Về một dị bản truyện Nôm Lâm Sanh tân thơ tìm được ở Tiền Giang (Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (104) 2011, Tr.73-80)
VỀ MỘT DỊ BẢN TRUYỆN NÔM LÂM SANH TÂN THƠ
TÌM ĐƯỢC Ở TIỀN GIANG
ThS. NGUYỄN ĐÔNG TRIỀU
Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐHKHXH&NV, Tp. HCM.
I. Giới thiệu văn bản (bản Nôm Tiền Giang, các bản Quốc ngữ) và nội dung Lâm Sanh tân thơ
I.1. Về bản Nôm
Bản Nôm Lâm Sanh tân thơ (còn gọi là Lâm Sanh Xuân Nương) do ông Trần Thanh Nhã sưu tầm được ở Tiền Giang. Sách gồm 23 trang, mỗi trang 26 cột (riêng trang cuối 24 cột), viết theo thể thơ lục bát được sắp xếp trên 6 dưới 8 theo mỗi cột từ phải sang trái.
Toàn bộ văn bản có 1077 câu lục bát(1) và 3 bài văn điếu:
- Bài 1 ở trang 10b, chiếm 11 cột;
- Bài 2 ở trang 18a, chiếm 13 cột;
- Bài 3 ở trang 18b-19a, chiếm 18 cột.
Hình thức và cách trình bày truyện Nôm này không có gì khác biệt so với nhiều truyện Nôm khác. Chữ được khắc in từ bản gỗ, khổ chữ to, rõ nét (5x8mm). Phía bên phải đầu trang nhất, ngoài tựa sách là Lâm Sanh tân thơ ở trên, ở dưới còn có dòng chữ đã mờ và mất mấy chữ cuối Việt Đông Phật Trấn Bảo Hoa…(phần mất này có lẽ là hai chữ các bản). Trên lề từ trang 2 đến trang cuối đều có ghi Thoa tích Lâm Sanh vãn Xuân Nương truyện ở trên và Bảo Hoa các bản ở dưới, ở giữa là số trang.
Sách bị mất tờ bìa lại là một tác phẩm khuyết danh nên khó xác định nguồn gốc tác phẩm. Do không được bảo quản kỹ nên các trang 1ab, 2ab, 3ab, 4ab đều bị mối ăn mỗi trang từ 4 đến 7 chữ gây khó khăn cho việc phiên âm, chú thích và khảo dị.
Ngoài ra, bản Nôm còn bị mất trang 11ab trong đó có phần cuối của bài văn điếu 1. Nội dung của phần bị mất (dựa theo hai bản Quốc ngữ chúng tôi hiện có, sẽ giới thiệu ở phần sau) là hồn Xuân Nương hiện về báo mộng cho cha mẹ hay nàng đã bị mẹ chồng đánh chết.
I.2. Về các bản Quốc ngữ
Ông Trần Thanh Nhã cho biết “đã tra cứu thư mục kho sách Hán Nôm ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện KHXH tại TP.HCM và một số thư viện ở các tỉnh đều không có tựa đề truyện thơ này”(2). Chúng tôi chưa có điều kiện đi Hà Nội vào các thư viện để tìm. Tại TP.HCM, chúng tôi cũng chưa tìm được bản Nôm nào mà chỉ tìm được hai bản Quốc ngữ cùng có tựa là Lâm Sanh tân thơ:
1. Bản A (tìm được ở hiệu sách cũ): gồm 1114 câu và 3 bài văn điếu, soạn giả Nguyễn Bá Thời, Nxb. Thuận Hòa, không ghi năm xuất bản. Bản này gần với bản Nôm hơn.
2. Bản B (ở Thư viện KHXH): gồm 1220 câu và 3 bài văn điếu, soạn giả Nguyễn Kim Đính, Nxb. Phạm Văn Cường, xuất bản năm 1967. Bản này khác nhiều so với bản Nôm. Có lẽ khi tra cứu ở Thư viện KHXH, ông Trần Thanh Nhã chỉ chủ ý tìm bản Nôm nên không tìm thấy bản Quốc ngữ này.
Ngoài ra, ông Trần Thanh Nhã còn tìm được một bản Quốc ngữ nữa có tựa là Lâm Sanh Xuân Nương thơ của Võ Khấu Nghi, ấn bản Nguyễn Quới Loan, Nxb. Xưa & nay, Sài Gòn, 1932(3).
Bản A nhiều hơn bản B 106 câu, rõ ràng chúng được phiên âm từ hai bản Nôm khác nhau. Hai bản Nôm này chắc chắn ra đời sau bản Nôm Tiền Giang và đã được nhuận sắc nhiều vì nội dung của chúng rõ ràng hơn, câu chữ vần điệu tinh luyện hơn.
Từ các dữ liệu trên, chúng ta thấy Lâm Sanh tân thơ có ít nhất là bốn bản Nôm khác nhau. Điều này chứng tỏ nó đã từng được phổ biến, yêu thích, có nhiều người sao chép, sửa chữa, bổ sung nhưng trải qua thời gian dài đã bị thất lạc, mai một. Hy vọng các bản còn lại (nếu có) sẽ được tìm thấy trong thời gian gần đây.
So sánh các bản trên, chúng tôi nhận thấy cốt truyện thì giống nhau nhưng về ngôn từ thì có nhiều chỗ khác xa. Ví dụ, cùng nói về cảnh hội ngộ giữa Lâm Sanh và Xuân Nương sau khi Xuân Nương được Ngọc Hoàng cho trở về trần gian, bản Nôm ghi là:
Trạng nguyên thấy thơ mới hay
Hỏi nàng sao đặng sống rày dương gian (câu 1049-1050)
Bản A:
Trạng nguyên nghe rõ nguồn cơn
Xem đi ngắm lại thiệt duyên bạn vàng
Bản B: Xuân Nương phân hết đuôi đầu
Lâm Sanh nghe nói hạt châu tuôn dầm
Mặc dù bản A gần bản Nôm hơn nhưng rất nhiều câu khác nhau từ 1-5 chữ, và tuy hiếm hơn nhưng cũng có trường hợp khác nhau hoàn toàn, như ví dụ trên.
I.3. Tóm tắt nội dung(4)
Nội dung tác phẩm xoay quanh cuộc đời nhân vật Xuân Nương và cuộc tình duyên trắc trở của nàng cùng Lâm Sanh. Xuân Nương là người phụ nữ hiền thục, trọn đạo dâu thảo vợ hiền. Nhưng sự khắc nghiệt của bà mẹ chồng đã làm chia lìa vợ chồng nàng. Mụ cưới Xuân Nương cho Lâm Sanh thực chất chỉ để hầu hạ con trai và bản thân mụ:
Tối thời trải chiếu giăng mùng
Khuya dâng trà cháo việc mình phải toan
Làm dâu ba năm dài nhưng Xuân Nương chưa một lần hạnh phúc cũng như luôn phải chịu cảnh khổ sở nhọc nhằn:
Chẳng cho Lâm sĩ ăn nằm
Kết cùng Lâm thị ái ân muôn phần (câu 7-8)
Ba năm nhan sắc chẳng tươi
Cơm ăn chẳng đặng mình gầy những xương (câu 15-16)
Lâm Sanh tuy rất thương vợ nhưng vì chữ hiếu cứng nhắc đã trở thành một người hoàn toàn nhu nhược, cam tâm nhìn mẹ mình đày đọa đánh đập vợ đến chết mà không dám can ngăn. Vợ chết, mẹ bị đưa ra pháp trường xử trảm. Nhưng cũng vì chữ hiếu, chàng đã “lỗi đạo quân thần”, đánh phá ba quân cướp lấy mẹ, để cuối cùng mẹ đã không thoát chết, còn mình bị giam cầm nơi ngục thất.
Chữ hiếu của chàng đã thấu tới Ngọc Hoàng. Trời sai bốn rồng xuống phò tá cho chàng. Công chúa hiểu rõ sự tình đã tâu lên vua cha xin tha chết cho chàng. Tống Vương nghe tâu bèn vời chàng đến mới hay chàng có phép thần thông liền phong cho chàng chức Phò mã Trạng nguyên, sau này cưới công chúa làm vợ nhì.
Nàng Xuân Nương thủy chung như nhất được Ngọc Hoàng cho trở lại trần gian sum hợp cùng Lâm Sanh. Lâm Sanh được Tống Vương nhường ngôi trị vì thiên hạ.
II. Những điểm khác biệt giữa Lâm Sanh tân thơ (bản Nôm Tiền Giang) với dòng truyện Nôm bình dân
II.1. Khác biệt về thành phần xuất thân của các nhân vật chính
Trong nhiều truyện Nôm, nhân vật chính được giới thiệu ở phần đầu tác phẩm để người đọc biết lai lịch của họ. Đoạn giới thiệu có khi nói trực tiếp hoàn cảnh hiện tại (Phạm Tải Ngọc Hoa, Phạm Công Cúc Hoa), có khi kể lại một thời trong quá khứ (Thoại Khanh Châu Tuấn, Tống Trân Cúc Hoa). Ở đây, chúng tôi muốn nói đến hoàn cảnh gia đình được miêu tả vào thời điểm hiện tại. Ngoại trừ Nam Kinh Bắc Kinh truyện và Hoàng Trừu có hai nhân vật chính đều là hoàng tử, công chúa, các truyện Nôm bình dân còn lại, đều có đôi nhân vật chính thuộc hai tầng lớp trái ngược nhau. Nhân vật nữ thuộc tầng lớp trên, là công chúa, tiểu thư con quan, thuộc gia đình thế lực và giàu có. Nhân vật nam là nho sinh thuộc tầng lớp dưới, mồ côi, nghèo khổ, ăn xin. Tuy nhiên giữa hai người luôn có mối đồng cảm sâu sắc và nhân vật nữ thường là người chủ động “lựa chọn” ý trung nhân và “quyết định cuộc hôn nhân theo ý muốn”(5). Ở đây xin nói thêm, tình tiết chủ động “lựa chọn” này có liên quan đến tinh thần muốn đòi sự công bằng và giải phóng phụ nữ - những người vốn chịu nhiều thiệt thòi, bất công trong xã hội phong kiến.
Đến với Lâm Sanh tân thơ chúng ta sẽ thấy sự khác biệt rất rõ, hay nói đúng ra là sự đảo ngược hoàn toàn. Lâm Sanh là con quan Án sát “quyền cao lộc cả cũng đà hiển vinh”. Tuy cha đã mất nhưng uy danh vẫn được mọi người, kể cả quan Hộ giá, Thừa tướng kiêng dè, kính nể. Còn nàng Xuân Nương là con của một gia đình tiều phu “ở chốn sơn lâm” cách Thanh Dương (quê Lâm Sanh) ba ngày ba đêm đường trường cách trở. Sự khác biệt đó là nguyên nhân chính dẫn tới bi kịch, là nguyên nhân làm triệt tiêu vai trò của Xuân Nương như chúng tôi đã trình bày ở phần trên.
Xuân Nương mang tiếng là dâu nhưng chẳng khác một con hầu. Nàng được cưới về chỉ để dâng cơm bưng nước. Có chồng mà phải chịu cảnh phòng đơn gối chiếc. Bị ức hiếp, không thể và không được giãi bày nỗi oan, đành một mình cam chịu tất cả. Với chồng, nàng được yêu thương nhưng không được chở che bảo bọc trong khi hiện tại nàng cần được chở che bảo bọc. Cho nên, nàng không phải là người chủ động. Trái lại, nàng là người hoàn toàn bị động. Có chủ động chăng là can ngăn chồng đừng vì mình mà đánh mất chữ hiếu. Một sự chủ động mang đầy tính bị động!
Lâm Sanh là con quan Án sát, những tưởng chàng có đủ nghị lực giữ vững mái ấm gia đình. Nào ngờ, chàng đã bị chính cái thế của chàng bó buộc. Quyền uy trong gia đình, chàng không có nhưng mẹ chàng có thừa. Khi quyền uy rơi vào tay kẻ xấu (mẹ chàng - Lâm phu nhân, nó sẽ trở thành lưỡi hái tử thần tước bỏ hết những gì tốt đẹp, kể cả của người thân - Lâm Sanh.
Thật đáng thương, vì Lâm Sanh và Xuân Nương không ai có quyền chủ động. So với Tống Trân - Cúc Hoa (Tống Trân Cúc Hoa), tình cảnh Lâm Sanh - Xuân Nương có giống mà cũng có khác. Giống ở chỗ cả hai mối tình đều bị thử thách từ phía gia đình, Tống Trân - Cúc Hoa từ phía nhà gái, Lâm Sanh - Xuân Nương từ phía nhà trai. Khác ở chỗ, Cúc Hoa là một cô gái dám vượt lên số phận còn Lâm Sanh tuy là đấng nam nhi nhưng đã đầu hàng số phận.
Lâm phu nhân là người ác. Lâm Sanh không dám chống lại mẹ. Rốt cục, Xuân Nương là cô gái sức yếu thế cô phải hứng chịu cực hình đến chết. Nàng chết tức tưởi dưới bàn tay độc ác của mẹ chồng, chết cô độc trong tình yêu nhẹ hơn chữ hiếu của Lâm Sanh, chết thê thảm không phải như cái chết của con người.
Rõ ràng, sự khác nhau về thân phận các nhân vật chính là một trong những yếu tố quan trọng dẫn dắt diễn tiến của cốt truyện, tạo ra tính đặc thù cho tác phẩm.
II.2. Khác biệt trong đấu tranh chống cái ác, cái bất công
Nhìn chung, trong truyện Nôm bình dân các nhân vật nữ là những người chủ động không những trong tình yêu mà cả trong đấu tranh bảo vệ hạnh phúc gia đình. “Bởi vấn đề bức thiết đặt ra trong nội dung các tác phẩm là khát vọng bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ phẩm chất, giá trị con người - đặc biệt là người phụ nữ - và thực hiện công lý xã hội”(6)
Thử điểm qua sự đấu tranh ấy trong vài truyện Nôm bình dân. Trong Phạm Tải Ngọc Hoa, mối tình của hai nhân vật chính tuy được sự ủng hộ của cha mẹ Ngọc Hoa nhưng gặp phải trở ngại từ một thế lực lớn hơn, đó là Trang Vương. Trang Vương ham mê sắc đẹp, lợi dụng quyền của người cầm đầu quốc gia bắt Ngọc Hoa tiến cung và đầu độc giết chết Phạm Tải. Ngọc Hoa cự tuyệt bằng cách xin về quê để tang chồng. Sau ba năm tang chế, nàng đã tự tử để giữ trọn lòng chung thủy. Xuống suối vàng, hai vợ chồng kiện lên Diêm Vương. Diêm Vương sai quỷ sứ bắt ném Trang Vương vào vạc dầu. Phạm Tải - vốn là con trời bị đày - được hoàn sinh làm vua, Ngọc Hoa cũng được cải tử làm hoàng hậu.
Cảnh Yên - Phương Hoa (Truyện Phương Hoa) bị tên Tào Trung úy chia quyên rẽ thúy. Họ Tào sau khi đến hỏi cưới Phương Hoa không thành đã rắp tâm hãm hại cả nhà Cảnh Yên khiến “sạch hết cơ đồ”, mọi người phải bỏ trốn tha phương cầu thực. Xa nhau, nhưng Phương Hoa “lòng son dạ sắt” chờ đợi Cảnh Yên suốt bảy tám năm trời. Trong thời gian Cảnh Yên gặp nạn, bị bỏ ngục, Phương Hoa không màng cực khổ, lặn lội đến kinh thành xa xôi dò la tin tức, tìm mọi cách giúp đỡ chàng. Đến khi kinh thành mở khoa thi, nàng giả trai lấy tên Cảnh Yên đi thi và đỗ Tiến sĩ, từ đó mới minh oan được cho Cảnh Yên.
Những cuộc đấu tranh ấy thường rất gay go, quyết liệt, đặc biệt là từ phía các cô gái. Về đạo và tình, Ngọc Hoa đều trọn vẹn. Nàng để tang chồng ba năm, đó là trọn đạo; tự sát theo chồng, đó là vẹn tình. Dám lấy cái chết để giữ tròn trinh tiết, cuộc đấu tranh ở đây đã đạt tới đỉnh điểm. Chết xuống âm phủ, hai vợ chồng cùng kiện lên Diêm Vương, đó là sự đồng tâm hiệp lực chống đối đến cùng cái ác, cái bất công. Còn Phương Hoa tuy chưa chính thức là vợ Cảnh Yên nhưng tấm lòng của nàng dành cho Cảnh Yên thật đáng khâm phục. Thân nàng liễu yếu đào tơ nhưng sức mạnh tình yêu đủ tạo cho nàng một nghị lực phi thường. Dám thân gái một mình vượt “đường hòe dặm liễu”, lặn lội “năm ngày ra đến thành đô” tìm ý trung nhân. Táo bạo hơn là hành vi giả danh thi hộ với mong muốn giải oan cho Cảnh Yên. Với việc làm này, Phương Hoa đã đặt hết niềm tin vào tài “phun châu nhả ngọc nức lòng” của mình vì có thi đỗ thì ước nguyện giải oan mới có thể thực hiện được; đồng thời cũng đặt trọn niềm tin vào đấng minh quân, vào công lý, vào chiến thắng của cái thiện trước cái ác.
Chúng ta có thể thấy nhiều cuộc đấu tranh như thế trong Thoại Khanh Châu Tuấn, Lý Công, Tống Trân Cúc Hoa… Nhưng trong Lâm Sanh tân thơ thì sự việc có khác. Mối tình Lâm Sanh - Xuân Nương bị trở ngại từ phía gia đình, cụ thể là sự cấm đoán của bà mẹ chồng. Bà mẹ chồng là người đại diện cho sự tàn bạo, khắc nghiệt của chế độ phong kiến chà đạp, chèn ép những con người sức yếu thế cô. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ thấy sự cam chịu, còn sự đấu tranh thì vô cùng yếu ớt. Xuân Nương cam chịu bị đánh đến chết. Lâm Sanh không dám can ngăn mẹ, không dám bênh vực vợ mà chỉ biết khóc và than thở. Chung quy là vì chữ hiếu! Lâm Sanh rất thương vợ, thủy chung với vợ, nhưng đối với chàng, chữ hiếu nặng hơn. Công bằng mà nói, trong hoàn cảnh này, khó có thể trách chàng được. Có trách chăng là trách lòng ích kỷ hẹp hòi của người mẹ độc ác. Sự thực, Lâm Sanh cũng có chống đối nhưng là sự chống đối yếu ớt, muộn màng bằng cách không cưới vợ khác theo ý muốn của mẹ: “Dẫu con Ngọc Hoàng chẳng đẹp duyên tôi”, càng không phải là sự đấu tranh đúng nghĩa. Dù chống đối như vậy thì Xuân Nương cũng đã chết, là “sự đã rồi”.
Về phía Xuân Nương, vai trò của nàng khá mờ nhạt trong tác phẩm. Không như các nhân vật nữ khác trong Phạm Tải Ngọc Hoa, Truyện Phương Hoa... có vai trò rất lớn trong cuộc đấu tranh đạt tới cảnh đoàn viên, Xuân Nương sau khi chết đã bị tác giả “lãng quên” mặc cho nàng dạo chơi tiên cảnh mãi đến khi Ngọc Hoàng cảm thương cho trở xuống trần gian sum hợp cùng Lâm Sanh. Hình bóng Xuân Nương chỉ xuất hiện một lần báo mộng cho cha mẹ, một lần được Lâm Sanh nhắc tới khi chàng làm lễ tế bên mồ. Trong suốt giai đoạn đó, Xuân Nương không có vai trò đáng có của một nhân vật chính. Đương nhiên cuộc đấu tranh hạnh phúc lứa đôi, thậm chí đấu tranh vì quyền sống của nhân vật chính, cũng không có.
Nói như thế không có nghĩa là trong tác phẩm hoàn toàn không có đấu tranh. Nếu ở tác phẩm khác là sự đấu tranh trực tiếp của nhân vật chính thì ở đây, cha mẹ Xuân Nương là người đấu tranh trực tiếp. Ông tiều phu mất con dâng cáo trạng lên quan Hộ giá, bị xử ép, ông lão lại kiện lên quan Thừa tướng. Bị xử ép lần thứ hai, ông lão “nguyền sống thác cùng con phen này” kiện tiếp lên Tống Vương. Sau khi “tù rạt khảo tra”, công bằng đã trở về với người vô tội. Vì vậy, đấu tranh ở đây là vì gia đình - ruột thịt, không phải vì hạnh phúc - lứa đôi như ở các tác phẩm khác. Tuy cuối cùng các nhân vật chính đều được hưởng hạnh phúc nhưng đó là nhờ ơn trời, ở tác phẩm không hề có đấu tranh vì hạnh phúc lứa đôi.
II.3. Khác biệt về kết cấu cốt truyện
“Cốt truyện là nội dung hiện thực mà tác phẩm chiếm lĩnh, nhận thức và phản ánh. Đồng thời cũng có ý nghĩa quy định hoặc chi phối các phương tiện, các yếu tố xung quanh tác phẩm, trước hết là tổ chức cốt truyện”(7).
Theo quan niệm truyền thống, kết cấu truyện Nôm gồm ba sự kiện: gặp gỡ - tai biến - đoàn tụ. Nhưng theo tiến sĩ Đinh Thị Khang, các truyện Nôm thường được mở đầu bằng lời giới thiệu lai lịch nhân vật chính (tên tuổi, quê quán, hoàn cảnh gia đình), do đó kết cấu cốt truyện nên có thêm phần giới thiệu nhân vật (giới thiệu - gặp gỡ - tai biến - đoàn tụ).
Chúng tôi không xem giới thiệu nhân vật là một bộ phận của kết cấu cốt truyện. Bởi lẽ:
- Nó chiếm số câu rất ít so với các phần còn lại;
- Nhiều tác phẩm không giới thiệu nhân vật cùng lúc mà xen kẽ nhau, không thể tách thành một phần riêng lẻ được. Lâm Sanh tân thơ là ví dụ tiêu biểu cho trường hợp này.
Cho nên, khi xét kết cấu cốt truyện Lâm Sanh tân thơ, chúng tôi sẽ căn cứ vào mô hình kết cấu truyền thống.
II.3.1. Sự kiện gặp gỡ và tai biến
Thử xem đoạn mở đầu:
Thừa nhàn cất bút chép ghi
Tống Vương trị dạy có nàng Xuân Nương
Dốc lòng giữ vẹn cương thường
Hiếu trung giám dạ xuân đường huyên gia(8)
Này đoạn nàng dâu mụ già
Cưới vợ về nhà đã đặng ba năm
Chẳng cho Lâm sĩ ăn nằm
Kết cùng Xuân thị ái ân muôn phần…(câu 1-8)
Rõ ràng, tác phẩm không diễn ra sự kiện gặp gỡ. Đến lúc này, Xuân Nương làm vợ Lâm Sanh “đã đặng ba năm”. Người đọc không được thông tin gì về quá trình gặp gỡ dẫn tới hôn nhân giữa họ. Thiếu vắng chi tiết cô gái “chọn mặt gửi vàng” vì thân phận của cô không cho phép cô làm việc đó. Chàng trai không phải là người quyết định cuộc hôn nhân của mình. Mọi việc là do sự sắp đặt của mẹ chàng. Cho nên, cũng không có chi tiết “chọn mặt gửi vàng” từ phía chàng trai. Rất may giữa hai người đã nảy nở một tình yêu thực sự. Chúng ta thấy, xét riêng bản Nôm này, không có sự kiện gặp gỡ là hợp lý.
Thay chỗ cho sự kiện gặp gỡ là sự kiện tai biến. Ngay từ câu 7 - 8, mầm mống tai biến đã xuất hiện. Nói đúng ra, nó đã xuất hiện cách đây “ba năm” từ khi Xuân Nương về làm dâu. Lúc đầu, tai biến chỉ là hai vợ chồng không được “kết cùng ái ân”. Họ vẫn gặp nhau, trò chuyện với nhau dù là lén lút. Cao trào tai biến xảy ra sau khi Xuân mẫu xuống thăm con trở về. Mẹ Lâm Sanh đánh Xuân Nương đến chết chỉ vì nghi ngờ Xuân mẫu “bày kế” cho con gái. Đến đây, tai biến là sự chia ly vĩnh viễn.
Chúng ta hoàn toàn không biết chính xác nguyên nhân mẹ chồng ngược đãi nàng dâu. Nếu cần người hầu hạ thì “thiếu chi đầy tớ gia đàng gái trai”, cớ gì cưới vợ cho con lại biến vợ của con thành người hầu hạ, không cho chung sống vợ chồng, xem mạng người như cỏ rác. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ không nên đặt nặng vấn đề này. Vì thực ra, trong tất cả truyện Nôm bình dân, tính lôgích không được vận dụng triệt để. Thậm chí có nhiều chi tiết thiếu nhất quán, không cụ thể, phi lôgích(9). Điều mà tác giả dân gian quan tâm là hiện tại Xuân Nương bị ngược đãi; Lâm Sanh là chồng nhưng không được “kết cùng ái ân” với vợ, từ đó “bi thảm hóa” nhân vật và tình tiết.
Một điểm đáng chú ý của Lâm Sanh tân thơ là gặp gỡ không diễn ra giữa Lâm Sanh - Xuân Nương (tuyến chính) mà diễn ra giữa Lâm Sanh - công chúa (tuyến phụ). Cuộc hội ngộ diễn ra khi Lâm Sanh ở trong ngục. Công chúa:
Đêm ngày nguyệt dạo hoa chơi
Chực nhìn ngó thấy ngục môn rạng ngời
…Nàng bèn bước tới ngục trung
Xem thấy Lâm sĩ đang ngồi thở than
Mặt buồn dã dượi võ vàng
Bốn rồng chầu chực tứ phương sáng ngời
Công chúa xem thấy mới hay
Tơ hồng đã định mừng nay cho chàng (câu 741-752)
Cuộc gặp gỡ này giống các cuộc gặp gỡ ở các tác phẩm khác. Có điều, công chúa tuy là người có vai trò chi phối nội dung tác phẩm (biết Lâm Sanh có phép thần thông, nàng đã tâu với vua cha tha chết cho chàng) nhưng không thể xem là nhân vật chính (chỉ xuất hiện trong khoảng hơn 20 câu). Đồng thời, giữa Lâm Sanh và công chúa không có sự kiện tai biến nên cuộc đoàn tụ giữa hai nhân vật này cuối tác phẩm (Lâm Sanh cưới công chúa làm vợ hai) chỉ có giá trị như là một hành động đền ơn đáp nghĩa.
II.3.2. Sự kiện đoàn tụ
Đoàn tụ là sự kiện hoàn chỉnh số phận nhân vật chính. Các tác phẩm đều kết thúc ở thời điểm nhân vật chính thoát khỏi gian nan đau khổ, hoặc kết thúc thời gian chờ đợi trong chia ly, được đoàn tụ với gia đình và được sống cuộc đời hạnh phúc vinh hiển”(10).
Đoàn tụ là giai đoạn sau của chia ly (tai biến). Chia ly là xa cách về không gian trong một khoảng thời gian. Không gian, thời gian đó phải hữu hạn, phải có lúc kết thúc. Sự kiện đoàn tụ sẽ diễn ra ngay khi kết thúc không gian và thời gian chia ly ấy. Ở Lâm Sanh tân thơ, chia ly là một người sống, một người chết (Xuân Nương được rước lên trời). Cõi dương gian và cõi thiên đình là xa cách về không gian vô hạn, cho nên thời gian cũng vô hạn. Mọi sự chờ đợi đều là vô vọng. Nhưng tiếp thu ảnh hưởng của môtíp truyện cổ tích, tác giả dân gian xây dựng chi tiết Ngọc Hoàng cho Xuân Nương xuống sum hợp cùng Lâm Sanh tạo nên sự kiện đoàn tụ.
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, Lâm Sanh tân thơ không hề có đấu tranh vì hạnh phúc lứa đôi. Các nhân vật chính dường như buông xuôi hạnh phúc của mình, không như nàng Ngọc Hoa (Phạm Tải Ngọc Hoa) cả lúc sống và sau khi chết đều đấu tranh vì tình yêu hạnh phúc. Chính vì thế, sự kiện đoàn tụ ở đây có vẻ miễn cưỡng, không thuyết phục. Sự kiện này chỉ có ý nghĩa làm hoàn chỉnh kết cấu cốt truyện, tạo ra một “kết thúc có hậu” cho tác phẩm.
Nhận xét chung
Bên cạnh những điểm chung phổ quát, Lâm Sanh tân thơ còn có những điểm riêng biệt so với nhiều truyện Nôm bình dân khác. Trong đó điểm khác nhau hoàn toàn, có điểm khác nhau trong chính sự giống nhau. Chính những điểm riêng này đã tạo ra tính đặc thù cho tác phẩm, đồng thời góp phần tạo ra sự phong phú, đa dạng cho dòng truyện Nôm bình dân.
Chú thích
(1) Sở dĩ số câu lẻ là vì có hai câu bát nằm liền nhau (112 và 113), chúng tôi cũng chưa hiểu lý do.
(2)(3) Trần Thanh Nhã: Giới thiệu đôi nét về bản Nôm Lâm Sanh tân thơ, trong Năm năm Hán Nôm 1991-1995, Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, H. 1995.
(4) Chủ yếu dựa theo tóm tắt của ông Trần Thanh Nhã, sđd.
(5)(6)(7)(10) Đinh Thị Khang: Kết cấu truyện Nôm, Tạp chí Văn học, số 9, 2002.
(8) Bản Nôm mất hai chữ huyên gia. Vì Xuân Nương còn cả cha lẫn mẹ nhưng ở đây chỉ đọc được Xuân Đường (chỉ người cha), đồng thời căn cứ vào vần a của câu dưới, chúng tôi tạm đọc là huyên gia (chỉ người mẹ).
(9) Trần Đình Sử đã trình bày đôi điều về vấn đề này trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H. 1999.
Các tác phẩm sử dụng trong bài viết đều lấy ra từ bộ Kho tàng truyện Nôm khuyết danh (2 tập), Nxb. Văn học, H. 2000./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (104) 2011, Tr.73-80)