lục: VHv.1774/1-2: 173 trang; VHv: 1778: 144 trang, A.137: 178 trang. Sách tập hợp 307 bài thơ vịnh các nhân vật lịch sử Việt Nam từ Kinh Dương Vương đến cuối đời Trần, gồm các vị vua chúa, hậu phi, trung thần nghĩa sĩ, liệt nữ, danh nho, danh tăng. Sách Phi điểu nguyên âm飛鳥元音, 3 bản viết tay, 2 tựa, 1 mục lục. Sách tập hợp thơ văn của Nhữ Bá Sĩ gồm các bài vịnh cảnh, hoa cỏ, xướng hoạ, tiễn tặng bạn bè; các bài hành, bài ký, trướng, truyện, hành trạng của Khương Công Phụ và những bài khảo về tổ tiên nhà Trần. Sách Nghi Am sơ định học thức 沂庵初定學式của Nhữ Bá Sĩ soạn sau khi cáo quan về quê mở trường dạy học lấy tên là Nghi Am. Sách gồm phương pháp giáo dục của trường Nghi Am như: sửa mình, đọc sách, thái độ chuyên cần học hành. Trong đó nổi bật là hai bức thư hỏi, trả lời về những điều còn tồn nghi trong phương pháp giáo dục. Sách Đạm Trai chủ nhân văn tập 澹齋主人文集có 1 bản viết tay, ký hiệu A.510, soạn vào đời Nguyễn (1851), gồm các bài chiếu, chế, biểu, luận do Nhữ Bá Sĩ hiệu Đạm Trai soạn. Các bài trong tập này dùng làm biểu mẫu khuôn phép cho người học. Nhữ Bá Sĩ còn viết nhiều sách khác như Đạm Trai áp tuyến tập 澹齋壓線集, Đạm Trai thi khóa 澹齋詩課hay Khương Công Phụ sự trạng khảo 姜公父事狀考, v.v…
Tác giả Lê Ôn Phủ tức Lê Bật Triệu quê làng Sen, Hoằng Phong, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, soạn nhiều sách được cháu trưởng là Quang biên tập lại, tiêu biểu là các sách: Liên Khê di tập 蓮溪詩集, tập hợp 155 bài thơ đọc, vịnh chơi hàng ngày khi tiên sinh đi ngao du sơn thủy và vui thú với bạn bè. Sách Nam hành tạp vịnh 南行雜詠gồm 62 bài thơ, một số bài ký đề vịnh phong cảnh, nhân vật trong suốt hành trình về Nam của Lê Bật Triệu. Lê Bật Triệu còn sáng tác một số tác phẩm khác như Hội triều trướng ký 會朝帳記, Hội triều hương tế văn會朝鄉祭文 và một số bài phú cũng như một số tác phẩm khác.
Tác giả Nguyễn Bá Nhạ, quê Hoằng Đạo, Hoằng Hóa, Thanh Hóa có biên soạn cuốn Nguyễn Bá Nhạ Hương thí văn 阮伯迓鄉試文tập hợp đầy đủ các bài kinh nghĩa, văn sách, thơ phú, biểu của Nguyễn Bá Nhạ làm trong kỳ thi Hương năm Thiệu Trị thứ 1 (1841). Ngoài ra còn có các bài đối sách của ông làm trong kỳ thi Đình năm Thiệu Trị thứ 3 (1843).
Tác giả Đỗ Xuân Cát, quê Nghĩa Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa biên soạn cuốn Hà phòng thuyết 河防說, phân tích về sự lợi hại của đê điều, hiệu quả của sự nghiệp đắp đê, khơi sông. Đỗ Xuân Cát là người biên tập cuốn sách Ký sự tân biên 紀事新編của Lương Huy Bích, quê Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Sách chép về các vấn đề quân sự như: đội ngũ, vũ khí, doanh trại, ám hiệu, tín hiệu, bày binh trận thế, chiến lược tình báo, hành quân,v.v…
Cuốn Hoằng Hóa phong vật 弘化風物, phát hiện tại Hoằng Hóa, đã thể hiện rõ tấm lòng sâu nặng và năng lực văn chương dồi dào mà tác giả dành cho vùng đất Hoằng Hóa. Đây là một tác phẩm có giá trị lịch sử và văn học rất đặc sắc viết về cảnh trí, địa lý lịch sử và danh nhân Hoằng Hóa.
Ngoài những tác giả nêu trên, ở Hoằng Hóa còn rất nhiều tác giả khác từng biên soạn nhiều sách có giá trị về văn hóa, sử học để lại cho đời như Ngô Cao Lãng quê Nguyệt Viên, Hoằng Hóa, Thanh Hóa có soạn sách Lịch triều tạp kỷ 歷朝雜紀và các sách Lê triều lịch khoa tiến sĩ đề danh ký 黎朝歷科進士題名記, Quốc triều xử trí Vạn Tượng sự nghi lục 國朝處置萬象事誼錄, Thanh Hóa dư đồ ký sự tích ký 清化輿圖事跡記, v.v… Tác giả Nguyễn Huy Kỷ, quê Yên Vực, Hoằng Hóa, Thanh Hóa soạn cuốn Thi thảo 詩草và nhiều tác giả khác như:
- 阮伯迓鄉試文Nguyễn Bá Nhạ Hương thí văn. Tác giả: Nguyễn Bá Nhạ, quê Hoằng Đạo, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, 1 bản viết tay, ký hiệu: VHv.2427: 75 trang, niên đại: 1843 trở về sau.
- 詩草Thi thảo. Tác giả: Nguyễn Huy Khởi, quê xã La Vực, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, 1 bản viết tay, ký hiệu: VHv.239: 58 trang, niên đại: 1838 đời Minh Mệnh.
2. Nguồn tài liệu nguyên bản Hán Nôm chủ yếu là hương ước, văn bia, gia phả, tộc phả, sắc phong, thần tích, thần sắc đã sưu tầm được trong nhân dân
Số lượng tài liệu sưu tầm được trong nhân dân với những nội dung trên tương đối phong phú, đa dạng. Với số lượng thống kê được gần 1.000 sắc phong, hơn 100 thần tích, thần sắc, 8 hương ước, 25 văn bia, 58 gia phả của các danh nhân cho thấy độ đa dạng, đa chủng loại của nó.
Nguồn tài liệu này khá phức tạp mà trước hết, là ở văn tự. Văn bia là loại chữ khắc trên đá nên ít có vấn đề. Thế nhưng, tính phức tạp lại nằm ở chỗ, do thời gian, do sự va chạm khi di chuyển, do binh hỏa của chiến tranh và cả do ý thức bảo tồn di sản lịch sử của con người vốn chưa được trau dồi và nâng cao nên có nhiều bia nhiều chữ bị mờ mòn, bị sứt mẻ không thể đoán ra được. Vì vậy, việc xác định niên đại, xác định nội dung, xác định người soạn, v.v… không phải là điều dễ làm.
Các loại hương ước, gia phả, sắc phong, thần tích, thần sắc thì đa phần đều viết tay.
Sắc phong của triều đình phần lớn còn nguyên vẹn nên việc xác định niên đại, nội dung không khó, như các sắc phong cho Bùi Khắc Nhất có tổng cộng 88 sắc phong đều nguyên bản, 14 sắc phong cho Nguyễn Xuân, 36 sắc phong cho Nguyễn Ngọc Huyền, 15 sắc phong cho Lê Trung Gian, 21 sắc phong cho Cao Tư, Cao Đăng Đệ, 17 sắc phong cho Thanh Nga, 11 sắc phong cho Lê Huy Phiên, v.v… đều còn nguyên bản và các dấu triện đều in rõ. Nhưng cũng có nhiều sắc phong không còn nguyên dạng nên có sắc phong không xác định được niên đại, có bản lại không xác định được nội dung phong cho ai, hoặc phong về vấn đề gì. Đây cũng là điều không có gì lạ đối với tình trạng văn bản Hán Nôm.
Đối với các văn bản thần tích, thần sắc lại thuộc một dạng khác. Đương nhiên, loại văn bản này không phải là bản in mà đều là bản chép tay. Song điều khó khăn hơn là ở chỗ tất cả các bản thần tích, thần sắc như: Thanh Hóa tỉnh, Hoằng Hóa phủ thần tích, thần sắc; Thanh Hóa tỉnh, Hoằng Hóa huyện, Dương Thủy tổng, Phú Khê xã thần tích, thần sắc; Thanh Hóa tỉnh, Hoằng Hóa phủ, Hành Vĩ tổng, Bột Hưng xã thần tích, thần sắc; v.v… đều là các bản chép tay sao lại, khó xác định được bản gốc, nên việc chép sai, chép thiếu là việc không thể không xảy ra. Điều này gây khó khăn nhiều cho việc hiệu khám văn bản cũng như thẩm định nội dung của các thần tích, thần sắc.
Nội dung của thần tích, thần sắc cũng đa dạng, phong phú. Đơn cử một số ví dụ:
- Thần tích, thần sắc 3 làng Đằng Xá, Đằng Trung, Đằng Cao, tổng Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa có kể sự tích hai vị thần cùng mẹ sinh ra, chị là Nguyễn Thị Hồng, em là Nguyễn Vy cùng sinh giờ Thìn, ngày 7 tháng 1 năm Mậu Dần, cùng mất ngày 21 tháng 12, cùng hiển linh ngày 10 tháng 5 giúp vua Lý Thái Tông phá tan giặc Chiêm Thành, được vua Lý sắc phong cho làm Thượng đẳng tối linh. Hiện nay, đền thờ thần vẫn còn tại 3 xã trên.
- Thần tích, thần sắc làng Cay, tổng Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa kể về vị thần Lê Thị Bường, mất ngày 2 tháng 3 năm Ất Hợi triều Lê. Thần đã có công giúp nhà Lê đánh tan nhà Mạc nên được vua nhà Lê phong chức Thiếu bảo Hải Quận công, cho lập đền thờ ở làng để tưởng nhớ công lao. Các triều vua sau của nhà Lê lần lượt phong 9 đạo sắc cho vị thần này.
- Thần tích, thần sắc làng Dư Khánh, tổng Bút Sơn, Hoằng Hóa, Thanh Hóa kể về vị nhân thần Lê Văn Quế từng làm Phó vệ úy theo hầu vua Lê Huyền Tôn đánh nhà Mạc. Huyền Tôn mất, Hy Tôn lên thay ngôi vua, ông lại giúp Hy Tôn nhiều lần đánh tan quân Mạc, từng được phong chức Đông chinh Đại tướng quân. Trong một trận đánh nhau với nhà Mạc, ông bị bắt, nhà Mạc dụ ông về làm quan nhà Mạc nhưng ông không theo, bị chém chết. Vua thương tiếc, cho lập mộ an táng chu đáo, sau này được phong thần thờ cúng ở làng. Và rất nhiều thần tích, thần sắc khác như:
- 清化省弘化府慈光縂月圓社神跡神敕. Thanh Hóa tỉnh, Hoằng Hóa phủ, Từ Quang tổng, Nguyệt Viên xã thần tích, thần sắc, ký hiệu: TTTS.15468, H. 1995.
- 清化省弘化府沛澤縂化祿社神跡神敕Thanh Hóa tỉnh, Hoằng Hóa phủ, Bái Trạch tổng, Hóa Lộc xã, thần tích thần sắc, ký hiệu: TTTS.18346, H. 1995.
Có thể khẳng định rằng, tất cả các thần tích, thần sắc đều có cách chép giống nhau về bố cục, cách thức. Mỗi sắc phong đều kể về sự tích một vị thần, một vùng đất, v.v… có công giúp dân, giúp nước trừ thiên tai, địch họa, trên cơ sở đó được người dân trong vùng tôn trọng, được vua chúa ghi công ban sắc phong thần.
Về gia phả, tộc phả, trong quá trình làm việc, chúng tôi đã sưu tầm được hàng trăm văn bản với nhiều dòng họ khác nhau trong huyện Hoằng Hóa. Đơn cử như:
- 阮椿家譜 Nguyễn Xuân gia phả, 20 trang.
- 鄭族家譜Trịnh tộc gia phả, 50 trang.
- 黎俊堅家譜 Lê Tuấn Kiên gia phả, 32 trang.
- 阮玉玄家譜 Nguyễn Ngọc Huyền gia phả, 72 trang.
- 黎玉赤家譜Lê Ngọc Xích gia phả, 68 trang.
- 黎曰造家譜 Lê Viết Tạo gia phả, 33 trang.
Đây là loại hình tài liệu đa phần là chép tay, những bản in chỉ là một hai phần trong muôn nghìn bản. Là loại hình gia phả, tộc phả nên đối với bản in thì còn dễ xác định bản gốc, còn đối với các bản chép tay, nhiều bản quên chép cả niên đại hoặc người soạn, người chép nên việc xác định bản gốc là việc làm quá khó, đối với một số trường hợp có thể nói là không thể xác định được. Điều này sẽ dẫn đến một hệ quả là độ chính xác về nội dung có thể khẳng định là không đảm bảo hoàn toàn. Vì biết đâu khi sao chép có khả năng thêm, bớt do nhiều nguyên nhân vô tình hay hữu ý, cũng có thể do quá tự tôn, quá đề cao một nhân vật, một vấn đề nào đó trong họ hàng, trong gia đình mà xa rời nguyên tắc của biên soạn gia phả, tộc phả là phải ghi chép đúng sự thực lịch sử.
3. Nguồn tài liệu Hán Nôm đã được biên dịch, công bố từ trước tới nay và những nguồn tài liệu khác
Về loại tài liệu này, chúng tôi chủ yếu khảo sát những gì có liên quan đến việc biên tập bộ sách. Tuy vậy, số lượng tài liệu cần bao quát, tham khảo cũng có đến hàng trăm tập (chúng tôi có thống kê đầy đủ ở phần tài liệu tham khảo của bộ sách này). Điều chúng tôi quan tâm nhất ở phần tài liệu này là lựa chọn những tác phẩm nghiêng về các nội dung lịch sử, địa chí, văn vật, văn học, văn hoá, giáo dục; các tài liệu về phương pháp luận, các tài liệu công cụ giúp cho việc tra cứu, tham báo.
Tóm lại, lịch sử lâu dài đầy biến động của đất nước nói chung và vùng quê Hoằng Hóa nói riêng cũng như công tác in ấn, sao chép, lưu giữ văn bản và quá trình truyền bản tư liệu như đã trình bày ở trên đặt ra cho chúng ta không ít điều cần suy nghĩ. Vấn đề cụ thể mà chúng tôi, những người soạn sách và bạn đọc chờ đợi hẳn là từ thực tế nguồn tài liệu đã tìm thấy cố gắng sắp xếp, đánh giá, chọn lọc, tổ chức biên dịch tạo thành nguồn tài liệu cốt lõi để biên soạn bộ sách Danh nhân văn hóa Hoằng Hóa, tập 1. Và mục đích thứ hai là sưu tập bộ tài liệu Hán Nôm về vùng miền Hoằng Hóa đặt lưu tại thư viện huyện Hoằng Hóa và kho lưu trữ Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Hoằng Hóa giúp cho bạn đọc nghiên cứu, tham khảo.
Chúng tôi nghĩ, biên soạn được một bộ sách danh nhân về một vùng miền là rất quý. Nhưng với tư cách là người trân trọng nghiên cứu văn hóa dân tộc thì việc sưu tập được nguồn tư liệu Hán Nôm về một vùng miền còn quý giá hơn. Việc sưu tầm tài liệu Hán Nôm về vùng miền của Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Hoằng Hóa và Ban Biên soạn sách rất đáng được rút kinh nghiệm và nhân lên ở những vùng miền khác./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr.74-81)