VI | EN
Nhớ về một người “Thân tại Tào doanh tâm tại Hán” (Tạp chí Hán Nôm; Số 4 (94) 2009; Tr. 64-68)
(Tạp chí Hán Nôm; Số 4 (94) 2009; Tr. 64-68)

NHỚ VỀ MỘT NGƯỜI

"THÂN TẠI TÀO DOANH TÂM TẠI HÁN"

PGS.TS. NGUYỄN TÁ NHÍ

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Một lần gặp anh đến đọc sách tại Thư viện Khoa xã hội là chúng tôi nói đùa với anh như vậy. Anh là Giáo sư Đỗ Văn Hỉ công tác tại Viện Nghiên cứu Văn học. Địa điểm của Viện đặt tại số 20 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội, song người ta lại thấy Giáo sư thường xuyên có mặt tại trụ sở của Ban Hán Nôm lúc bấy giờ đặt tại số 26 phố Lý Thường Kiệt, cùng địa điểm với Thư viện Khoa học xã hội. Nhìn vào hình thức bề ngoài, người ta có thể suy đoán rằng, bởi anh làm việc tại Ban Văn học Cổ Cận của Viện Văn học, nên cần thiết phải đọc sách Hán Nôm, mà Thư viện Khoa học xã hội là nơi lưu giữ được số lượng sách Hán Nôm nhiều nhất cả nước. Thế nhưng nếu để tâm chịu khó suy nghĩ sâu thêm một chút, thì thấy rằng câu nhận xét về anh “Thân tại Tào doanh tâm tại Hán” sẽ không đơn giản là thế, mà còn có lý do khác. Lý do khác đó chính là anh có tác phong ung dung đĩnh đạc, có cử chỉ nho nhã hào hiệp, có giọng nói ấm áp chân tình rất giống một nhân vật đời Tam Quốc là Hán Đình hầu Quan Vân Trường. Ở con người anh đã hội tụ cả ba phẩm chất cao thượng của nhà nho chân chính: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.

Chưa kể đến những việc diễn ra trong đời sống hàng ngày mà chỉ nói đến những việc trong công tác nghiên cứu dịch thuật, cũng đủ thấy dáng dấp hào hoa phong nhã của một nhà Hán học uyên thâm Đỗ Văn Hỉ. Bất kỳ lúc nào, ở đâu, anh cũng hồ hởi chỉ bảo tỉ mỉ chu đáo với những ai định khoe khoang chữ nghĩa với đời. Nhiều bài viết tranh luận giải thích về cách đọc của một từ của anh đăng trên tạp chí làm không ít người đau đầu, song lại làm khoái trá nhãn khẩu nhiều người.

Có khi do hụt hơi đuối lý, người ta liền chụp cho anh một cái mũ không mấy dễ chịu là “ông đồ gàn”, song anh vẫn bình tâm tranh luận và giải thích thấu đáo. Lúc ấy mới thấy hết được cách ứng xử đúng mực của anh. Có người đặt thẳng vấn đề hỏi xem vì sao anh Hỉ hay đến trụ sở của Ban Hán Nôm thế? Anh liền tươi cười đáp lại rằng, đơn giản thôi, tôi đến làm việc thường xuyên ở Ban Hán Nôm tại 26 Lý Thường Kiệt, Hà Nội bởi hai lẽ:

“Một là, đến Ban Hán Nôm đọc sách được nhiều hơn”.

Đúng vậy, đến làm việc ở Ban Hán Nôm tại 26 Lý Thường Kiệt thì đọc sách được nhiều hơn. Thời bấy giờ sau khi hoàn thành công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đất nước hoàn toàn thống nhất, các trường đại học ở Hà Nội tuyển mộ thêm rất nhiều sinh viên. Do vậy đến mùa làm luận văn, làm đồ án tốt nghiệp, sinh viên tìm đến đọc sách ở Thư viện Khoa học xã hội ngày một nhiều hơn. Có nhiều buổi trên phòng đọc sách không còn một chỗ trống vắng nào. Ban Hán Nôm của chúng tôi thời ấy, mỗi ngày có đến 30 cán bộ vào thư việc đọc sách, hễ ai đến muộn một chút là không còn chỗ đọc. Trước tình hình đó Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội liền quyết định cho cán bộ Ban Hán Nôm được mượn sách mang về nhiệm sở của mình ở ngay sau phòng đọc của Thư viện để làm việc. Hơn nữa, ngày ấy quy chế làm việc hai buổi. Buổi sáng làm việc từ 7 giờ đến 12 giờ. Buổi chiều làm việc từ 14 giờ đến 17 giờ. Riêng bạn đọc ở Thư viện Khoa học xã hội lại được thêm giờ đọc buổi tối từ 19 giờ đến 21 giờ. Các bạn đọc ở Phòng đọc của Thư viện thì cứ sau buổi sáng, buổi chiều đều phải gửi lại sách, không được đọc sách thông qua trưa qua tối. Riêng cán bộ của Ban Hán Nôm thì được phép mượn sách của phòng đọc từ 7 giờ sáng cho đến 21 giờ tối mới phải gửi trả. Do vậy cán bộ Ban Hán Nôm mỗi ngày được đọc sách Hán Nôm những 14 tiếng đồng hồ. Nắm bắt được tình hình như thế nên GS. Đỗ Văn Hỉ thường nhờ chúng tôi mượn sách giúp và đọc sách ngay tại trụ sở của Ban Hán Nôm. Sau năm 1980 khi kho sách Hán Nôm của Viện Thông tin Khoa học xã hội (tên mới của Thư viện Khoa học xã hội) bàn giao cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm (tên mới của Ban Hán Nôm), thì việc đọc sách Hán Nôm còn thuận tiện hơn nữa. Bởi thế mà anh cho rằng, đến Ban Hán Nôm đọc sách được nhiều hơn.

“Hai là, đến Ban Hán Nôm được gặp nhiều bạn tâm giao”.

Tôi đã hơn một lần tận tai nghe thấy anh nói câu này với người khác. Điều này khiến cho tôi thực sự cảm động bởi vì tôi kém anh nhiều tuổi mà được là bạn vong niên, hẳn anh cho rằng tôi có một số điểm tương đồng với anh.

Tôi với anh có thể xem là bạn đồng môn, bởi hai chúng tôi đều tốt nghiệp đại học ngành Trung Văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm 1961 anh tốt nghiệp ngành Trung Văn khoa Ngoại ngữ trường Đại học Sư phạm Hà Nội, còn tôi thì năm 1965 mới vào khoa Trung Văn trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội. Tuy tên gọi có khác nhau đôi chút, song giảng viên vẫn là các thầy Trương Đình Nguyên, Lại Cao Nguyện…, giáo trình học tập vẫn là Câu chuyện chiếc đồng hồ, AQ chính truyện v.v… Do vậy mà tính chất văn hóa Trung Hoa cổ đại có ở trong anh, cũng có ở con người tôi.

Tôi với anh còn hai lần cùng học một thầy, có điều là anh học trước tôi nhiều năm. Cũng giống như khi học Trung Văn, anh học xong bốn năm rồi, tôi mới bắt đầu vào học. Anh học lớp chuyên tu Hán Nôm 1 niên khóa 1965 - 1968 do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức; còn tôi học lớp chuyên tu Hán Nôm 2 niên khóa 1972 - 1975 cũng do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức. Tuy học khác thời gian song giáo trình vẫn là Tứ thư, Ngũ kinh của Trung Quốc, vẫn là các áng văn trác tuyệt của văn hào Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Giảng viên đứng lớp vẫn là các GS. Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh, Lê Thước… Do vậy mà tư tưởng đạo đức cao đạo của nhà Nho thời xưa có ở trong anh, cũng có ở con người tôi.

Anh còn xem tôi là bạn đồng nghiệp đáng tin cậy. Đồng nghiệp không đơn giản chỉ là cùng nghiên cứu văn chương chữ nghĩa đâu, cái mà anh xem tôi là đồng nghiệp bởi vì hai chúng tôi cùng phải cày thuê cuốc mướn, phải vật lộn với cuộc sống bằng chính thứ chuyên môn mà mình có được là Trung Văn và Hán Nôm. Công việc mà chúng tôi cần làm để mưu sinh đó là đi dịch thuê, tài liệu nhận dịch là tiếng Trung Quốc hiện đại và Hán Nôm. Ngày ấy tôi là đứa bé nhất bọn, các anh (gồm GS. Đỗ Văn Hỉ, GS. Kiều Thu Hoạch, nhà giáo Nguyễn Văn Phát…) cử tôi làm chân đầu sai đến liên hệ với Phòng tư liệu Viện Văn học, Viện Sử học, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Trường Đại học Tổng hợp… để liên hệ nhận tài liệu về dịch. Ngày qua ngày, năm qua năm chúng tôi cắm cúi dịch lấy dịch để, hết văn bản này đến văn bản khác. Sau nhiều năm kiểm điểm lại hành trang, cái mà tôi có được không phải mấy đồng thù lao ít ỏi, mà là vốn tri thức của người xưa ghi trong sách vở đã dần dần chuyển vào trong tôi, làm lớn lên từng ngày; là những kinh nghiệm làm việc quý báu của các anh đã dần dần chuyển sang cho tôi làm tôi cứng cáp hơn, nhanh nhẹn hoạt bát hơn. Anh chỉ bảo cho tôi nhiều thứ lắm, song có hai điều quan trọng khiến tôi nhớ lâu tưởng chẳng thể nào quên.

Điều thứ nhất anh bảo: "Đọc sách bắt buộc phải đọc bài tựa". Nhiều lần anh giảng giải cho tôi rằng, một bài văn có những chữ hay được gọi là "nhãn tự", còn cuốn sách hay thì bài tựa, bài dẫn chính là "nhãn tự", cần thiết phải đọc cho kỹ. Bài tựa sẽ dẫn dắt người đọc đi đúng hướng mà người viết định ra, hiểu đúng ý mà tác giả gửi gắm. Có bài tựa đọc một lần là hiểu, song có bài phải đọc nhiều lần, thậm chí còn phải đọc lại sau khi đọc xong cuốn sách. Ý thức được tầm quan trọng của bài tựa, bài dẫn như vậy, nên anh đã bỏ ra thời gian hàng chục năm để viết tập sách nghiên cứu giới thiệu các bài tựa, bài bạt. Nhờ ý kiến này của anh nên mỗi khi đọc sách, dịch sách tôi đều quan tâm đến việc hiểu được thấu đáo bài tựa của sách, nhờ đó khi đọc sách, dịch sách quả có thuận lợi hơn. Sau này khi viết sách, biên soạn sách tôi còn vận dụng kinh nghiệm này của anh để soạn thảo ra phàm lệ của cuốn sách, để viết lời giới thiệu của sách cho rõ ràng rành mạch. Nhớ lại hồi năm 1988, phân viện Nghiên cứu Phật học ở Hà Nội nhờ tôi và anh Mai Xuân Hải tổ chức biên soạn bộ Từ điển Phật học Hán Việt. Tôi được các anh giao cho trách nhiệm đặt ra phàm lệ để thực hiện. Bấy giờ GS. Đỗ Văn Hỉ cũng được mời tham gia biên soạn Từ điển Phật học Hán Việt. Anh đã góp nhiều ý kiến cho bản phàm lệ mà chúng tôi đặt ra để mọi người làm theo, nhờ đó mà công việc tiến hành thuận lợi hơn, công tác biên tập suôn sẻ hơn.

Điều thứ hai anh bảo: "Muốn dịch được thơ, được câu đối thì trước hết hãy tập làm thơ, làm câu đối đi".

Anh bảo người xưa phải khổ công lắm mới làm được bài thơ hay, mới soạn thảo được một câu đối có ý nghĩa sâu sắc, do vậy khi dịch ra tiếng Việt phải hết sức thận trọng. Anh nói, ông Giả Đảo là thi nhân nổi tiếng đời Đường từng có câu rằng “Nhất cú tam niên đắc, bất tri song lệ thùy”, nghĩa là phải dùng ba năm trời mới nghĩ ra được câu thơ hay, thế mà đưa ra người đời không hiểu được, vậy thì chỉ có thể là nhỏ lệ mà thôi. Anh lại nói, muốn dịch thơ hay, thì phải biết làm thơ để ý thức được hết khổ công của người xưa, và nhiều lần khuyến khích tôi tập làm thơ.

Sau này, tôi còn làm dăm ba bài thơ theo thể Đường luật như thế, song đó không phải là cái được mà là khi tham gia dịch thơ chữ Hán trong các tập Thơ văn Lê Thánh Tông (năm 1986), Thơ đi sứ (năm 1993), Văn học Hán Nôm Hà Tây (năm 1997), thì các bài thơ dịch của tôi đã được nhiều người biết đến hơn.

Trong văn chương chữ nghĩa có nhiều nét biểu hiện tình cảm tâm giao, còn trong đời sống hàng ngày thì nhiều không kể xiết. Nay xin kể ra đây một mẩu chuyện nhỏ để thấy hình ảnh của anh còn được ngay cả các con tôi vẫn ghi nhớ. Ngày ấy có lần do công việc gấp cần phải hoàn thành bản thảo, nên một hôm anh bảo với tôi rằng: “Chiều nay cho tôi ăn cơm với bố con ông nhé”. Tôi vui vẻ nhận lời. Bấy giờ tôi sống ở ngay phòng làm việc cùng với cậu con trai mới lên 3 tuổi. Lúc hết giờ làm việc tôi gửi cháu cho bác Hỉ trông rồi đạp xe xuống chợ Hôm mua thức ăn, dĩ nhiên là kiếm thêm chút ăn tươi về nhắm rượu. Khi về đến nhà, Giáo sư Hỉ dắt cháu đến chỗ tôi tươi cười nói: “Thôi chịu thằng cháu nhà ông, nó hỏi tôi câu khó quá”.

Thế rồi anh thong thả kể lại đầu đuôi câu chuyện, chả là khi tôi đi vắng, cháu đang tuổi học ăn học nói, cứ hỏi vặn bác hết câu này sang câu khác. Cháu hỏi bác có yêu chú Quý không, bác bảo không. Cháu hỏi bác có yêu cô Phượng không, bác bảo có. Cháu hỏi bác có yêu bác Thảo không, bác bảo có. Sau đó bác khái quát lại rằng bác chỉ yêu các cô và các bác gái thôi, còn các chú và các bác trai thì bác không yêu. Cháu đăm chiêu suy nghĩ một hồi rồi hỏi, bác có yêu bác không? Câu hỏi này thực làm khó cho bác rồi, nếu như bác bảo rằng có thì sẽ vi phạm vào nguyên tắc mà bác vừa đặt ra, còn nếu như bác bảo rằng không thì trên đời này sao lại có người không tự yêu tấm thân của mình được?

Bây giờ cháu bé nhà tôi đã là chàng trai 30 tuổi, mỗi khi nhắc lại câu chuyện này, cháu lại nói rằng vẫn nhớ đến bác Hỉ dáng người mảnh khảnh, tóc xoăn, mắt sáng, trán cao, miệng cười rất tươi. Hình ảnh của anh còn được nhiều bạn bè trẻ tuổi ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm nhớ tới.

Ngày nay Giáo sư Đỗ Văn Hỉ đã đi xa lắm rồi, nhưng hình ảnh của một nhà nghiên cứu Hán ngữ uyên thâm vẫn còn mãi trong tôi. Chúng tôi luôn luôn nhớ về anh với hình ảnh của một con người có tác phong ung dung đĩnh đạc, có cử chỉ nho nhã hào hiệp, có giọng nói ấm áp chân tình, thực đúng là “Thân tại Tào doanh tâm tại Hán”./.

(Tạp chí Hán Nôm; Số 4 (94) 2009; Tr. 64-68)

Nguyễn Tá Nhí
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm