VI | EN
Bài tựa Cổ duệ từ của Miên Thẩm (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 65-73)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 65-73)

BÀI TỰA CỔ DUỆ TỪ CỦA MIÊN THẨM

PHẠM VĂN ÁNH

ThS, Viện Văn học.

Từ vốn du nhập vào Việt Nam khá sớm, bắt đầu từ bài Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu, sáng tác năm 987 nhân dịp tiễn sứ giả nhà Tống là Lí Giác về nước. Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư là tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự tiếp nhận thể loại từ trong văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm lập ý tinh kì, thượng phiến và hạ phiến hô ứng với nhau một cách chặt chẽ, từ ngữ bóng bẩy, được Lê Quý Đôn ca tụng là “Ngôn từ uyển chuyển hoa mĩ, có thể vốc được” (Toàn Việt thi lục - Lệ ngôn); cho thấy ngay ở giai đoạn đầu tiên tiếp nhận thể loại từ, trình độ chế từ, điền từ của từ nhân Việt Nam ta đã đạt đến một trình độ tuyệt cao. Đáng tiếc rằng trong thời Lí - Trần, thể loại này không có điều kiện phát triển mạnh, hiện nay, theo tư liệu hiện còn, ngoài bài từ của Khuông Việt, thư tịch Hán Nôm chỉ lưu lại được một bài từ tàn khuyết, viết theo điệu Tây giang nguyệt của Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang mà thôi. Bẵng đi một thời gian dài, phải đến thời Lê Trung hưng, thể loại này mới xuất hiện trở lại với các bài từ của một con người mang khát vọng hào kiệt, đó là Phùng Khắc Khoan. Tác phẩm từ của ông được chép trong Ngôn chí thi tập. Vào khoảng 50 năm cuối thế kỉ XVIII, thể loại từ dần thu hút sự chú ý của nhiều tác giả lớn đương thời, số lượng tác phẩm có nhiều nét khả quan hơn so với giai đoạn trước song cơ hồ chưa có tác giả nào thực sự dụng công đối với thể loại này, bằng chứng là trong giai đoạn này, chưa thấy xuất hiện các từ tập chuyên biệt. Sang thời Nguyễn, thể loại từ được các tác giả sáng tác một cách thường xuyên hơn, số lượng tác phẩm nhiều hơn tất cả tác phẩm của các giai đoạn trước cộng lại, đã xuất hiện ít nhất hai từ tập chuyên biệt là Mộng Mai từ lục của Đào Tấn và Cổ duệ từ của Miên Thẩm. Có thể nhận thấy, trọng tâm sáng tác từ thời Nguyễn rơi vài khoảng nửa sau thế kỉ XIX, đặc biệt sôi nổi ở khu vực Kinh thành Huế. Đương thời, các tác gia cung đình như Tự Đức, Miên Thẩm, Miên Trinh, Mai Am, Tử Dụ Nguyễn Miên Khoan… đều từng sáng tác theo thể loại này. Bên cạnh việc sáng tác, họ còn có những ý kiến bàn luận, đánh giá về thể loại từ… ít nhiều mang giá trị lí luận từ học. Đáng tiếc là trước tác của họ hiện đã mất mát khá nhiều nên việc tổng kết thành tựu tác từ và quan niệm từ học của họ gặp phải không ít khó khăn.

Trong các từ gia Việt Nam, Miên Thẩm là từ gia lớn nhất tác phẩm từ hiện còn lên đến 104 bài. Một bộ phận sáng tác từ của Miên Thẩm trong Cổ duệ từ, gồm 13 bài đã được Phan Văn Các giới thiệu, phiên dịch. Tuy nhiên, khi giới thiệu các tác phẩm trong Cổ duệ từ, Phan Văn Các đã không dịch phần lời tựa tác phẩm này. Cũng có thể Phan Văn Các chỉ dựa vào tư liệu Trung Quốc có chép lại Cổ duệ từ (sách Vực ngoại từ tuyển) để phiên dịch mà không để ý rằng lời tựa tác phẩm vẫn còn được chép trong Thương Sơn ngoại tập. Lời tựa Cổ duệ từ là phần rất quan trọng, vừa có giá trị về từ học, vừa có thể thông qua đó để tìm hiểu quan niệm sáng tác của tác giả. Chính vì lí do đó, dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn bài tựa này.

! , ; , .

: , . , . : , . , ; , . , . , .

, , . , . , . : , .

: , ; , . , . , . , . , , , , , , , .: , . , , ; , , . (), , , , , , , 作馬. 調, , : , ; , . , .

! , ; , . , . , . , . , . , , , , , .

: , . , , ? , 君言. , ; , . , . , , , . 調, 調; , .

Phiên âm:

CỔ DUỆ TỪ TỰ TỰ

Phù! Ngự thiện lương nhi bắc, dữ Sở ly; chúng hưu nhất phó chi nhàn, cầu Tề bất khả.

Bộc: Sinh tòng Nam quốc, cách đoạn Trung nguyên. thù bát phương chi âm, kiêm thất tứ thanh chi học. Gia : Văn phi nhạc, kiến tịnh thị Nho. Sức cổ chung nhi tạp tác, thùy vi thức khúc chi nhân; đàm tính mệnh tương cao, bất tiết thanh chi nghiệp. do nhược quản, phiên hỉ điền từ. Tòng nhũ nhiễm ngôn chi, công chuyết khả tri .

Ta phù, cổ nhân bất kiến, nhạc ý nan vong. Cẩu chí lự chi độc chuyên, tinh thần chi dao khế. Hòe du sổ biến, khiếp diễn toại đa. Thực dục: hưởng tệ trửu vi trân, đối bạch vân nhi tự duyệt nhi .

Khách hữu vị: Nga Hoàng kiểm phổ, do tầm Thiên Bảo di thanh; Tống Duyện văn chung, nhưng hoạch Thái Thường cổ khí. Huống Chu Đức Thanh chi vận, bản Trương Thúc Hạ chi Từ nguyên. Phổ chú vu Khương Quỳ, chỉ minh ư Lục Phụ. Tiền nhi Thảo Song sở tập, hậu chi Trúc Tra sở sao. Thử ngoại tắc Tống - Nguyên ngữ nghiệp sổ bách gia; Minh - Thanh Túy biên sổ thập bộ, dư mị bất tuế thiêm cưu duyệt, nhật tại ngâm nga, tuy Hà Gian kĩ nữ, vị bị quản huyền, nãi Hành Dương cân tương, phả doanh quyển trật. Đãn hậu: Quảng Ninh thiện địch, Giang Hạ công cầm. Bắc nam cố viễn, nhi ca hầu kháng đội, đương bất thù đồ; nhã Trịnh năng phân, nhi bút ý thanh không, tự nhiên cao phẩm. Sở vị quá phiến (nhất tác biến), trạch xoang, phú tình, dụng sự chi ngôn, Khứ kháng nghi ức nhi hậu dương, Nhập xúc quý đoạn nhi hậu tục, vị tất cử giai Hà Hán, toàn thị hồ lô, hề bất thí mại Hòa Thành Tích chi si phù, cưỡng tác Mã Tử Hầu chi giải sự. Quảng di đồng điệu, tương dữ hòa ca, thứ cơ: hậu sinh hữu tác, tá dĩ vi tất lộ lam lũ chi tư; tuyệt nghiệp vô mẫn, đãi hoặc bị mã bột ngưu sưu chi dụng dã. Thủy văn ngôn nhi kiều thiệt, viên nạp thủ nhi môn tâm.

Phù, bát nguyệt Giang Nam chi mĩ, vi thế sở xưng; “Nhất trì xuân thủy” chi công, can khanh hà sự? Liễu Tam Biến chi “Hiểu phong tàn nguyệt”; Tả Dữ Ngôn chi “Trích phấn tha tô”, phong thượng như tư, tẩu cương mạc cập. Thiết đồ khoa kỳ giới lạc, khủng bất miễn như họa long. Vô dĩ tắc thượng hữu nhất ngôn, hoặc viên tiền lệ. Tự tích thi mĩ Nam âm chi cập thược, kí bất tiếm sai, dĩ tư Dực chủ Nhạc phủ chi vi tinh, hựu kì phân dã, túng phi giai trung câu trung củ, diệc đương tại nhược tồn nhược vong.

Kim Thiên tử: Lễ nhạc truy tu, văn minh dĩ hóa, khởi ưng phúc viên chi quảng, nhi từ học độc vô vực bốc chi đa, nhi cổ âm bất tự dã hồ? Tắc thần kĩ cực tri mạc đãi, Cố quân ngôn diệc hữu sở nghi. Nguyên Thứ Sơn Thủy nhạc, vô Cung vi giả hà phương; Hứu Hữu Phu Khuê Đường, viết “Khoản nãi” giả kháp hảo. Tạ Chân Trường chi tri ngã, tuân Tử Hạ chi khởi dư. Cức phù đại bạch, dẫn túc khấu huyền, lữu hoán Tiểu Hồng, ứng thanh đãng tương. Tức án Tống - Nguyên nhạc chương tứ thất điệu, câu điệu vi Ngư phủ chi ca; lãng tụng bài ưu tiểu thuyết sổ thiên ngôn, bất hạ cố thiên nhân chi mục dã.

Dịch nghĩa:

LỜI TỰ TỰA TẬP CỔ DUỆ TỪ

Ôi, giỏi đánh xe, có ngựa tốt mà đi về hướng Bắc, cách nước Sở càng xa1; nhiều người ồn ào, một người dạy, mong nói tiếng nước Tề chẳng được2.

Tôi đây: sinh ở Nam quốc, cách biệt Trung nguyên3. Đã khác biệt tiếng nói tám hướng4, lại thất truyền sự học bốn thanh5. Thêm nữa: Nghe đều là nhạc, thấy thảy là Nho. Trang sức bằng chuông trống mà chế tác hỗn tạp, ai là người hiểu khúc điệu đây?6; bàn về tính tình thì cùng cho thế là cao, chẳng thiết gì nghiệp học ỷ thanh nữa7. Vì đâu cầm mà bút, lại thích điền từ8? Từ sự tẩm nhiễm ấy mà nói, thì sự khéo vụng khá biết được vậy.

Ôi, người xưa nào thấy, ý nhạc khó quên. Chỉ biết dốc chí lự cho chuyên nhất, mong tinh thần có thể khế hợp với thuở đã xa. Hòe du mấy phen biến đổi9, rương đựng thực cũng đã nhiều10. Thực muốn: coi cái chổi cùn của mình như của báu, đối diện với mây trắng đặng tự vui mà thôi.

Khách có kẻ nói: Nga Hoàng xét nhạc phổ, còn tìm về được dư thanh của thời Thiên Bảo11; Tống Duyện nghe tiếng chuông, vẫn tìm được nhạc khí cổ của Thái thường tự12. Huống nữa sách Âm vận của Chu Đức Thanh13, gốc ở sách Từ nguyên của Trương Thúc Hạ14. Chú từ phổ cậy ở Khương Quỳ15, sáng yếu chỉ nhờ vào Lục Phụ16. Trước do Thảo Đường biên tập17, sau thì Trúc Tra chép sao18. Ngoài ra còn, mấy trăm nhà ngữ nghiệp19 thời Tống - Nguyên; vài chục pho Túy biên20 thời Minh - Thanh, không năm nào tôi không sưu tập, ngày ngày ngâm nga, tuy kĩ nữ Hà Gian cũng chưa đủ để thổi sáo đánh đàn21, như rương nhỏ của Hành Dương, chứa đầy sách vở22. Nhưng sau: người ở Quảng Ninh tài thổi sáo, người ở Giang Hạ giỏi gảy đàn. Bởi bắc nam vốn xa cách, mà giọng hát bổng trầm, vốn chẳng khác đường; nhã tục23 năng phân, mà bút ý thanh không24, tự nhiên cao giá. Cái gọi là phép quá phiến (có chỗ ghi là quá biến), chọn xoang25, lời phú tình, dụng sự26, thanh Khứ cao cần phải kìm rồi mới lên, thanh Nhập dồn dập quý ở chỗ đứt rồi lại nối, chưa hẳn thảy đều là một tấc đến trời27, hay thảy toàn là thùng rỗng kêu to28, thì sao không bán bùa khờ của Hòa Thành Tích29, gượng làm như hiểu chuyện kiểu Mã Tử Hầu30. Truyền rộng mãi sự đồng điệu về sau, cùng nhau hòa nhịp, ngõ hầu: hậu sinh có sáng tác, mượn đó làm xe tre, áo rách31; sự học đã đứt không bị mất, hẳn có tác dụng như nước tiểu ngựa, hay loài khuẩn bé nhỏ32. Thoạt nghe lời mà cứng lưỡi, bèn rụt tay mà nhủ lòng.

Ôi, cảnh đẹp Giang Nam tháng Tám33, được người đời xưng tụng; sự khéo léo của câu “Một ao nước xuân”, can chi đến chàng34. Câu: “Gió sớm trăng tàn” của Liễu Tam Biến35, câu “Nhỏ phấn thoa dầu” của Tả Dữ Ngôn36. Phong khí như thế, theo đòi chẳng kịp. Ví phỏng chỉ khoe chỗ kém cỏi của mình37, e không tránh được việc khoe mẽ38. Không thế thì hãy có một lời, hoặc cứ noi theo tiền lệ. Từ xưa thơ coi tiếng sáo của âm Nam là đẹp39, đã không hề tiếm sai, lấy sao Dực40 này làm sao chủ cho Nhạc phủ41, lại theo sự phân dã của nó, ví như thảy đều không phải thước tròn thước vuông42, thì cũng đáng để lúc nhớ lúc không vậy.

Nay Thiên tử: Sửa sang lại lễ nhạc, giáo hóa bằng nền văn trị rực rỡ, há chỉ có cương vực mở rộng43, mà riêng từ học44 chẳng nhiều như như cây vực sum suê45, còn âm nhạc cổ không nối lại được nữa chăng? Bởi thế thần đây tuy vốn biết tài năng chẳng theo kịp [người xưa], xét lời Cố quân nói cũng có chỗ phải lẽ46. Thủy nhạc thuyết của Nguyên Thứ Sơn, không có Cung có Chủy thì cũng có hại gì đâu47; tập Khuê Đường của Hứa Hữu Phu, đặt tên là “Khoản nãi” rất hợp48. Cảm tạ Chân Trường hiểu lòng ta49, tin rằng Tử Hạ phát khởi được ý ta50. Vội phạt một chén lớn51, đưa chân gõ mạn thuyền52, khách gọi Tiểu Hồng53, đáp lời khua chèo. Liền án theo 28 điệu54 nhạc chương55 thời Tống - Nguyên, điệu đều là bài hát của Ngư phủ56; đọc lớn mấy ngàn lời tiểu thuyết mua vui57, chẳng đoái đến mắt nhìn của người trời vậy(58).

 

Chú thích:

1. Lấy điển từ Chiến quốc sách: Ngụy vương muốn đánh Hàm Đan, Quý Lương nghe tin can rằng: Nay thần đến đây, thấy có người ruổi ngựa đi về hướng bắc, bảo muốn đến nước Sở, thần bảo: Ông muốn đi nước Sở sao lại đi hướng bắc? Đáp: Tôi có ngựa tốt. Nói: Nhưng đây không phải hướng đi đến nước Sở. Nói: Ta dùng nhiều bề tôi. Lại nói: Tuy thế nhưng đây không phải đường đến nước Sở. Đáp: Người đánh xe ngựa của ta rất giỏi.

Ý nói khi đã sai về phương hướng thì càng có điều kiện tốt càng xa dời mục tiêu.

2. Theo Mạnh Tử - Đằng Văn Công hạ: Mạnh Tử nói với đại phu nước Tống là Đái Bất Thắng rằng: Ngài muốn vua của ngài trở nên tốt lành chăng? Để tôi nói ngài nghe nhé! Nay có một đại phu nước Sở, muốn cho con trai ông ta học tiếng nước Tề, vậy nên mời thày dạy là người nước nào, Tề hay là Sở? Đáp: nên mời thày nước Tề. Mạnh Tử nói: Một người nước Tề làm thày dạy mà nhiều người nước Sở cứ bi bô huyên náo bên cạnh, dẫu hàng ngày đánh nó, bắt nó học tiếng nước Tề cũng không thể được...

3. Trung nguyên: chỉ Trung Quốc.

4. Tám hướng: Bốn hướng chính và bốn hướng theo đường chéo. Đây chỉ chung mọi nơi, mọi hướng.

5. Bốn thanh: tức các thanh Bình, Thượng, Khứ, Nhập.

Với thể loại từ, xét trong sự khu biệt với thơ, Lí Thanh Chiếu cho rằng ngoài tứ thanh, từ còn phân ra lục luật, thanh - trọc…

6. Thiên Dương Hóa sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: “Nói về nhạc, nói về nhạc, là nói về chuông và trống chăng?”.

7. Nghiệp học ỷ thanh: Từ ban đầu tòng thuộc vào âm nhạc, viết từ phải nương theo bản nhạc có sẵn (ỷ thanh) để điền từ (lời). Do đó, “nghiệp học ỷ thanh” tức là sự học về cách làm từ.

8. Điền từ: Do từ là phần lời của các bản nhạc, nên sáng tác từ là điền lời vào các bản nhạc có sẵn, thao tác đó gọi là “điền từ” (Sau khi từ nhạc thất truyền, các sách từ phổ xuất hiện, sáng tác từ hoặc mô phỏng theo các tác phẩm có trước, hoặc điền lời theo các khung cách luật đã được khái quát trong các sách về từ phổ, như: Thi dư đồ phổ, Bạch Hương từ phổ, Từ luật, Khâm định từ phổ…).

9. Hòe du mấy phen biến đổi: Người xưa mồi vào gỗ để đánh lửa, mùa xuân thì dùng đến gỗ du, mùa đông dùng gỗ cây hòe, nhân đó dùng “hòe du” để chỉ sự biến đổi của tháng năm.

10. Rương đựng thực cũng đã nhiều: “Rương đựng”, nguyên văn là “khiếp diễn”, nghĩa là cái rương đan bằng tre, hình vuông, dùng đựng con chó rơm dùng vào việc tế lễ. Sách Trang Tử - Thiên vận viết: “Ôi, con chó rơm khi chưa bày ra để hành lễ, được đựng trong cái rương tre hình vuông”. Mỗi năm người ta dùng chó rơm để hành lễ, do đó dùng hình ảnh “rương đựng thực cũng đã nhiều” chỉ sự biến đổi của tháng năm.

11. Nguyên bản khắc sai hai chữ “Thiên Bảo ” thành “Thiên Bảo天葆”.

Nga Hoàng là vợ của Nam Đường hậu chủ Lí Dực (từ gia kiệt xuất thời Ngũ đại). Trước đó, Đường Huyền Tông từng chế ra khúc Nghê Thường vũ y, song trải thời gian, đến thời Ngũ đại thì mai một. Nhạc phổ tàn khuyết của bản Nghê Thường vũ y rơi vào tay Lí Dực, sau được Nga Hoàng bổ sung, chỉnh lí và cho diễn tấu.

12. Tống Duyện: người thời Đường. Theo Thái bình quảng kí: Thái thường lệnh Tống Duyện những người rành âm nhạc, đời gần đây không ai sánh bằng. Thái thường tự bị mất điệu “Chủy”, Thẩm Duyện tra cứu âm luật của chuông mà tìm lại được.

13. Chu Đức Thanh (1277- 1365): người thời Nguyên, tác giả của sách Trung nguyên âm vận.

14. Trương Thúc Hạ: tức Trương Viêm (1248-1319?), từ gia thời Tống - Nguyên, tác giả sách Từ nguyên (gồm 2 quyển, 29 mục, khảo về lã luật, từ nhạc; bàn về phong cách, đặc trưng thể loại…).

15. Khương Quỳ (1155-1221): từ gia nổi tiếng thời Nam Tống. Nhà từ luận Vương Quốc Duy trong Nhân gian từ thoại đánh giá rất cao về Khương Quỳ, cho là: Từ nhân xưa nay giỏi về cách điệu không ai bằng Bạch Thạch đạo nhân – Khương Quỳ.

16. Lục Phụ: từ nhân thời Nguyên, tác giả sách Từ chỉ, tương tự như thầy mình là Trương Viêm, ông cũng đánh giá rất cao về tác phẩm từ của Khương Quỳ. Từ chỉ là sách chịu ảnh hưởng rất sâu sắc bởi bộ Từ nguyên của Trương Viêm.

17. Thảo Đường: tên hiệu của từ gia Chu Mật (1232-1298) thời Nam Tống, tác giả sách Thảo Đường vận ngữ, 6 quyển.

18. Trúc Tra: tên hiệu của Chu Di Tôn (1629-1709), từ gia nổi tiếng thời Thanh.

19. Nhà ngữ nghiệp: tức các từ gia. Ngữ nghiệp là một tên gọi khác của thể loại từ. Theo Vương Chước trong Bích kê mạn chí (quyển II), “Trần Vô Kỉ (tức từ gia Trần Sư Đạo) sáng tác mấy chục bài [từ], gọi là ngữ nghiệp”.

20. Túy biên: tức Hoa Đường túy biên, là một tuyển tập từ do Trần Diệu Văn thời Minh tuyển chọn và biên tập, gồm 12 quyển, chủ yếu tuyển tác phẩm từ thời Đường - Tống, thảng hoặc có chọn thêm một số ít tác phẩm từ thời Nguyên.

21. Theo Lạc Dương thành tây Già lam kí của Dương Huyễn Chi, Hà Gian vương là Sâm có đến 3 trăm kĩ nữ, thảy đều là hạng sắc nước hương trời.

22. Hành Dương vương tên là Quân ở nước Tề thường tự tay viết bộ Ngũ kinh nhỏ, cho vào rương nhỏ, để tiện cho việc đọc sách.

23. Nhã tục: nguyên là “nhã Trịnh”, nhạc nước Trịnh vốn bị coi là dâm bôn.

24. Thanh không: thuật ngữ của Trương Viêm thời Tống trong sách Từ nguyên, cho rằng: “từ coi trọng thanh không, không coi trọng chất thực (nệ vào sự thực); thanh không thì cổ nhã, cương kiện; chất thực thì trì trệ, u tối”. Trương Viêm đề cao thanh không, coi tác phẩm từ của Khương Quỳ là mẫu mực cho yếu tố này, cho rằng các bài từ điệu: Ám hương, Sơ ảnh, Dương Châu mạn “không chỉ thanh không, mà còn tao nhã, đọc lên khiến độc giả tinh thần bay bổng”. Lại cho từ của Khương Quỳ “như mây nội lẻ bay, qua lại không vết tích”.

25. Quá phiến (hay Quá biến): một bài từ thường do hai đoạn kết hợp thành. Đoạn đầu gọi là thượng phiến, đoạn sau gọi là hạ phiến. Câu đầu của phần hạ phiến phải thừa tiếp ý trước, tiếp tục phát triển, có tính chất liên kết hai phiến, cho nên được gọi là quá phiến. Viết tốt quá phiến là một khâu rất quan trọng trong việc tác từ. Chọn xoang: tức chọn điệu từ (từ điệu) để điền lời.

26. Phú tình, dụng sự: Phú tình: bày tỏ tình cảm (Trương Viêm trong Từ nguyên, khi nói về “tình” có hai mục riêng là “phú tình” và “ly tình”). Dụng sự: tức sử dụng điển cố. Từ vốn ban đầu không chuộng dùng điển cố. Về sau, để tăng cường tính hàm súc và điển nhã cho từ, tương tự các tác phẩm thơ, các từ nhân cũng tăng cường sử dụng điển cố. Lí Thanh Chiếu gọi việc dùng điển là “cố thực”, Trương Viêm gọi là “dụng sự”.

27. Một tấc đến trời: nguyên văn là “Hà Hán”, có nghĩa là sông Ngân, nhưng cũng ví với những lời nói phù phiếm, khoa trương, không đáng tin cậy.

28. Thùng rỗng kêu to: nguyên văn là “hồ lô”, nghĩa là quả bầu. Hoàng Đình Kiên, thi gia, từ gia, thư pháp gia nổi tiếng thời Tống, một trong “Tô môn tứ đệ tử”, từng viết cho thầy tướng Hoàng Sinh một bức như sau: “Hoàng Sinh từng xem tướng cho ta, nói ta sẽ được thăng lên quan nhị phẩm, thọ 80 tuổi, thực là giống bầu to vậy”. Hoàng Sinh cũng không xem kĩ, vui mừng nhận lấy. Hoàng Đình Kiên sau có giải thích với mọi người rằng: “Năm trước tại của Tướng Quốc ở Kinh thành, ta có thấy người bán bầu, trên lưng là một quả bầu cực lớn, người ta trông thấy đều trả giá cao để mua, nhưng đến mùa xuân thì nó chỉ ra được quá bầu bé xíu tầm thường”. Ở đây, Hoàng Đình Kiên dùng hình ảnh quả bầu để nói thuật xem tướng của Hoàng Sinh là quả bầu lớn mà rỗng tuếch, không đáng tin.

29. Hòa Thành Tích: tức Hòa Ngưng (898-955), từ gia thời Ngũ đại, bình sinh được xưng tụng là “Khúc tử tướng công”. Tác phẩm hiện còn 20 bài từ chép trong Hoa gian tập.

30. Mã Tử Hầu: người thời Hán Thành đế, tự coi mình là người rành âm nhạc, kì thực chỉ là một anh khờ, bị mọi người trêu cợt mà không hay biết.

31. Xe tre, áo rách: nguyên văn là “tất lộ lam lũ”, nghĩa là chiếc xe đan bằng tre, chiếc áo rách, chỉ sự khai mở ban đầu đầy khó khăn.

32. Nguyên văn là “mã bột ngưu sưu”, nghĩa là nước tiểu ngựa và loài khuẩn nhỏ bé, đều có thể làm thuốc, thường dùng để ví với những thứ tuy nhỏ bé, không đáng giá nhưng lại hữu dụng cho mọi người.

33. Cảnh đẹp Giang Nam tháng Tám: lấy ý từ câu: “Bát nguyệt Giang Nam phong nhật mĩ” (Tháng Tám Giang Nam phong cảnh đẹp) trong bài Quế hoa từ, điệu Thanh bình lạc của từ gia Bành Tôn Duật thời Thanh. Đây là bài từ được người đương thời rất yêu thích.

34. Một ao nước xuân: nguyên văn là “Nhất trì xuân thủy”, lấy từ câu “Phong tác khởi/ Xuy trứu nhất trì xuân thủy” (Gió lùa về/ Thổi gợn một ao nước xuân) trong bài từ điệu Yết kim môn của Phùng Diên Tị đời Ngũ đại. Mặt nước ao xuân lay động là do gió thổi, không liên quan gì đến ai. Vì thế câu này còn được dùng để chỉ những thứ không liên quan gì đến ta.

35. Liễu Tam Biến (987-1055): từ gia nổi tiếng, chuyên nghiệp nhất thời Bắc Tống, tiêu biểu cho phái từ Uyển ước. Câu “Gió sớm trăng tàn”, nguyên văn là “Hiểu phong tàn nguyệt”, vốn trích từ câu: “Dương liễu ngạn hiểu phong tàn nguyệt” (Bờ dương liễu gió sớm trăng tàn) trong bài từ điệu Vũ lâm linh nổi tiếng của ông. Các nhà từ luận thời quân chủ và các nhà nghiên cứu từ học thường dẫn bài từ trên của Liễu Vĩnh để bàn về phong cách từ học của Liễu Vĩnh trong sự so sánh với phái từ Hào phóng do Tô Thức chủ trương.

36. Tả Dữ Ngôn: tức Tả Dự, từ nhân thời Tống. Phong cách từ của ông ôn nhu, lả lướt, được người đời xưng tụng là “Nhỏ phấn thoa dầu Tả Dữ Ngôn (Trích phấn sai tô Tả Dữ Ngôn).

37. Chỗ kém cỏi của mình: nguyên văn là “Giới lạc”, nghĩa là con lạc đà ghẻ, chỉ tài năng kém cỏi.

38. Khoe mẽ: nguyên văn là “họa long”, nghĩa là con rồng vẽ, ý nói chỉ có cái mẽ bề ngoài mà không có thực chất.

39. Hậu Hán thư - Quyển 51: Liệt truyện đệ tứ thập nhất, dẫn lời của Tiết Quân nói: Nhạc của Nam di gọi là Nam. Nhạc của tứ di chỉ có “Nam” khả dĩ hòa hợp với nhã nhạc, thanh âm của con người ở đó cùng sáo của họ không hề có sự tiếm sai vậy.

40. Sao Dực: một trong Nhị thập bát tú. Sao Dực thuộc chòm Chu Tước ở phương Nam (Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn).

41. Nhạc phủ: Cơ quan phụ trách về âm nhạc thời Hán, chuyên việc thu thập các bài thơ để phối nhạc. Do trước đây, một số từ gia thời quân chủ cho rằng thể loại từ phát sinh từ nhạc phủ nên cũng gọi thể loại từ là nhạc phủ.

42. Thước tròn thước vuông: ý nói cái khuôn thước, mẫu mực.

43. Cương vực: nguyên văn là “Bức viên ”. Chữ “viên”, nguyên bản khắc nhầm bộ “phụ” thành bộ “cân”. Hai chữ “Bức viên” lấy chữ từ thơ Trường phát trong phần Thương tụng của Kinh Thi: “Ngoại đại quốc thị cương/ Bức viên kí trường外大國是疆/ 幅隕既長”, nghĩa là: Lấy các nước chư hầu bên ngoài làm biên giới/ Cương vực đã rộng lớn.

44. Từ học: ban đầu chỉ sự học về từ chương nói chung, đến thời Minh - Thanh mới chuyên chỉ việc điền từ. Điền Đồng Chi thời Thanh trong tác phẩm Tây phố từ thuyết cho rằng cái đạo ỷ thanh (điền từ), nhân “cung điệu thất truyền, từ học cũng dần rối loạn vậy”. Các học giả Trung Quốc từ thời cận đại trở đi còn coi từ học là một lĩnh vực học thuật chuyên biệt, lấy từ và các vấn đề hữu quan của nó làm đối tượng nghiên cứu.

45. Cây vực sum suê: nguyên là “Vực bốc”, nghĩa là cây vực mọc thành bụi đan xen vào nhau, cũng là tên một bài trong phần Đại nhã của Kinh Thi, ca ngợi thịnh đức của vua Văn Vương nhà Chu; cũng có khi dùng chỉ hiền tài đông đúc.

46. Cố quân: chỉ Cố Ung, người thời Tam quốc. Mục Cố Ung truyện, trong phần Ngô chí sách Tam quốc chí ghi: “Cố quân không nói [thì thôi], đã nói ắt là trúng”. Bùi Tùng Chi chú dẫn Giang Biểu truyện của Ngu Phổ thời Tấn rằng: “Tôn Quyền nói: Cố công vui mừng, việc này hợp lẽ vậy; như ông ta không nói thì việc này chưa ổn thỏa, quả nhân cần xem xét lại đã.

47. Nguyên Thứ Sơn: tức Nguyên Kết (919-772), người thời Đường, tự là Thứ Sơn, hiệu là Mạn Tẩu. Tác phẩm có Thủy nhạc thuyết. Nhận xét về tác phẩm này, từ gia Nguyên Hiếu Vấn thời Kim cho là: “Thử xem Thủy nhạc thuyết của Nguyên Kết thời Đường: vốn chẳng có âm hưởng của Cung, Chủy, nhưng cũng tự thành thứ nhã nhạc tự nhiên giữa khoảng mây núi”.

48. Hứa Hữu Phu: từ gia thời Nguyên, cùng Hứa Hữu Nhâm soạn sách Khuê Đường Khoản nãi tập (2 quyển).

49. Chân Trường: tức Lưu Chân Trường. Thế thuyết Tân ngữ dẫn lời của Vương Trọng Tổ nói: “Chân trường hiểu ta, còn hơn ta tự hiểu về mình”.

50. Thiên Bát dật sách Luận ngữ ghi: Tử Hạ hỏi [Khổng Tử]: Nét cười tươi quyến rũ, cặp mắt đẹp rạng ngời, trên nền trắng vẽ nên bức họa nhiều màu sặc sỡ, là nghĩa thế nào? Khổng Tử đáp: phải có nền trắng rồi sau mới vẽ nên bức tranh. Thưa: [Ý nói] lễ là cái có sau chăng? Khổng Tử khen: Phát khởi được ý ta chính là trò Thương vậy. Thương có thể bắt đầu cùng ta nói về Thi rồi đó.

51. Nguyên văn là “phù đại bạch”. Theo Thuyết uyển của Lưu Hướng, Nguỵ Văn hầu cùng các đại thần uống rượu, có đưa ra quy định, ai không cạn chén thì bị phạt một chén lớn. “Phạt một chén lớn”, nguyên phải nói là “phạt nhất đại bôi 罰一大杯”, nhưng vì rượu đã ngà ngà nên nói nhịu thành “phù nhất đại bạch 浮一大白”.

52. Lấy ý từ Li tao của Khuất Nguyên, ngư phủ gõ mạn thuyền hát: Sông Thương lang trong xanh chừ, ta giặt dải mũ; sông Thương Lang ngầu đục chừ, ta rửa chân.

53. Tiểu Hồng: con hầu, ca kĩ của từ gia Khương Quỳ thời Tống. Thơ Khương Quỳ, bài Thùy hồng có câu: “Tự tác tân từ vận tối kiều/ Tiểu Hồng đê xướng ngã xuy tiêu”, nghĩa là: Mới làm bài từ vần tuyệt diệu/ Kiểu Hồng ca khẽ, ta thổi tiêu.

54. 28 điệu: các cung điệu âm nhạc, như: chính cung, cao cung, trung lã cung, đạo điệu cung, nam lã cung, tiên lã cung, hoàng chung cung… Nguyên chú ghi: “phàm cái gọi là ‘tục nhạc’ gồm 28 điệu”.

55. Nhạc chương: đây dùng với nghĩa là thể loại từ.

56. Bài hát của Ngư phủ: Từ tập này của Miên Thẩm mang tên là Cổ duệ từ, nghĩa là tập từ của người gõ mái chèo, lấy ý từ Li tao của Khuất Nguyên. Trong từ cũng có điệu Ngư phủ, là điệu từ rất nổi tiếng, được sáng tác từ thời Đường (như chùm từ điệu Ngư phủ của Trương Chí Hòa thời Đường ảnh hưởng lan tỏa sang cả Nhật Bản), thường dùng viết về cuộc sống ẩn dật.

57. Tiểu thuyết mua vui: nguyên văn là “bài ưu tiểu thuyết”, một thể loại văn học có tính chất hài hước.

58. Đây là một bài tựa dùng nhiều điển cố, có thể xem là một bài văn khó. Do vậy, trong quá trình dịch chú, dù đã có nhiều cố gắng song có thể chúng tôi không tránh khỏi có chỗ lầm lẫn, rất mong được bạn đọc gần xa phủ chính cho.

                                                                            (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 65-73)

Phạm Văn Ánh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm