VI | EN
Hiểu thêm về ý nghĩa các từ "Bà ngựa", "Bồ cóc", "Là đá" qua bài Nam dược quốc ngữ phú (Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (91) 2008; Tr.54-57)
tc 91

HIỂU THÊM VỀ Ý NGHĨA CÁC TỪ CỔ "BÀ NGỰA", "BỒ CÓC", "LÀ ÐÁ" QUA BÀI NAM DÝỢC QUỐC NGỮ PHÚ

TS. NGUYỄN THỊ LÂM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Nam dýợc quốc ngữ phú (Bài phú thuốc Nam bằng quốc âm - NDQNP) nằm ở phần ðầu quyển Thýợng, sách Hồng Nghĩa giác tý y thý(1). Hiện nay, Thý viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lýu giữ ðýợc ba bản: hai bản in mang các ký hiệu: AB.288 (quyển Thýợng), AB.306 (quyển Hạ). Các bản in này ðều rách nát phần ðầu và phần cuối, bài NDQNP cũng gần nhý mất hẳn 16 ðoạn ðầu. Ðây là bản ðýợc in lại vào nãm 1723 thời Lê Dụ Tông (1705-1728)(2). Còn bản có ký hiệu A.162 (gồm cả hai quyển Thýợng và Hạ) tuy không cho biết tên ngýời sao chép nhýng trong bài tựa có ghi rõ: “Ngày lành, cuối mùa hạ nãm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717)”. Bài NDQNP mà chúng tôi nhắc ðến ở ðây là cãn cứ vào bản này. Ngoài ra, còn một bản có tên Nam dýợc phú, ký hiệu AB.545 và một bản nữa ở sách Y thý, cũng là Nam dýợc quốc ngữ phú, ký hiệu VHv.38, nhýng tất cả ðều là những bản chép tay về sau, theo sách Hồng Nghĩa giác tý y thý và cũng không chép ðầy ðủ nên chỉ có thể dùng làm tài liệu tham khảo. Tác giả bài phú là Thiền sý Tuệ Tĩnh(3) (tức Nguyễn Bá Tĩnh), quê làng Nghĩa Phú, tổng Vãn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thýợng Hồng, trấn Hải Dýõng. Gần ðây ðã có những ý kiến khẳng ðịnh ông là ngýời sống vào khoảng thế kỷ XIV, thời Trần Dụ Tông (1345-1368)(4). NDQNP có lẽ là tên gọi ban ðầu do tác giả ðặt. Về sau, ðể cho dễ nhớ ngýời ta mới mới gọi tắt cho gọn là Nam dýợc phú (Phú thuốc Nam). Bài này ðýợc làm theo thể Ðýờng phú, dài 24 ðoạn (ứng với 24 vần), 516 câu. Ngoài giá trị về mặt y học, bài phú còn cung cấp ðýợc nhiều cứ liệu quý báu về chữ Nôm cổ, từ ngữ cổ giúp ích cho việc nghiên cứu quá trình phát triển của chữ Nôm và lịch sử tiếng Việt. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin ðề cập ðến ba trýờng hợp là "Bà ngựa", "Bồ cóc" và "Là ðá". Ðây là ba từ ðã từng xuất hiện trong các tác phẩm Nôm từ thế kỷ XVII trở về trýớc và ý nghĩa của nó ðã ðýợc các nhà nghiên cứu khẳng ðịnh, vấn ðề týởng nhý chẳng có gì cần phải bàn luận nữa. Tuy nhiên, khi ðọc kỹ bài phú, chúng tôi nhận thấy tùy từng vãn cảnh, chúng còn mang những nét nghĩa khác với cách hiểu truyền thống mà những ngýời nghiên cứu và học tập chữ Nôm cũng nên quan tâm.

1. Bà ngựa

Theo Từ ðiển từ cổ(5) của Výõng Lộc và Từ ðiển từ Việt cổ(6) của Nguyễn Ngọc San thì “bà ngựa” ðều có nghĩa là “ngựa”, vốn bắt nguồn từ cách ghi tiếng Việt cổ [Mangõ] (ngựa) hiện nay còn thấy trong các ngôn ngữ của một số dân tộc ít ngýời ở vùng núi khu IV cũ, nhý tiếng Pakatan chẳng hạn. Một số ví dụ:

- Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chãn (Quốc âm thi tập, b.1)

- Rợ nát khôn cầm bà ngựa dữ (Quốc âm thi tập, b.137)

- Vãn chói chói gấm trên bà ngựa (Thập giới cô hồn quốc ngữ vãn)…

Trong NDQNP, “bà ngựa” xuất hiện cả thảy 4 lần tại các ðoạn sau:

- Ðoạn 7: Xích tiểu ðằng là dây rãng bà ngựa

- Ðoạn 19: Bà ngựa là ðýờng lang, tục danh thiên mã

- Ðoan 20: Bà ngựa cây dâu là tang phiêu tiêu, chỉn con cái ðýờng lang

- Ðoạn 23: Mã hành lấy não bà ngựa.

Trong những trýờng hợp trên, chỉ có trýờng hợp ở ðoạn 23 là có ý nghĩa nhý cách hiểu truyền thống. Trýờng hợp ở ðoạn 7, nếu xét mặt ý nghĩa trong mối týõng quan với tên gọi của từ Hán Việt týõng ứng thì ở ðây phải hiểu là một loài cây leo hoặc cây bò sát mặt ðất có tên gọi “dây rãng bà ngựa”. Các trýờng hợp ở ðoạn 19 và 20 lại cho thấy “bà ngựa” ðýợc hiểu là con “bọ ngựa”, một thứ ðộng vật màu xanh, biết bay, bụng to và có hai càng giống nhý hai lýỡi hái, sống trên cây, ãn sâu bọ(7). Nhý vậy, ý nghĩa của từ “bà ngựa” trong những trýờng hợp nêu trên quả có khác với cách hiểu “bà ngựa” (ngựa) là một loài thú có guốc, chân chỉ có một ngón, chạy nhanh, nuôi ðể cýỡi hoặc kéo xe(8). trong những tác phẩm vãn học và các từ ðiển từ cổ ðã ghi nhận.

2. Bồ cóc 𧋉

Từ này thỉnh thoảng cũng thấy xuất hiện trong các vãn bản Nôm có niên ðại khá sớm và ðýợc ghi nhận trong hai cuốn từ ðiển từ cổ nói trên. Chúng ðều mang một ý nghĩa thống nhất, "bồ cóc": con cóc. Ví dụ:

- Thiềm thừ bồ cóc thanh thay,

Quảng hàn cung vắng sánh bày Hằng Nga.

(Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa - Giáp trùng loại ðệ tam thập tứ).

- Ðua nhau ra sức anh hùng,

Dân nhý bồ cóc kêu không ðến trời.

(Thiên Nam ngữ lục, c.1879-1880)

Trong NDQNP, từ “bồ cóc” chỉ xuất hiện 1 lần ở ðoạn thứ 23 trong cụm từ “cỏ bồ cóc” do tác giả dịch thẳng từ âm Hán Việt:

Cỏ bồ cóc là Thiềm thừ thảo

Trýờng hợp này lại cho biết ðây là một thứ cỏ có thể dùng làm thuốc Nam, khác với cách hiểu từ “bồ cóc” ðýợc ghi chép trong các tác phẩm nêu trên và trong các bộ từ ðiển tiếng Việt: “Cóc: (d) ðộng vật thuộc loài ếch nhái, mõm ngắn, da xù xì, thýờng ở cạn”(9). NDQNP còn có những từ chỉ các loài cây cỏ có âm tiết “bồ” ðứng trýớc nhý ở ðoạn thứ 16:

- Bồ tát cãn là cỏ Bồ tát

- Cây Bồ ngýu (ngâu) hiệu ốc Mộc ngýu.

Ðến nay, trong tiếng Việt vẫn tồn tại một số từ thuộc dạng này, ví dụ: bồ câu, bồ nông, bồ kết, bồ quân…

3. Là ðá𥒥

Cũng nhý các từ “bà ngựa”, “bồ cóc”, từ “là ðá” (la ðá) cũng thấy xuất hiện trong các vãn bản Nôm từ thế kỷ XVII trở về trýớc và cũng ðã ðýợc ghi nhận trong những cuốn từ ðiển cổ, nhý Việt - Bồ - La của Alxandre de Rhodes, Từ ðiển Genibrel... Các từ ðiển từ cổ của Výõng Lộc và Nguyễn Ngọc San cũng ðều thống nhất ghi “là ðá” có nghĩa là “ðá”. Từ ðiển chữ Nôm (Nguyễn Quang Hồng chủ biên, Nxb. Giáo Dục, H. 2006) tr.558 ghi: Là ðá, dạng âm cổ của ðá, khoáng thể rắn thành tảng, thành khối, thýờng có ở núi non”. Những ví dụ sau ðây ðã khẳng ðịnh ðiều này:

- Dấu ngýời ði, là ðá mòn (Quốc âm thi tập, b.21)

- Cội cây, là ðá lấy làm nhà (Quốc âm thi tập, b.54)

- Õn nặng bằng núi ðất, núi là ðá

(Phật thuyết ðại báo phụ mẫu ân trọng kinh)

- Bàn thạch: là ðá cả thay (Chỉ Nam ngọc âm - Ðịa lý)

- Thạch khối: hòn là ðá chồng (Chỉ Nam ngọc âm - Ðịa lý)

- Mấy hòn là ðá ðánh tan (Thiên Nam ngữ lục, c.2895)

- Ngọc trong là ðá mấy ngýời biết hay (Thiên Nam ngữ lục, c.5142)…

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, dùng hai mã chữ “la ða” ðể ghi “ðá” là bắt nguồn từ cách ghi âm từ [lata] và [laða] (ðá) trong các tiếng Mày, Rục, Sách mà những ngôn ngữ này còn lýu giữ những dấu vết của tiếng Việt cổ.

Trong NDQNP, là ðá xuất hiện cả thảy 4 lần ở các ðoạn sau:

- Ðoạn 4: Vũ bạc thực mýa là ðá.

- Ðoạn 11: Thạch tùng cãn ấy tỏi là ðá.

- Ðoạn12: Núm dýa là ðá danh rằng qua ðế.

- Ðoạn 21: Thạch giải thực cua là ðá.

Xét bốn trýờng hợp nêu trên, chúng ta có thể hiểu nhý sau: mýa là ðá (mýa ðá) là hiện týợng mýa có hạt ðông cứng thành nýớc ðá(10); Tỏi là ðá (tỏi ðá) là một loài cây thân thảo, củ có nhiều nhánh, vị cay, mùi hãng, dùng làm gia vị và làm thuốc; Dýa là ðá (dýa ðá) cũng là một loài cây thuộc họ bầu bí, quả có màu xám, lớn hõn dýa chuột, dùng ðể ãn. Còn cua là ðá (cua ðá) là loài cua sống ở hốc ðá ven biển, ở núi ðá gần khe suối, hoặc là loài cua ðồng có mai màu xanh xám nhý màu ðá(11). Nhý vậy, từ là ðá ở những trýờng hợp nêu trên ðã mang những ý nghĩa mới, phong phú hõn so với là ðá trong các tác phẩm Nôm cổ và cả trong những cuốn từ ðiển từ cổ mà ta ðýợc biết.

"Bà ngựa", "bồ cóc" và "là ðá" ðều là những từ còn lýu giữ ðýợc những yếu tố tiền âm tiết trong tiếng Việt cổ. Loại chữ Nôm dùng hai mã chữ ðể ghi một từ Việt nhý vậy thýờng xuất hiện trong các vãn bản Nôm có niên ðại khá sớm, khoảng thế kỷ XV trở về trýớc. Khác với tiếng Việt hiện ðại là một loại hình ngôn ngữ âm tiết tính cao, tiếng Việt cổ thời xa xýa, âm tiết ðýợc cấu tạo theo mô hình bao gồm một âm tiết chính và một bộ phận phụ là nhóm phụ âm hay yếu tố tiền âm tiết. Khi các nhóm phụ âm và tiền âm tiết vẫn còn tồn tại trong tiếng Việt thì một từ Việt với cả âm tiết chính và nhóm phụ âm có thể ðýợc ghi bằng hai mã chữ nhý trong Phật thuyết ðại báo phụ mẫu ân trọng kinh(12). Về sau, trong quá trình phát triển của tiếng Việt, âm tiết chính thýờng ðýợc bảo lýu, còn âm tiết phụ dần dần bị nhýợc hóa và biến mất. Trong chữ Nôm hầu nhý chỉ còn lại loại chữ một mã, các mã ghi tiền âm tiết ðã nhập vào với mã chính, trừ một số trýờng hợp lẻ tẻ còn sót lại về sau. Việc nghiên cứu những mã chữ Nôm thuộc loại này sẽ có thể giúp ích cho việc tìm hiểu rõ hõn về tình hình phát triển của chữ Nôm và dấu vết các tổ hợp phụ âm ðầu khi mà một số từ tiếng Việt còn chýa ðõn tiết hóa hoàn toàn.

 

Chú thích:

(1) Bài tựa sách Hồng Nghĩa giác tý y thý cho biết vào nãm Ðinh Dậu (1717) nhà sách Liễu Chàng ðem bản thảo của Tuệ Tĩnh dâng lên chúa Trịnh Cýõng. Chúa sai các quan trong y viện khảo duyệt, ðính chính rồi cho sắp xếp thành thiên mục, chia làm hai quyển thýợng hạ. Chúa lại ban cho tên gọi Hồng Nghĩa giác tý y thý và cho khắc ván in thành sách ðể truyền bá trong nýớc. Hồng Nghĩa tức Thýợng Hồng và Nghĩa Phú, quê hýõng của Tuệ Tĩnh (ngýời xýa thýờng không dùng tên chính, chỉ dùng tên quê hýõng hoặc tên hiệu). Ðây chỉ pho sách thuốc của vị danh y ở Hồng Nghĩa ðể giác ngộ cho ngýời ðời nay.

(2) Theo Tuệ Tĩnh toàn tập, Nxb. Y học 2004, tr.9-10.

(3) Tuệ Tĩnh toàn tập, sðd, tr.7.

(4) Tuệ Tĩnh: có sách chép là Huệ Tĩnh.

(5) Výõng Lộc: Từ ðiển từ cổ. Nxb Ðà Nẵng - Trung tâm Từ ðiển học 2001.

(6) Nguyễn Ngọc San: Từ ðiển từ Việt cổ. Nxb. Từ ðiển Bách khoa 2003.

(7) (8) (9) Từ ðiển tiếng Việt. Hoàng Phê chủ biên. Nxb. KHXH, H. 1988, tr.87, 216 và tr. 723

(10) (11) Từ ðiển tiếng Việt, sðd, tr.678 và tr.240.

(12) Nguyễn Ngọc San: Chữ Nôm - Sáng tạo ðộc ðáo duy nhất trong khu vực các nýớc ðồng vãn, Tạp chí Hán Nôm số 3-1991, tr.22./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 6(91) 2008; Tr.54-57)

Nguyễn Thị Lâm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm