VI | EN
Thêm một văn bia thời Trần do sử gia Hồ Tông Thốc soạn (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.78 - 83)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.78 - 83)

THÊM MỘT VĂN BIA THỜI TRẦN DO
SỬ GIA HỒ TÔNG THỐC SOẠN

NGUYỄN QUANG HÀ

Trung tâm Bảo tồn Khu di tích Cổ Loa - Thành Cổ Hà Nội

Tại chùa Phổ Thành, thôn Ngâm Điền Lương(1), xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh còn một tấm bia mang tên Phổ Thành tự bi có niên đại Vĩnh Tộ tam niên tuế thứ Tân Dậu, trọng hạ, cốc nhật do Vệ úy Thiên Nam Nguyễn Chuyết Phu soạn (nghĩa là: Người họ Nguyễn (vụng về) giữ chức Vệ úy tước Văn Thuận nam soạn, ngày tốt tháng 5 năm Tân Dậu niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 3 (1621)). Phần cuối có bài minh dài trong đó có đoạn:

"Phổ Thành tự lập.

Khai tịch nhân tiên.

Huyện danh Gia Định.

Xã hiệu Ngâm Điền.

Nguyên tiên Đại Trị.

Tu hậu Giáp Thìn.

Tạm dịch nghĩa:

Dựng chùa Phổ Thành.

Khai sửa nền nhân.

Huyện tên: Gia Định.

Xã gọi: Ngâm Điền.

Xây thời Đại Trị.

Sửa năm Giáp Thìn".

Như vậy tấm bia đầu thế kỷ XVII, Vĩnh Tộ thứ 3 (1621) đã cho chúng ta biết ngôi chùa này có từ đời Trần. Đại Trị là niên hiệu vua Trần Dụ Tông (1358-1369).

Nhưng liệu ở chùa này còn giữ được tư liệu thời Trần nào hay không. Thật may mắn, chúng tôi đã tìm thấy ở gian trái gác chuông một bia đá 2 mặt dẹt thanh thoát, cao 110cm, rộng 80cm. Mặt trước có dòng chữ triện Phổ Thành tự bi, trán bia mặt sau có khắc chữ “Phật”. Diềm bia trang trí rồng với các ô tròn, rồng đặc trưng thời Trần hiền hòa, uốn lượn mềm mại. Chữ viết gầy, thanh mảnh và hơi mờ. Phần lạc khoản ghi: "Đại Trị „ niên, tuế thứ Bính Ngọ thu, cửu nguyệt, ký vọng, Vinh lộc đại phu, Đình úy Thiếu khanh kiêm Thiên Trường phủ lộ An phủ sứ Hồ Tông Thốc (soạn)". Toàn bộ bài văn bia không có dấu hiệu của việc khắc lại hoặc khắc mới nào. Điều đó khẳng định đây là tấm bia được khắc vào đời Trần do một nhà sử học, văn học nổi tiếng cuối đời Trần là Hồ Tông Thốc (soạn). Vài dòng trên bia có chữ bị mờ không đọc được. Tuy nhiên những thông tin quan trọng chúng ta vẫn có thể khôi phục được. Chẳng hạn dòng thứ hai ghi Bắc Giang „. Ta biết ngay rằng chữ mất đó phải là chữ (lộ), bởi khi đó nhà Trần chia nước làm 12 lộ. Và dòng lạc khoản như đã nói ở trên bị mất một chữ nhưng ta có thể biết được đó là chữ (cửu). Bởi năm Bính Ngọ Đại Trị phải là năm Đại Trị thứ 9 (1366). Về đơn vị đo lường ruộng đất, chúng tôi thấy ghi là “Diện”. Theo Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ cũng như sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, “Diện” là đơn vị để tính tương đương như “mẫu” sau này(2). Như thế, tấm bia này thực sự là bia gốc có niên đại thời Trần chưa được phiên dịch công bố, mặc dù đã có thác bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu 4516-4517.

Tấm bia này được coi là tư liệu sớm nhất do Hồ Tông Thốc soạn mà cho đến nay chúng tôi biết được. Qua tấm bia, chúng ta biết được hành trạng của ông cụ thể hơn, cho thấy, con đường hoạn lộ của ông rất tuần tự, suôn sẻ giữ nhiều cương vị quan trọng. Văn bia có nhiều giá trị nghiên cứu(3),nên chúng tôi xin chép lại nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa như sau:

 

普成寺碑

東究山吟田鄉普成寺

北江„...(4)

... 觀者遠大„…...

其鄉大重修焉以是為...金像光明棟宇…††就緒視昔有加以††††††呼輿††黎范二氏無以壇越其善緣興寺恩能復見於今有況父能†已之將有田土許于興寺係其家祖光興佛其享于千載之†者乎見可謂看為善之心者矣然而†佛氏勸人為善謂之求福昔夫子勸人為善謂之自修而若以求福而為善福然求福得福而以為善而自修福不求而自至矣顧†††求福之說†嘉定縣篤信之心††及之以勉其自修云邇恩之爵氏具在輿文玆不†盡銘曰

山峙其東水環其北

無無乎田翹翹嘉植

猗歟黎范肇開厥城

爰聞招淺大悲院即

廢興之理莫知其極

誣暮繼之後人之職

乃勸鄉盧一心戮力

庇材鳩工載修載飭

正殿嵬峨用月萬工

不日成之滕前功德

佛氏勸人福日菩提

孰若自修聖經維則

千古斯言可能眾感

然寺如今監玆若刻

大治九年歲次丙午秋九月既望榮祿大夫廷尉少卿兼天長府路安撫使胡宗鷟撰

歲次丁未孟春†掌愛洲†奉御黎恩書...

一錄普成寺宅田土及每人施為三寶等具列于後

內宅貳面參高外詠宅壹所練謂肆高有餘官中丞令隊田壹所壹面參高(5)曾士††††††居士范沉冗田貳面伍高並其又寄忌臘貳頃...(6)††††††共田參高†福居士有碩婆施洗汾匝壹頃拾擔...錢二拾貫並玄德道士費厤蓮施錢二拾伍貫共計肆拾伍貫††††宅入寺宅內†宮德婆施印洞蓮壹頃黎榕...施洗田壹頃玖擔金車†闐書局書吏古首†††武氏向細施†福田壹頃參擔黎至並妻阮氏順†††後人田壹頃拾擔裸帽武咹賴并妻正信婆施即†田壹頃伍擔婦人范氏脫洗沉冗田壹頃拾伍擔居士并妻阮氏各施錢拾伍貫國子†書史令直首阮弟施錢參貫直信翁施即††中洞垠田壹頃黎高孝翁并順意婆施他厤即田壹頃伍擔

丙午年九月十七日吟社即次臘日正忌翁并婆順信婆施胡洞他厤難田壹頃壹高吟社參人日并††††吟社洞午吟田壹頃陸擔

 

Phiên âm:

Phổ Thành tự bi

Đông Cứu sơn, Ngâm Điền hương, Phổ Thành tự.

Bắc Giang † (7)

...(8) Quang giả, viễn đại ††(9) kỳ hương nhân trùng tu yên, dĩ thị vi... kim tượng quang minh, đống vũ ††† tựu tự thị tích hữu gia dĩ †††††† hô hứng …… Lê Phạm nhị thị vô dĩ đàn việt kỳ thiện duyên hưng tự. Ân bất năng phục kiến ư kim hữu huống phụ năng … dĩ chi tương hữu điền thổ hứa vu hưng tự, hệ kỳ gia tổ quang hưng. Phật kỳ hưởng vu thiên tải chi ‡ giả hồ. Kiến khả vị khan vi thiện chi tâm giả hĩ. Nhiên nhi ‡ phật thị khuyến nhân vi thiện vị chi cầu phúc. Tích Phu tử khuyến nhân vi thiện vị chi tự tu. Nhược dĩ cầu phúc nhi vi thiện phúc, nhiên cầu phúc đắc phúc nhi dĩ vi thiện nhi tự tu, phúc bất cầu nhi tự chí hĩ. Cố ‡‡ chưởng ‡ cầu phúc chi thuyết † Gia Định huyện đốc tín chi tâm ‡‡ cập chi dĩ miễn kỳ tự tu vân nhĩ. Ân chi tước thị cụ tại dư văn. Tư bất ‡ tận minh viết:

Sơn trĩ kỳ đông

Thủy hoàn kỳ bắc

Vô vô hô điền

Kiều kiều gia thực

Ỷ dư Lê Phạm

Triệu khai quyết thành

Viên văn bạt tiện

Đại bi viện tức

Quyết hưng chi lý

Mạc tri kỳ cực

Vu mộ kế chi

Hậu nhân chi thức

Nãi khuyến hương lư

Nhất tâm lục lực

Tý tài cưu công

Tải tu tải sức

Chính điện nguy nga

Dụng nguyệt vạn công

Bất nhật thành chi

Đằng tiền công đức

Phật thị khuyến nhân

Phúc nhật bồ đề

Thục nhược tự tu

Thánh kinh duy tắc

Thiên cổ tư ngôn

Khả năng chúng cảm

Nhiên tự như kim

Lâm tư nhược khắc.

Đại Trị cửu niên, tuế thứ Bính Ngọ, thu cửu nguyệt ký vọng, Vinh lộc đại phu, Đình úy Thiếu khanh kiêm Thiên Trường phủ lộ, An phủ sứ Hồ Tông Thốc soạn.

Tuế thứ Đinh Mùi mạnh xuân † chưởng Ái Châu † Phụng ngự Lê Ân Thư (...).

 

Mặt sau:

Nhất lục Phổ Thành tự trạch, điền thổ cập mỗi nhân thí vi tam bảo đẳng cụ liệt vu hậu.

Nội trạch nhị diện tam cao, ngoại vịnh trạch nhất sở. Gián vị tứ cao hữu dư. Quan trung thừa lệnh đội điền nhất sở nhất diện tam cao (...) tăng sĩ (...) cư sĩ Phạm Trầm Nhũng điền nhị diện ngũ cao tịnh kỳ hựu ký kỵ lạp nhị khoảnh. Tín (...) cộng điền tam cao † Phúc cư sĩ Hữu Thạc Bà thi tẩy phấn táp nhất khoảnh thập đảm (...) tiền nhị thập quan tính Huyền Đức Đạo sĩ Phí Ma Liên thi tiền nhị thập ngũ quan cộng kê tứ thập ngũ quan ††† Phạm Dung trạch nhập tự trạch nội ‡ cung đức Bà thi Ấn động liên nhất khoảnh, Lê Dung (...) thi tẩy điền nhất khoảng cửu đảm. Kim xa † điền thư cục thư lại cổ thủ † phụng †† Vũ Thị Hướng tế thi † phúc điền nhất khoảnh tam đám. Lê Chí tịnh thê Nguyễn Thị Thuận ††† hậu nhân điền nhất khoảnh thập đảm. Khỏa Mạo Vũ Ăn Lại tịnh thê Chính tín Bà thi tức † điền nhất khoảnh ngũ đảm. Phụ nhân Phạm Thị Thoát tẩy trầm nhũng điền nhất khoảnh thập ngũ đảm. Cư sĩ tịnh thê Nguyễn Thị Các thi tiền thập ngũ quan, Quốc tử † Thư sử lệnh trực thủ Nguyễn đệ thi tiền tam quan. Trực tín Ông thi tức †† Trung động Ngăm Điền nhất khoảnh, Lê Cao Hiếu Ông tịnh Thuận Ý, Bà thi tha ma tức điền nhất khoảnh ngũ đảm.

Bính Ngọ niên cửu nguyệt, thập thất nhật, Ngâm xã tức thứ lạp nhật chính kị ông tịnh bà Thuận tín thi (hồ) động tha ma nan điền nhất khoảnh nhất cao. Ngâm xã tam nhân viết tịnh †††† Ngâm xã Động Ngõ Ngâm Điền nhất khoảnh lục đảm.

 

Tạm dịch nghĩa:

Phổ Thành bi ký

Chùa Phổ Thành, hương Ngâm Điền, núi Đông Cứu, lộ Bắc Giang...

(...) xem xét đã xa xôi...

Người trong thôn trùng tu vậy, lấy việc trang hoàng tượng vàng cho sáng sủa ...

Xưa có làm thêm để... kêu gọi dựng xây... Hai vị họ Lê, họ Phạm không thể không lấy việc đàn việt(10), lấy thiện duyên để xây dựng chùa. Huống hồ nay các cụ thân sinh ra họ đã đem ruộng đất để xây dựng chùa, để gia đình tổ tiên được rạng rỡ. Phật hưởng mãi mãi, có thể nói là làm được cái tâm thiện đấy. Thế nhưng nhà Phật lại khuyên con người ta làm việc thiện bảo là cầu phúc. Xưa Phu tử khuyên người ta làm việc thiện gọi là tự tu thân. Nếu lấy việc cầu phúc mà làm việc thiện, thì việc cầu phúc được phúc mà lấy việc làm thiện mà tự tu, phúc không cầu mà tự đến đấy. Cho nên nói việc cầu phúc là dốc lòng làm theo cái tâm và lấy việc khuyên người ta tự tu thân. Tước lộc, ân đức của (hai bà) đều ở bài văn này. Nay không thể nói hết.

Minh rằng:

Núi cao phía đông

Sông vòng đằng Bắc(11)

Mênh mông ruộng đồng

Xanh rờn cây cối

Ô hô ! hai vị

Xây móng đặt nền

Thấy việc tu tạo

Hết lòng từ bi

Cái lẽ hưng vong

Không biết cùng cực

Hâm mộ nối tiếp

Người sau biết cho

Bèn khuyên hương ấp

Một lòng khắc ghi

Góp công góp của

Sửa chữa trang hoàng

Chính điện nguy nga

Ngàn công vạn tháng

Chẳng mấy đã thành

Công đức rạng rỡ

Khuyến khích mọi người

Ngày phúc Bồ đề

Nếu ai tự tu

Thánh Kinh làm phép

Muôn năm lời này

Khả năng cảm thấu

Nên chùa như nay

Bia này được khắc

Ngày ký vọng (16) tháng 9 mùa thu năm Bính Ngọ niên hiệu Đại Trị thứ 9 (1366).

Vinh Lộc đại phu, Đình úy Thiên Trường phủ lộ Thiếu khanh kiêm, An phủ sứ Hồ Tông Thốc (soạn).

Đầu mùa xuân năm Đinh Mùi (1367) người Ái Châu(12) là Lê Ân kính cẩn viết.

 

Mặt sau:

Ruộng đất chùa Phổ Thành và mỗi người tín thí tam bảo xin kê đủ như sau:

Ruộng trong vườn nhà hai mẫu ba sào, ngoài Vịnh Trạch, một nơi nữa tổng cộng là hơn bốn sào.

Ruộng quan Trung Thừa lệnh đội có một mẫu ba sào (...). Cư sĩ Phạm Trầm Nhũng, có hai mẫu năm sào và lại gửi ruộng giỗ chạp hai khoảnh (...) tổng cộng là ba sào ruộng (...). Cư sĩ Hữu Thạc, Bà Thi Tẩy Phấn có một khoảnh mười (...)(13) hai mươi quan tiền và Huyền Đức Đạo sĩ Phí Ma Liên tín thí hai mươi lăm quan, tổng cộng là bốn lăm quan tiền. Ruộng đất của (họ) Phạm cung tiến vào đất chùa, cung Đức Bà tức là ruộng Đông Liên một khoảnh, Lê Dung một khoảnh ruộng chín gánh. Kim xa … điền Thư cục, Thư sử cổ thủ … (...) Vũ Thị Hướng cúng một khoảnh ruộng ba gánh. Lê Chí và vợ là Nguyễn Thị Thuận (...) người sau cúng một khoảnh mười gánh, Khỏa Mạo Vũ Ăn Lại và vợ Chính tín Bà Thi cúng một khoảnh năm gánh. Vợ người họ Phạm là Thoát Tẩy Trầm Nhũng cúng một khoảnh mười lăm gánh. Cư sĩ và vợ là Nguyễn Thị Các cúng mười lăm quan tiền. Quốc tử giám (?), Thư lại lệnh trực thủ Nguyễn Đệ cúng ba quan tiền. Trực tín ông thi tức Trung Động Ngăm cúng một khoảnh ruộng, ông Lê Cao Hiếu và bà Thuận Ý cúng một khoảnh năm gánh ở tha ma.

Ngày 17, tháng 9, năm Bính Ngọ, ngày giỗ chính của ông và bà Thuận Tín, cúng hồ, ruộng bãi một khoảnh một sào, ba người xã Ngâm Điền là (...) một khoảnh ruộng sáu gánh./.

 

Chú thích:

(1) Tên gọi Ngâm Điền Lương (làng Ngâm Điền theo đạo Phật), để phân biệt với Ngâm Điền Giáo (Làng theo đạo Thiên Chúa giáo cùng xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Người dân ở đây khi phát âm từ “Ngâm” thường nói thành “Ngăm”, còn gọi tắt là Ngăm Lương, Ngăm Giáo, Lóng Ngăm. Thời Trần thuộc hương Ngâm Điền, nhưng có lẽ hương Ngâm Điền thời Trần bao gồm một khu vực rộng lớn nhiều so với làng Ngâm Điền, hay xã Lãng Ngâm ngày nay. Không biết thời Lê sơ (TK XV) đơn vị hành chính của Ngâm Điền như thế nào. Cho đến TK XVII gọi là xã Ngâm Điền thuộc huyện Gia Định (Bia Phổ Thành tự bi, niên đại 1621, số thác bản ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm (N004514-04515). Đến TK XVIII, xã Ngâm Điền vừa thuộc huyện Gia Định, phủ Thuận An (xem bia Ngâm Điền thị bi, Chính Hòa thứ 12 (1691) số N°04510 - 04511), Vĩnh Thịnh thứ 15 (1719) N°04512 - 04513. TK XIX, xã Ngâm Điền là một trong sáu xã thuộc tổng Đông Cứu, huyện Gia Định (từ năm Minh Mạng thứ 4 (1823) là huyện Gia Bình); xem Tên làng xã Việt Nam cuối TK XIX (thuộc Nghệ Tĩnh trở ra), Nxb. KHXH, H. 1981, tr.69-70.

(2) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ toàn thư, quyển V, kỷ nhà Trần, tờ 19b, bản dịch, Nxb. KHXH, tập II, tr.25 ghi “Giáp Dần {Nguyên Phong}, năm thứ 4 (1254), tháng 6, bán ruộng công, mỗi diện là 5 quan tiền (Bấy giờ gọi mẫu là diện) (Nguyên văn: (…) thời vị mẫu vi diện”)

(3) Chúng tôi đã khảo cứu các sách xuất bản về các tư liệu thời Lý - Trần như: Thơ văn Lý - Trần (Do UBKHXH chủ trì), Nxb. KHXH. H. 1977-1978, và nhiều tập chuyên khảo gần đây chưa thấy đề cập đến văn bản văn bia này. Thư mục văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Trịnh Khắc Mạnh chủ biên (tập 3), Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2007, có giới thiệu văn bia này. Trong bài Về sử gia Hồ Tông Thốc, Tạp chí Xưa & Nay số 359, tháng 7/2010, tr.8-11, chúng tôi đã khảo cứu về con đường quan trường, các tư liệu và văn bản về Hồ Tông Thốc... ở bài này, chúng tôi sẽ không trình bày lại nữa.

(4) Lộ Bắc Giang thời Trần gồm: huyện Siêu Loại, Gia Lâm - Châu Gia Lâm, huyện Yên Định, huyện Gia Bình, huyện Tế Giang, huyện Lương Tài.

- Châu Vũ Ninh: huyện Tiên Du, Vũ Ninh, Đông Ngàn, Từ Sơn, Yên Phong.

- Châu Bắc Giang: huyện Tân Phúc, Phật Thệ, Yên Việt.

Huyện Yên Định: Nhất thống chí (Bắc Ninh) chép: Huyện Gia Bình là đất huyện Nam Bình, Nam Định xưa từ đời Trần về trước gọi là huyện Yên Định (Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. VH-TT, 2005, tr.134-135). Gần đây, có còn phát hiện thêm tư liệu văn bia đã bổ sung thêm những nhận thức mới về địa bàn Lộ Bắc Giang thời Trần (sau này là trấn Kinh Bắc) còn có thêm cả huyện Long Biên nữa. Bia Hưng Phúc tự bi phát hiện ở thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Lâm, Hưng Yên, được khẳng dịnh đây là văn bia thời Trần có ghi vào thời điểm xây dựng ngôi chùa này là năm 1351 thuộc huyện Long Biên, xứ Kinh Bắc. (Xem Phạm Thùy Vinh: Văn bia thời Trần chùa Hưng Phúc và địa danh hành chính huyện Long Biên, in trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học, 2003, tr.553-554).

(5) Văn bia mất khoảng 28 chữ.

(6) Văn bia mất khoảng 23 ch÷.

(7) Văn bia mất khoảng 14 chữ.

(8) Mờ khoảng 16 chữ.

(9) Mờ khoảng 14 chữ.

(10) Đàn việt: cũng như thuật ngữ đàn na là phiên âm tiếng Phạn có nghĩa là bố thí để chỉ những tín đồ đạo Phật khi làm bố thí thì sẽ vượt qua bể khổ.

(11) Núi ở đây là chỉ núi Đông Cứu, sông ở phía bắc là chỉ con sông Đuống - Lục Đầu giang.

(12) Ái Châu nay thuộc đất đai tỉnh Thanh Hóa.

(13) Gánh (đảm) là đơn vị khó định lượng để tính đơn vị ruộng đất. Lê Quý Đôn trong Vân đài loạn ngữ ghi: Nước Nam nhà về thời tiền triều làm sổ tu tri điền bạ, chưa định mẫu, sào, trượng, thước. Có người ở Kinh Bắc, xứ Hải Dương chia ruộng cho con cháu, cũng nói: ruộng một thước ở xứ này, được lúa là bao nhiêu gánh, chứ không nói là bao nhiêu mẫu, bao nhiêu sào (Vân đài loại ngữ, tập 3, Nxb. Văn hóa, Viện Văn học, 1961, tr.181-182.)./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.78 - 83)

Nguyễn Quang Hà
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm