Đọc lại bài Minh bột di ngư văn thảo tự của Trịnh Hoài Đức (Tạp chí Hán Nôm, Số 6(97) 2009; Tr.68-71)
ĐỌC LẠI BÀI MINH BỘT DI NGƯ VĂN THẢO TỰ
CỦA TRỊNH HOÀI ĐỨC
CAO TỰ THANH
Chuyên gia Hán Nôm, Tp. Hồ Chí Minh
Trong Việt Nam sử lược năm 1919, Trần Trọng Kim đã đọc sai và hiểu lầm bản Minh bột di ngư văn thảo của Mạc Thiên Tích do Trịnh Hoài Đức cho in lại năm 1820 là Minh bột di hoán văn thảo của Trịnh Hoài Đức, sai lầm này đã di căn qua nhiều sách văn học sử sau đó. Đến 1943, Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh đã đính chính sai lầm nói trên trong bài Minh bột di ngư, một quyển sách, hai thi xã trên Đại Việt tập chí, số 12, ngày 1.4.1943. Trên cơ sở bản in Minh bột di ngư văn thảo năm 1820, Ngạc Xuyên đã giới thiệu khá chi tiết tác phẩm này, cung cấp nhiều tư liệu quan trọng cho những người quan tâm tới thơ văn Mạc Thiên Tích nói riêng cũng như thơ văn Chiêu Anh Các nói chung.
Ngoài phần mô tả văn bản học, bài viết nói trên còn công bố bài thơ Lư Khê nhàn điếu dùng vần Thập ngũ hàm và bản dịch toàn văn bài tựa (Ngạc Xuyên gọi là bài Tân tự) của Trịnh Hoài Đức, tuy nhiên trên phương diện văn bản học thì bản dịch này còn hai đoạn chưa thật rõ ràng:
1. “Tôi vào tuổi thành đồng (hai mươi) đã từng thấy Hà Tiên thập cảnh toàn tập, Minh bột di ngư thi thảo, Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Châu thị trinh liệt tặng ngôn, Thi truyện tặng Lưu tiết phụ, Thi thảo cách ngôn vị tập, phàm sáu bộ sách đã xuất bản lưu hành”.
2. “Năm Canh Thìn (1820) mùa hạ, vâng mạng về kinh, thọ lãnh bộ vụ, tôi may gặp được tập Lư Khê nhàn điếu của ngài, rất khoan khoái đọc suốt cả đầu đuôi, mới rõ năm Bính Thìn (1736), tháng hai, ngài in bản Chiêu Anh Các”.
Dễ nhận ra rằng theo bản dịch trên đây thì đoạn 2 rất khó hiểu, ngoài ra nhan đề theo ngữ pháp tiếng Việt của tác phẩm Thi truyện tặng Lưu tiết phụ trong đoạn 1 cũng dễ khiến người ta đặt vấn đề đây là một tác phẩm chữ Nôm. Trong vài lần được tiếp xúc với cố Giáo sư Ca Văn Thỉnh trước khi ông qua đời (1987), chúng tôi đã thỉnh giáo về hai chi tiết này, nhưng đáng tiếc là ông cũng không còn nhớ rõ phần nguyên văn chữ Hán. Bản in Minh bột di ngư 1820 hiếm hoi mà ông sử dụng ấy lại đã bị thiêu hủy sau ngày Nam Bộ kháng chiến 1945, và từ đó đến nay vẫn chưa ai tìm thấy một bản in nào khác, nên nhiều năm qua chúng tôi vẫn chưa có cơ hội tìm lời giải đáp. Tháng 1.2006, nhân được Quỹ Havard-Yenching tài trợ cho ra Viện Nghiên cứu Hán Nôm đọc tư liệu về văn học Đàng Trong, chúng tôi đã may mắn tìm thấy nguyên bản chữ Hán bài tựa nói trên của Trịnh Hoài Đức. Bài tựa này được chép trong hai tài liệu là Đại Nam văn uyển thống biên VHv.205/22 và Đại Nam văn uyển thống biên VHv.981, ngoài nhan đề và chú thích như nhau "Minh bột di ngư văn thảo tự, Minh Mệnh nhị niên, Trịnh Hoài Đức” thì văn bản và nội dung có nhiều chỗ xuất nhập cần tìm hiểu thêm, ở đây chỉ trích giới thiệu hai đoạn tương ứng với hai đoạn nêu trên trong bản dịch của Ngạc Xuyên.
Về đoạn 1, hai bản có vài chữ khác nhau và theo dấu chấm câu bằng mực son (có lẽ của những người chép) thì còn ngắt câu khác nhau.
Bản VHv.205/22 chép và ngắt câu như sau “Dư thành đồng thời tằng kiến Hà Tiên thập cảnh toàn tập, Minh bột di ngư văn thảo, Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Chu thị trinh liệt tặng ngôn thi truyện, Tặng đáp tiết phụ thi thảo, Cách ngôn vựng tập, phàm lục trật san hành”. (Tôi vào tuổi thành đồng từng nhìn thấy Hà Tiên thập cảnh toàn tập, Minh bột di ngư văn thảo, Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Chu thị trinh liệt tặng ngôn thi truyện, Tặng đáp tiết phụ thi thảo, Cách ngôn vựng tập, phàm sáu quyển xuất bản lưu hành).
Bản VHv.981 chép và ngắt câu như sau “Dư thành đồng thời tằng kiến Hà Tiên thập cảnh toàn tập, Minh bột di ngư văn thảo, Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Chu thị trinh liệt tặng ngôn, Thi truyện tặng tráp, Tiết phụ thi thảo cách ngôn vựng tập, phàm lục trật san hành”. (Tôi vào tuổi thành đồng từng nhìn thấy Hà Tiên thập cảnh toàn tập, Minh bột di ngư văn thảo, Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Chu thị trinh liệt tặng ngôn, Thi truyện tặng tráp, Tiết phụ thi thảo cách ngôn vựng tập phàm sáu quyển xuất bản lưu hành).
Dĩ nhiên không thể loại trừ khả năng hai văn bản chữ Hán nói trên đều có chỗ chép sai chép thiếu so với bài tựa trong bản in Minh bột di ngư 1820 mà Ngạc Xuyên đã sử dụng, song sự khác biệt về ba chữ "Lưu", "đáp", "tráp" dẫn tới ba cách ngắt câu và những cách hiểu khác nhau trên đây là điều cần được đặc biệt lưu ý, vì nó đã đưa ra những thông tin khác hẳn những gì người ta đã biết về danh mục tác phẩm của Tao đàn Chiêu Anh Các, những thông tin có thể rất có ích cho việc sưu tầm thơ văn Chiêu Anh Các trong tương lai.
Về đoạn 2, hai bản đều chép như nhau là “Canh Thìn hạ dư khâm mệnh lai kinh, phục lý bộ vụ, ngẫu đắc công Lư Khê nhàn điếu nhất tập, thủy cánh nhi ngoạn độc chi, nãi Bính Thìn trọng xuân nguyệt thuyên, Chiêu Anh Các tàng bản” (Mùa hè năm Canh Thìn (1820) tôi vâng mệnh về kinh, lại giữ việc bộ, ngẫu nhiên tìm được một tập Lư Khê nhàn điếu của ông, mới vui thích đọc hết, đó là bản in tháng 2 năm Bính Thìn (1736), Chiêu Anh Các giữ ván in). Như vậy, tập Minh bột di ngư đã được khắc in từ 1736, nghĩa là trước cả Hà Tiên thập cảnh toàn tập in năm 1737. Nhưng vào năm này thì Mạc Thiên Tích chỉ mới trên 30 tuổi, chưa thể nói là già như nhiều câu trong bài Lư Khê nhàn điếu phú hay một số bài thơ Lư Khê nhàn điếu hiện còn(1) cho thấy. Cần nói thêm rằng Phạm Nguyễn Du trong Nam hành ký đắc, Hà Tiên truyện luận có viết “(Mạc Thiên) Tứ lúc tuổi già thả lòng mộ đạo, có ba mươi bài Lư Khê nhàn điếu, ủy cho con coi việc chính sự”, nên có người đã nghĩ Minh bột di ngư được Mạc Thiên Tích sáng tác lúc cuối đời... Đây là một vấn đề còn cần được tìm hiểu về tập Minh bột di ngư.
Theo mô tả văn bản của Ngạc Xuyên, Minh bột di ngư của Mạc Thiên Tích có bài phú Lư Khê nhàn điếu và 30 bài thơ, nhưng hiện nhiều người chỉ biết tới bài phú và 7 bài thơ, tức hai bài dùng vần Nhất đông, Nhị đông chép trên tường đền thờ họ Mạc ở Hà Tiên mà Đông Hồ sao lại trong Văn học Hà Tiên in năm 1970, một bài dùng vần Thập ngũ hàm được Ngạc Xuyên giới thiệu năm 1943, bốn bài dùng vần Thập khôi, Thập nhất chân, Thập nhị văn, Thập chưng chúng tôi đã giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm năm 1996(2). Nhân đây xin giới thiệu thêm một bài nữa.
Ở cuối tập Bảo Triện Trần Tiến sĩ thi thảo chữ Hán chép tay ký hiệu A.207 hiện được lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm có một cụm tác phẩm thuộc thơ văn Chiêu Anh Các rất đáng lưu ý. Cụm tác phẩm này mở đầu bằng sáu bài thơ của Mạc Thiên Tích với nhan đề "Đô đốc Lão Quận công Trịnh (sic) Thiên Tứ thi tam đề (lục thủ)":
1. Lộc Trĩ đồn cư tức bài Lộc Trĩ thôn cư trong Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích.
2. Thạch Động tức sự, bài này thấy trong Nam hành ký đắc của Phạm Nguyễn Du chép hai câu 5, 6 với nhan đề Thạch Động.
3. Lư Khê nhàn điếu tức bài Lư Khê ngư bạc trong Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích.
4. Lư Khê nhàn điếu, kỳ nhị tức bài Lư Khê nhàn điếu I (vần Nhất đông) trong 30 bài thơ Lư Khê nhàn điếu thuộc tập Minh bột di ngư.
5. Lư Khê nhàn điếu, kỳ tam tức bài Lư Khê nhàn điếu II (vần Nhị đông) trong 30 bài thơ Lư Khê nhàn điếu.
6. Lư Khê nhàn điếu, kỳ tứ. So với 7 bài Lư Khê nhàn điếu đã được biết tới, bài này dùng vần Ngũ vi, tức bài thứ 5 trong 30 bài thơ Lư Khê nhàn điếu, nguyên văn như sau:
Viễn tục thương châu cách thị phi,
Nhĩ lai thê tức ký cừu y.
Yên khai viễn phố kim lân thốc,
Quản lộng tình không bạch vũ phi.
Đoản trạo di thời phù đãng dạng,
Trường ca đáo xứ tứ y vi.
Đắc ngư nhất tiếu tần lai khứ,
Thả bả ty luân quyện tịch huy.
Tạm dịch:
Một cõi sông hồ cách thị phi,
Gần đây nương náu gởi niềm tây.
Sáo vang trời tạnh mây bay tản,
Khói rẽ bờ xa sóng bủa vây.
Chèo ngắn đôi khi trôi với nước,
Ca dài khắp chốn ý như say.
Lại qua được cá cười trên sóng,
Cứ nắm dây câu kéo tịch huy.
***
Là một bộ phận quan trọng của văn học Hán Nôm Việt Nam ở Đàng Trong và là người khai sinh cho văn học thành văn Việt Nam trên vùng Nam Bộ, thơ văn Chiêu Anh Các cũng đồng thời là một hiện tượng văn hóa đáng được quan tâm trên nhiều phương diện. Nhưng như tình hình tập Minh bột di ngư đã ít nhiều cho thấy, phần lớn tác phẩm của Mạc Thiên Tích và Tao đàn Chiêu Anh Các lại bị rơi vào cảnh đoạn giản tàn biên quá sớm. Trong khi đó, cả Hội thảo 250 năm Tao đàn Chiêu Anh Các ở Kiên Giang năm 1986 lẫn Hội thảo Di sản văn hóa Hà Tiên - Bảo tồn và phát triển ở Hà Tiên tháng 9.2009 mới đây đều không có sự bổ sung tư liệu - văn bản nào đáng kể so với những gì người ta đã biết qua Văn học Hà Tiên của Đông Hồ trước ngày giải phóng. Đây là điều đáng buồn hay đáng lo đối với những người quan tâm tới di sản văn học Hán Nôm Việt Nam?
Chú thích:
(1) Xem thêm bản dịch bài Lư Khê nhàn điếu phú của Cao Tự Thanh trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 7, Bùi Duy Tân chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1997, tr.778-786.
(2) Xem thêm Cao Tự Thanh: "Thêm bốn bài thơ Lư Khê nhàn điếu của Mạc Thiên Tích", Tạp chí Hán Nôm, số 3, 1996./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 68-71)