VI | EN
Tác giả Văn minh tân học sách phải chăng là của Ngô Đức Kế (Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 22 - 32)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 22 - 32)

TÁC GIẢ VĂN MINH TÂN HỌC SÁCH PHẢI CHĂNG LÀ CỦA
NGÔ ĐỨC KẾ

VŨ THẾ KHÔI

Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây

Văn minh tân học sách (VMTHS) là tài liệu quan trọng bậc nhất, như có dịp chúng tôi đã phát biểu, một triết lý giáo dục mới, thực sự cách mạng, cho công cuộc canh tân giáo dục để cứu nước trong phong trào Duy tân - Nghĩa thục những năm 1903 - 1908: thay cho triết lý giáo dục “tĩnh” đã hàng nghìn năm đào luyện những thần dân chỉ biết phục tùng, các nhà nho duy tân đã đề xuất một triết lý giáo dục “động” nhằm đào tạo những công dân (các cụ gọi là “quốc dân”) hiểu rõ chức phận đối với đất nước, với xã hội và trước biến cố thì “có thể động”(1).

Sách do Đông kinh Nghĩa thục ở Hà Nội tổ chức in ấn và phát hành năm 1907 nhân việc thành lập ngôi trường ở các ngôi nhà số 4 và số 10 phố Hàng Đào, in lại nhiều lần hàng vạn bản, nhưng cũng như hai cuốn sách quan trọng khác của Đông kinh Nghĩa thục là Quốc dân độc bảnTân đính luân lý giáo khoa thư đều không đề tên người biên soạn. VMTHS đã được học giả Đặng Thai Mai, một nhà Hán học uyên thâm, lại là con trai cụ Đặng Nguyên Cẩn “một nhân vật cự phách trong cựu học và lãnh tụ tân học ở tỉnh Nghệ An” (Huỳnh Thúc Kháng), dịch sang tiếng Việt theo bản chữ Hán in khắc gỗ số ký hiệu A.567, xác định niên đại là 1904 nhưng không ghi tác giả là ai, công bố trong công trình Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX - Hà Nội 1961, in lại trong sách Hợp tuyển thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 - 1930) - Văn học, H. 1972.

Việc xác định tác giả VMTHS nan giải trước hết là vì những người trong cuộc đều không để lại hồi ký và cũng không tiết lộ gì qua truyền ngôn về các tác phẩm quan trọng nhất của phong trào Duy tân - Nghĩa thục, dẫu có người tạ thế khá muộn như cụ Lê Đại (1952). Một trong 3 người khởi xướng phong trào, cụ Huỳnh Thúc Kháng, trong các tác phẩm như Thi tù tùng thoại (Viết trong những năm đi đày ở Côn Đảo, 1908 - 1921) và Phan Tây hồ tiên sinh lịch sử (1926), tuy cung cấp cho hậu thế khá nhiều chi tiết về phong trào và những nhân vật chủ chốt, nhưng không hề cho biết ai là tác giả VMTHS, Quốc dân độc bản, Tân đính luân lý giáo khoa thư... Các học giả thuộc thế hệ đầu tiên viết về phong trào Duy tân - Nghĩa thục, hoặc di sản thơ văn của nó như Đào Trinh Nhất (sinh năm 1900), con trai cụ Đào Nguyên Phổ (mất năm 1907), Đặng Thai Mai (sinh năm 1902), con trai cụ Đặng Nguyên Cẩn (mất năm 1923) và Nguyễn Hiến Lê (sinh năm 1912), cháu gọi cụ Phượng Sơn Nguyễn Côn (mất năm 1960) bằng bác ruột, là những người từng được trực tiếp nghe cha anh kể lại về việc và người của phong trào, cũng không thể cho chúng ta biết gì hơn hai chữ “khuyết danh”. Một số giả thiết về tác giả VMTHS chỉ bắt đầu đề xuất từ thế hệ các nhà nghiên cứu thứ hai, sinh ra sau khi sự việc trôi qua đã ba/bốn chục năm, lại chỉ dựa chủ yếu vào một số lời truyền ngôn không trực tiếp từ các đương sự, ngày nay lại không thể kiểm chứng, hoặc căn cứ những tư liệu thành văn mà cả về nội dung chi tiết lẫn văn phong ngôn ngữ đều không tiếp cận với tác phẩm VMTHS (2).

Một trăm năm đã trôi qua, lại là một thế kỷ bão táp, với cách mạng, chiến tranh và những biến cố xã hội sâu rộng, thư tịch liên quan phong trào Duy tân - Nghĩa thục phần thất tán, phần bị thiêu huỷ, nên xem ra không còn cơ hội truy tìm các “ngoại chứng” - tức những dữ kiện ở ngoài văn bản để xác định tác giả của những ấn phẩm vẫn bị gọi là “khuyết danh”. Chỉ còn cách đi tìm các “nội chứng”, tức những thông tin ẩn ngay trong văn bản cho phép đồng nhất tác giả của hai văn bản khác nhau.

*

Ý nghĩ về khả năng sử dụng phương pháp phân tích văn bản học để xác định tác giả VMTHS nảy sinh hồi đầu năm 2007 khi chúng tôi bắt đầu đọc lại tác phẩm mang tính tuyên ngôn này về tư tưởng cách mạng tân văn hóa trong phong trào Duy Tân để viết tham luận khoa học “Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn - một cội nguồn văn hóa - xã hội sâu xa của trường Đông kinh Nghĩa thục”. Càng nghiền ngẫm bài nghị luận vô danh sắc sảo, càng rõ nét cái cảm giác đã bắt gặp giọng văn này, mạch văn này ở đâu đó: cũng những câu xướng hoặc câu kết nghi vấn, cũng những câu đáp hoặc lời diễn giải đồng dạng, cũng những điệp từ nối những ngữ cú đồng dạng... Cuối cùng chợt nhớ ra: bài báo vang dội một thời Luận về chính học cùng tà thuyết (LVCHCTT) của cụ Nghè Ngô Đức Kế!(3), xin cùng đọc vài ví dụ:

- LVCHCTT viết “Vận nước thịnh hay suy, quan hệ tại đâu? - tại nhân tâm thế đạo. Nhân tâm thế đạo xấu hay tốt, cỗi gốc tại đâu? - tại học thuyết tà hay chính”. Hãy so sánh với VMTHS “Câu nói của nhà học giả phương Tây: "Văn minh không phải là có thể mua bằng giá trị mà thôi, mà còn phải mua bằng đau khổ nữa”. Giá trị ý nói gì?* - tức thị tư tưởng đó*. Khổ đau ý nói gì?* - tức thị cạnh tranh đó*” (nguyên văn: 西 . (Từ đây khi thật cần thiết, chúng tôi mạn phép học giả quá cố Đặng Thai Mai, sửa lại một số câu dịch đã rất chuẩn của Cụ(4) chỉ nhằm làm rõ thủ pháp tu từ, có đánh dấu* để bạn đọc tiện theo dõi và xem xét - VTK));

- LVCHCTT viết “Vậy cho nên trong nước ngày nay, nào là bình phẩm văn chương Kiều, nào là phê bình nhân vật Kiều, nào là chú thích Kiều, nào là thơ vịnh Kiều, cho đến hát tuồng Kiều, diễn kịch Kiều, trong nhà ngoài đường, trên trời dưới đất, đâu đâu cũng Kiều”); VMTHS viết “Trên địa cầu có các nước hoặc là còn dã man, hoặc là mới bán khai, hoặc là đã văn minh*. Ấy là tùy theo chỗ dân trí từng nước thông hay tắc, nhiều hay ít, chóng hay chậm mà khác nhau” (者為者為者為速為 ).

Tuy nhiên, Luận về chính học cùng tà thuyết viết bằng quốc ngữ, Văn minh tân học sách viết bằng Hán văn, đem đối chiếu để khẳng định rằng hai tác phẩm này cùng một tác giả thì không tránh khỏi bị coi là một sự so sánh khập khiễng, khiên cưỡng. Hợp tuyển thơ văn yêu nước và cách mạng (Nxb. Văn học, H. 1972, 2 tập) không công bố được một tác phẩm văn xuôi nào của Ngô Đức Kế. Không phải là người chuyên nghiên cứu về tác gia này, lúc bấy giờ chúng tôi đành thúc thủ.

May thay, mới đây PGS.TS Ngô Đức Thọ đã cung cấp cho chúng tôi tờ trình viết bằng Hán văn của cụ Nghè họ Ngô xin sửa đổi phép thi, nhan đề Bẩm vi thỉnh tương thí pháp lược hành cải định dĩ cổ sĩ phong nhi hợp thời nghĩa sự (từ đây xin gọi tắt là Thỉnh cải định thí pháp - TCĐTP). Ngoài ra PGS. Ngô Đức Thọ còn cung cấp bản dịch sang tiếng Việt do ông thực hiện nhưng còn chưa công bố, cùng một số tài liệu liên quan do ông sưu tầm được và cho phép chúng tôi tùy nghi sử dụng. Xin chân thành cảm ơn.

Chúng tôi phân tích đối chiếu hai văn bản Văn minh tân học sách khuyết danh và Thỉnh cải định thí pháp của Ngô Đức Kế theo phương pháp phân tích văn bản học của Viện sĩ Đ.Likhatrôv. Dựa trên kinh nghiệm thực tế lâu năm khảo sát thẩm định các thư tịch khuyết danh hoặc mạo danh trong văn - sử Nga thời cổ và trung đại, Đ.Likhatrôv khái quát hóa thành một lý thuyết cơ bản và một phương pháp phân tích văn bản học hiệu quả trong công trình kinh điển Văn bản học(5). Riêng về việc minh định tác giả của những thư tịch khuyết danh, Viện sĩ Likhatrôv yêu cầu một sự phân tích toàn diện đối với thư tịch, bao gồm lai lịch văn bản, nội dung tư tưởng, văn phong và ngôn ngữ. “Tổng thể những quan sát càng rộng, càng đa dạng thì việc thẩm định sẽ càng chắc chắn”(6). Dựa vào kinh nghiệm thực tế phong phú, ông cảnh báo: “Các dữ liệu chính thức” về tác giả của thư tịch ghi ở đầu đề văn bản đôi khi lại ít xác thực hơn các dữ liệu không chính thức. Những chỉ dẫn gián tiếp lại chắc chắn hơn trực tiếp; những chỉ dẫn cố ý thường ít xác thực hơn những chỉ dẫn không cố ý và tưởng chừng “ngẫu nhiên”; đôi khi những hiện tượng ngôn từ đem lại cho ta nhiều hơn là những hiện tượng văn phong v.v... Tóm lại, rất nhiều khi điều thứ yếu lại hóa ra có giá trị hàng đầu, ngược lại điều chủ yếu lại thành thứ yếu(7).

Chúng ta thử đi theo các bước Viện sĩ Likhatrôv đã chỉ ra.

I. Lai lịch hai văn bản Văn minh tân học sáchThỉnh cải định thí pháp

Lai lịch VMTHS, trừ vấn đề tác giả, đã rõ từ lâu, khỏi phải bàn nhiều. Về lai lịch TCĐTP, PGS.TS. Ngô Đức Thọ trong bản thảo sắp công bố cho biết như sau: tài liệu quý giá này, do cụ Thúc Ngọc Trần Văn Giáp phát hiện chép trong tập sách viết tay của Thư viện Long Cương (Thư viện riêng của Thượng thư Cao Xuân Dục) nhan đề Văn minh tân học sách, chép nhiều bài liên quan phong trào Duy tân - Nghĩa thục, đã được cụ Thúc Ngọc Trần Văn Giáp giới thiệu trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (1972); riêng ở cuối TCĐTP có ghi rõ tên tác giả “Sắc tứ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Ngô Huệ Kế túc”. Theo cụ Thúc Ngọc thì người chép viết sai chữ “Đức” lối cổ, còn theo PGS. Ngô Đức Thọ thì người chép nhầm với tên lót của thân phụ cụ Nghè Kế là Ngô Huệ Liên). PGS.TS. Ngô Đức Thọ kể rằng ngay hồi giúp biên tập công trình của cụ Thúc Ngọc, ông đã sao lại một bản, dịch sang tiếng Việt và đem trình với hai học giả Đào Duy Anh và Đặng Thai Mai, được cả hai cụ ghi nhận là tài liệu rất có giá trị. Tài liệu này lưu trữ đã lâu năm ở Thư viện Khoa học xã hội, rồi ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.566, nhưng cho đến nay, theo PGS. TS.Ngô Đức Thọ, “chưa có dịp nào thích hợp để giới thiệu” nên nhân dịp công bố tuyển tập thơ văn của Ngô Đức Kế ông đã viết khá kỹ về hoàn cảnh ra đời của thư tịch này. Ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập hai vấn đề liên quan chủ đề bài viết đây.

1. Về niên đại - chỉ xin lưu ý một điểm, đó là TCĐTP xuất hiện sau VMTHS: học giả Đặng Thai Mai căn cứ một số chi tiết trong văn bản xác định VMTHS viết năm 1904; PGS.TS. Ngô Đức Thọ, có lẽ căn cứ chi tiết TCĐTP được phát hiện trong thư viện của Cao Xuân Dục, cho rằng văn bản này được trình cho họ Cao khi ông được bổ làm Thượng thư Học bộ mới thành lập vào năm 1907; bất luận thế nào TCĐTP không thể được soạn trước năm 1906 vì trong văn bản có những câu: “Gần đây họ [Trung Quốc] mới sửa đổi phép học, phép thi, bỏ khoa cử”; “Phép thi do Trung Quốc đặt ra, không phải là phép tắc của tổ tiên ta. Trung Quốc đặt ra mà năm trước Trung Quốc đã bỏ đi...”. Trung Quốc bỏ phép thi cũ năm 1905, đó là “năm trước”, vậy năm Ngô Đức Kế viết TCĐTP có thể là 1906.

2. Về vai trò của Tập Xuyên Ngô Đức Kế trong phong trào Duy Tân - Đông kinh Nghĩa thục - vai trò ấy, căn cứ phát biểu vắn tắt nhưng chuẩn xác của một số nhân vật chủ chốt trong phong trào về cụ Tập Xuyên, rõ ràng không phải là thứ yếu như ngày nay một số người lầm tưởng, tức chỉ là “người tán trợ”, cho nên trong Lễ tưởng niệm các tiên liệt của Đông kinh Nghĩa thục nhân 100 năm thành lập trường tại Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội người ta đã quên hẳn không nhắc đến tên Ngô Đức Kế! Đọc kỹ Tự truyện (“Niên biểu”) của Phan Bội Châu và tiểu sử Phan Chu Trinh (Huỳnh Thúc Kháng: Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử) có thể thấy rõ ràng mặc dù trẻ tuổi nhất (đỗ Tiến sĩ năm 23 tuổi, khi phong trào khởi phát, 1903, mới 25 tuổi) nhưng Tập Xuyên Ngô Đức Kế được cả hai vị lãnh tụ của phong trào yêu nước và cách mạng hồi đầu thế kỷ trước rất nể trọng, coi là một trong hai thủ lĩnh (vị kia là Đặng Nguyên Cẩn) của phong trào Duy Tân ở miền Nghệ Tĩnh và do tài năng văn học (“trổ từ tuổi thiếu niên”, như lời cụ Huỳnh nhận định sau này), chí khí và học vấn sâu rộng về tân học thường được những lãnh tụ của phong trào tham vấn về kế sách và chương trình hành động. Vấn đề trong đặt ra là mối liên hệ giữa Ngô Đức Kế và VMTHS, có 3 dữ kiện rất đáng chú ý:

a) Trong Thi tù tùng thoại, viết ngay trong 13 năm bị lưu đày ở Côn Đảo (1908 - 1921), Huỳnh Thúc Kháng ghi nhận Ngô Đức Kế là người sớm đọc tân thư và hăng hái đề xướng tân học: “Sau đỗ rồi, cụ ở nhà đóng cửa đọc sách, thường lưu tâm đến việc nước. Học thuyết Âu Tây mà người Tàu đã dịch trong sách, cụ đọc được nhiều và có chỗ tâm đắc. Trong khoảng ấy, kể phong triều (trào) bài xích khoa cử, đề xướng tân học, cụ là một người rất khảng khái”(8).

b) Theo nhà văn Sơn Tùng, người đã nhiều năm nay chuyên sưu tầm và viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1903, ngay từ khi phong trào chuẩn bị khởi phát, Ngô Đức Kế đã cùng Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, có con trai là Nguyễn Tất Thành đi cùng, ra Hà Nội gặp các cụ Lương Văn Can, Võ Hoành và một số yếu nhân khác trong Đông kinh Nghĩa thục tương lai(9). Thông tin của ông Sơn Tùng có thể được chứng thực một cách gián tiếp bởi 3 điều: Một là, ngay đương thời cụ Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định mối liên hệ mật thiết và uy tín của Ngô Đức Kế đối với sĩ phu Bắc Hà: “Cụ Tập Xuyên thường ra Bắc Hà nên nhiều người biết tên”(10). Hai là, ngay trong năm 1903 diễn ra cuộc hội kiến lịch sử ấy Lương Văn Can và Nguyễn Thượng Hiền đã tham gia cùng phả Thiện An Lạc (một trong 3 phả Thiện phân ra từ Hướng Thiện hội sau khi quân Pháp đánh thành Hà Nội năm 1873) dựng Đàn giảng kinh trong đền Ngọc Sơn, nơi hiện vẫn còn tấm bia lập ngay năm 1903 ghi việc đó, có khắc tên hai yếu nhân ấy của Đông kinh Nghĩa thục tương lai(11). Ba là, giáp tết Độc lập đầu tiên vào đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cậu bé Tất Thành năm xưa theo cha trong cuộc hội kiến với cụ Cử Can, đã tới thăm các cụ cao niên trong phả Thiện Ngọc Sơn và gợi ý rằng: “điều thiện lớn nhất là yêu nước, yêu dân chủ; điều ác lớn nhất là xâm lược, áp bức. Nay ta có thể giảng công khai như thế”…(12).

c) Bà Lê Thị Kinh, tức Phan Thị Minh, cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh, dẫn công trình Phong trào Duy tân (1970) của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân, viết về cuộc “Bắc hành” tháng Chạp 1905 - đầu năm 1906 của cụ Tây Hồ như sau: “thầy trò [Phan Chu Trinh và Ông Ích Đường] ra thẳng Hà Nội gặp các sĩ phu Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, Võ Hoành... để bàn kế duy tân. Sau đó lại lộn trở vào Nghệ Tĩnh để gặp Tập Xuyên Ngô Đức Kế vốn là bạn của ông từ trước để cùng các sĩ phu duy tân ở đây bàn chương trình hành động. Từ Nghệ Tĩnh ông lại đi thẳng ra Lạng Sơn v.v...”(13). Tại sao Phan Chu Trinh không thẳng từ Hà Nội lên Lạng Sơn gặp cụ Đề Thám mà lại phải “mua đường đất” như vậy - lộn vào Nghệ Tĩnh rồi mới từ đó lên Lạng Sơn? Hẳn là có việc quan trọng cần bàn với Ngô Đức Kế.

II. Nội dung Văn minh tân học sáchThỉnh cải định thí pháp

Đọc kỹ nội dung của hai văn bản này không thể không thấy TCĐTP là một bài nghị luận triển khai trong 15 trang viết tay đề mục 3 về sửa đổi phép thi (“Tam viết cải định thí pháp”), vốn chỉ chiếm có hơn hai trang trong 19 trang bản in (29 trang bản viết) của VMTHS - triển khai theo một cấu trúc lôgic như nhau. Xin so sánh:

- VMTHS (1904) viết: dùng phép thi cũ và lối văn bát cổ với những quy tắc phức tạp và gò bó để xét thực học là vô lý, hoàn toàn phí công sức vô ích -> ngay Trung Quốc từ khoa Canh Tý (1900) cũng đã bỏ lối bát cổ chỉ thi sách luận -> ta cũng chỉ nên dùng hai lối văn ấy để thi.

- TCĐTP (1906/07) viết: phép tắc đổi theo thời thế, mà thời thế nay đã đổi thay, ngay đến Trung Quốc từ các đời Hàm Phong (1851 - 1862) và Đồng Trị (1862 - 1875) cũng đã thông thương, biến đổi theo phương Tây -> sĩ phu ta không phải không biết lối văn bát cổ với những quy tắc gò bó là vô dụng, nhưng vẫn phải dốc hết tâm lực mà theo vì triều đình vẫn dùng lối văn ấy để tuyển dụng -> phép thi rắc rối ấy do Trung Quốc đặt ra xưa kia, nay chính họ từ năm trước (1905) đã bỏ hẳn rồi -> ta nếu chưa bỏ được ngay thì cũng nên biến thông chút ít: bỏ chế nghĩa, thi phú, chế biểu, chỉ chuyên thi sách luận -> biên soạn lại sách học, mua tân thư.

Tuy nhiên, Viện sĩ Likhatrôv cảnh báo: “Việc phân tích nội dung tư tưởng của tác phẩm bất luận trong trường hợp nào cũng không thể chỉ hạn chế ở những đại ý của tác phẩm. Các tư tưởng trong tác phẩm có thể là chung cho nhiều tác giả do họ cùng đảng phái, nghề nghiệp, đẳng cấp, giai cấp…”(14). Ông chỉ rõ: “...tiêu biểu hơn nhiều (cho việc minh định tác giả - VTK) là những chi tiết trong tư tưởng, những tiểu ý, những sắc thái riêng trong lập luận, những kiểu cách chứng minh cá biệt, những ví dụ ưa dùng”(15).

Trong VMTHSTCĐTP có những chi tiết ý, những cách lập luận trùng hợp như vậy:

- VMTHS viết: “Không biết những lối mở đề, thừa tiếp, khởi ý, kết thúc, thanh luật biền ngẫu có gì ích cho thực dụng không?... Thế rồi cấm liên thượng phạm hạ, cấm lạc vận thất niêm, cấm viết sai, viết sót chữ trong đầu đề <...> cấm những chỗ dập xóa, dời xuống, móc lên, sửa chữa* <...>” ( <…> <…> ) Hãy so sánh với TCĐTP: “Cho nên mới phải nghêu ngao nghiền ngẫm nơi bàn học, dốc hết tâm lực, cố sống cố chết mà học lấy được; những cách mở đề, thừa tiếp, khởi ý, kết thúc cùng cái phép thanh luật biền ngẫu đều phải luyện tập không lúc nào ngơi* <...> Những quy tắc dập xoá, dời xuống, móc lên, sửa chữa, thất niêm lạc vận, lỡ sai một chút thì tên tuổi bị vùi lấp...” (而為 <...> ...). Rõ ràng làchẳng những tiểu ý mà nhiều từ ngữ cũng trùng khớp hoàn toàn.

- VMTHS viết “Đời người không sống đến trăm năm thế mà dốc hết tinh thần hữu dụng đem vùi vào đống sách đầy xe, ngất nóc. Đời người còn có những nghĩa vụ phải làm, thế mà nửa phần cái tài trí vô cùng lại bị hao mòn vào chồng giấy loại mọt đục, mối ăn!”* ( 半為). Hãy so sánh với TCĐTP: “Đời người chỉ sống trăm năm, thông minh tài lực có bao lăm mà từ nhỏ đến già vùi đầu vào đó, tâm lực hao mòn hết cả” ( ).

- VMTHS viết “Lấy Kinh, Truyện và ba sử (sử Nam, sử Tàu, sử Thái tây) đặt đề mà hỏi, cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không gò bó kiêng kị, không cần thể cách gì hết”* ( [西 ] ). Hãy so sánh với TCĐTP: “... đề ra những câu hỏi về ý nghĩa lớn trong Kinh. Truyện, về những việc lớn trong vài bộ sử (sử nước ta, sử Trung Quốc, sử Thái tây) cùng là những điều về thực học về chính trị, công thương, cách trí. Người hỏi tùy ý mà ra đề, người đáp tùy ý mà phô diễn, không cần thể, không cần lệ, không gò, không bó gì hết”* ( [西 ] ).

Cũng đã phát hiện một số cách chứng minh cá biệt, ví dụ, từ ngữ ưa dùng trùng khớp trong hai văn bản, như:

- Dùng hình ảnh so sánh tỉnh / thức - say / mê để chứng minh ta đã lạc hậu trong canh tân so với Trung quốc: VMTHS - “Người ta tỉnh giấc rồi, ta còn ngủ” (). Hãy so sánh với TCĐTP: “Sĩ phu nước ta vẫn như say chưa tỉnh, vẫn như mộng chưa thức” ( );

- Cả hai văn bản cùng dùng từ “tự xưng” (自命) để đả kích thói tự cao tự đại của lũ hủ Nho: VMTHS viết “tự chiếm bậc thanh cao, tự xưng bậc gìn giữ thế đạo”* (以高人自居以世道自命); TCĐTP viết “Thường ngày thì tự xưng ta đây là nhà Nho, ta đây là người khoa mục” (平居自命則曰我儒教也我科目也);

- Khi phê phán sự vô bổ của các loại sách tầm chương trích cú, chú sớ, tranh biện của nho gia Tống, Minh, trong cả VMTHS lẫn TCĐTP trong các ví dụ đều kể Mông dẫn (蒙引) và Tồn nghi (存疑 );

- Đề cập vấn đề sách giáo khoa, cả 2 tài liệu đều dùng những từ tương tự để nói về cơ quan làm sách. VMTHS - ‘Lập một thư cục hiệu đính sách”* (); TCĐTP - “Đặt một thư cục in ấn sách” (置一印書局). Về tinh giản sách kinh điển Nho học, VMTHS viết “trích lấy đại yếu, biên thành một tập <...> bỏ bớt những chỗ rườm rà” ( <...> ); TCĐTP viết “trước hết soạn lại các sách Nho học, bỏ bớt rườm rà, soạn lại cho gọn (先將儒書刊煩就簡).

Khi nói đến các trước tác lớn trong “tân thư” cả hai tài liệu cùng chỉ nêu ví dụ ba tác gia: Lư Thoa (Rousseau), Tư Tân Tắc (Spencer) và Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu).

Khi nêu ví dụ về trường tân học cả hai tài liệu đều có nêu trường Quốc học ở Huế.

Ở phần kết của cả hai tài liệu đều gắn vấn đề canh tân với số phận của 25 triệu đồng bào. VMTHS ghi “Chả biết hai mươi lăm triệu đồng bào ta rồi sẽ kết cục ra sao đây?” (). TCĐTP cũng ghi “... dưới nghĩ đến đông đảo hai mươi lăm triệu đồng bào...” (…下念吾二十五兆同胞之眾…).

III. Văn phong ngôn ngữ Văn minh tân học sách Thỉnh cải định thí pháp

Ở đầu phần tham luận này chúng tôi đã nêu sự giống nhau về văn phong giữa VMTHS viết bằng Hán văn và Luận về chính học cùng tà thuyết viết bằng Quốc ngữ do trong hai văn bản cùng sử dụng phổ biến một số thủ pháp tu từ. Những thủ pháp ấy cũng là đặc trưng chung cho TCĐTP có tên tác giả là Ngô Đức Kế và VMTHS khuyết danh. Xin nêu thêm một số ví dụ tiêu biểu về xướng - kết đồng dạng và điệp từ:

- TCĐTP viết “Nói về chính thể ư? - thì có chuyên chế, có cộng hoà, có dân chủ. Nói về giao thiệp ư? - thì có lãnh thổ, có tô giới, có công pháp, có thương ước, có lãnh sự, có công sứ. Nói về cạnh tranh ư? - thì có pháo đài, có thiết giáp hạm, có ngư lôi, có địa lôi, có tầu ngầm. Nói về chính pháp ư? - thì có tầu thủy, có đường sắt, có điện tín, có bưu chính, có ngân hàng, có bảo hiểm <...> Nói về học thuật ư? - thì có thiên văn học, địa lý học, địa chất học, khí tượng học, hoá học, âm học, điện học, thuỷ học, nhiệt học <...> ” (使 <...> <...>); VMTHS viết “Nông học có hội: người ta đương cạnh tranh về nghề nông đấy! Còn ta thì vẫn như cũ! <...> Thương chính có sở: người ta đương cạnh tranh về nghề buôn đấy! Còn ta thì vẫn như cũ! <...> Công nghiệp có xưởng: người ta đương cạnh tranh về công nghệ đấy! Còn ta thì vẫn như cũ! <...> ” ( <...> <...>故也 <...>). Có thể so sánh thêm các đoạn văn sau: VMTHS viết “Không nghe câu chuyện nước Nhật Bản ư? Trong thời gian hơn 30 năm gần đây, nước Nhật du nhập văn minh châu Âu, nay đã đạt được mục đích rồi. Không nghe câu chuyện nước Xiêm La ư? Trước đây vài mươi năm nước Tiêm đã giao thông với Âu châu, phái con em đi du học, nay chính sự đã có phần mới mẻ, khả quan rồi. Lại không nghe nói chuyện nước Tàu ư? Tàu vốn là một nước thủ cựu, thế mà chỉ do trong ngoài cùng kích thích, nay trên dần dần hiểu ra phương pháp Âu tây có thể nương theo, dưới cũng biết rằng học thuật Âu tây là đáng chuộng. Nay nước Tàu đã có sở phỏng tạo, có hội quảng học rồi <...>” (西西 <...>). TCĐTP viết “Trung Quốc từ các đời vua Hàm Phong, Đồng Trị về sau, thông thương ngày càng rộng, du lịch ngày càng nhiều, sự kiện biến đổi cũng càng ngày càng gấp” (). VMTHS viết: “Càng tư tưởng thì càng cạnh tranh, càng cạnh tranh thì càng tư tưởng” (nguyên văn: ).

TCĐTP viết “Nhìn ra thế giới thì người ngày một tiến bộ thế kia. Nhìn lại nước ta thì mình ngày một thụt lùi thế này” (退). VMTHS viết “Văn minh nước ta thì có tính chất luôn tĩnh thế này. Văn minh châu Âu thì có tính chất luôn động thế kia” ( ).

Giọng văn chính luận của Tập Xuyên Ngô Đức Kế có những đặc trưng riêng, không trộn lẫn với ai được. Khi chuyển từ Hán văn sang viết bằng tiếng Việt, Cụ vẫn giữ nguyên giọng chính luận của riêng mình, thậm chí theo chúng tôi tiếng mẹ đẻ đã tạo điều kiện cho ngòi bút chính luận của Cụ thoả sức tung hoành, các thủ pháp tu từ đặc trưng trở nên nhuần nhuyễn hơn, ứng dụng được cả vào thơ ca quốc ngữ của Cụ. Xin hãy đọc bài thơ Hỏi Gia Long (1923) mà học giả Đặng Thai Mai công bố trong công trình của ông Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (Nxb. Văn hóa, H. 1961), in lại trong Hợp tuyển thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (Nxb. Văn học, H. 1972).

Có câu thường nói: văn là người. Tuy nhiên, để minh định tác giả thì chỉ trong tổng thể với những căn cứ về lai lịch, về nội dung tư tưởng và ngôn ngữ, văn phong mới trở thành căn cứ thuyết phục. Giọng văn VMTHSTCĐTP là một.

Quá trình ra đời của VMTHSThỉnh cải định thí pháp có thể tóm lược như sau. VMTHS được biên soạn năm 1904, vậy nó phải được thảo luận thống nhất trong sĩ phu tham gia Duy tân - Nghĩa thục từ trước đó. Trước thời điểm đó, cho đến nay chúng ta mới biết có cuộc hội đàm năm 1903 của sĩ phu Trung - Bắc mà Sơn Tùng qua hồi ức của ông Cả Khiêm và bà Thanh, anh chị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã miêu tả khá chi tiết, từ hành trình ra Hà Nội của Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Ngô Đức Kế và một vài người khác đến thành phần và địa điểm hội kiến. Trong số tham dự thì Ngô Đức Kế, như đã trình bày ở mục I.2., là người hội đủ nhất các điều kiện để được trao nhiệm vụ chấp bút văn bản thể hiện quan điểm chung đã nhất trí về sách lược của nền tân học họ dự định xây dựng. Ngay năm sau, 1904, Ngô Đức Kế hoàn thành VMTHS. Tiếp đó, khi các thủ lĩnh khởi phát phong trào chuẩn bị giành thắng lợi quyết định ở ngay Hà Nội, dinh lũy chính trị của chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, Phan Chu Trinh đầu năm 1906 từ Quảng Nam, nơi phong trào đã khởi phát từ 1904, ra Hà Nội hội kiến với Lương Văn Can cùng một số nhân vật chủ chốt trong sĩ phu Bắc Hà, hẳn đã đi đến nhất trí “tương kế tựu kế”: nhân Toàn quyền Paul Beau ký Sắc lệnh 14-11-1905 thành lập Nha học chính Đông Dương với Hội đồng cải cách việc học của người bản xứ, họ quyết định công khai gửi một bức thư cho Chính phủ Nam triều đòi cải cách chế độ thi cử để mở đường cho nền tân học họ sắp trống giong cờ mở khai trương giữa Hà Nội. Việc này Ngô Đức Kế, người hai năm trước đã được giao soạn thảo VMTHS, mà đảm nhận sẽ thuận lợi hơn cả. Điều này giải thích một cách logic tại sao Phan Chu Trinh “mua đường đất”: từ Quảng Nam ra không ghé luôn Nghệ Tĩnh mà chỉ sau cuộc hội kiến ở Hà Nội, mới quay trở vào gặp Ngô Đức Kế chuyển đạt ý chung đề nghị viết bức thư công khai kiến nghị sửa phép thi, rồi lại quay lên Lạng Sơn vào đồn Phồn Xương gặp Đề Thám. Ngô Đức Kế đã hoàn thành việc soạn thảo và gửi bức thư này (tức “Bẩm vi thỉnh tương thí pháp lược hành cải định...”) vào cuối 1906 - đầu 1907, chắc phải trước tháng 3-1907, khi khai trương trường Đông kinh Nghĩa thục.

*

Qua sự phân tích đối chiếu toàn diện trên đây đối với 2 văn bản Văn minh tân học sáchThỉnh cải định thí pháp đến đây có thể khẳng định rằng tác giả của hai văn bản này chỉ là một người. Như vậy: tác giả Văn minh tân học sách là của Tiến sĩ Ngô Đức Kế.

Còn một căn cứ nữa. Đó là bài thơ của cụ Tập Xuyên viết trong ngục Hà Tĩnh mà cụ Huỳnh Thúc Kháng đưa vào ở vị trí thứ hai, chỉ sau bài thơ tù của cụ Tây Hồ, trong tập Thi tù tùng thoại. Cụ Huỳnh đã làm một bản dịch thơ sang tiếng Việt:

Xe như nước chảy, ngựa như rồng

Vì cớ gì ta vẫn bực lòng

Ham học văn minh đà mấy lúc

Mão tù đâu khéo cấp cho ông!

Hai câu cuối nguyên văn chữ Hán như sau:

Nghĩa là:

Mấy năm lại đây hay thuyết về nền học văn minh (tức nền tân học!)

Vậy nên được nhận cái mũ phương Nam của tên tù nước Sở (tức tên tù mất nước).

Bài thơ viết năm 1907, “mấy năm lại đây” có thể hiểu là 2 - 3 năm trước, tức 1904 - 1906, đúng thời gian ra đời của VMTHSTCĐTP. Có một điều chắc chắn: không có bài thơ thứ hai của bất kỳ chiến sĩ Duy Tân nào khác gắn trực tiếp như thế việc mình bị bắt bớ tù đày với việc “hay thuyết về nền học văn minh”!

Như vậy là thêm một căn cứ nữa, dẫu là căn cứ gián tiếp. Nhưng Viện sĩ chuyên gia văn bản học đã chẳng nói đấy thôi: đôi khi, những chỉ dẫn gián tiếp lại chắc chắn hơn những chỉ dẫn trực tiếp.

 

Chú thích:

(1) Vũ Thế Khôi: Suy nghĩ về triết lý giáo dục của Đông kinh Nghĩa thục (Phát biểu tại Hội thảo “Tư tưởng giáo dục của Đông Kinh nghĩa thục”, do Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức ngày 26-7-2007, H). http://hoikhuyenhocvietnam.org.

(2) Nguyễn Q. Thắng: Phong trào Duy tân. Các khuôn mặt tiêu biểu. Nxb. Văn hóa - Thông tin, 2006, tr.102 - cước chú 2; Chương Thâu - Đào Duy Mẫn &... (biên soạn): Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ. Nxb. Hội Nhà văn, 2008, tr.198-205.

(3) Ngô Đức Kế: Luận về chính học cùng tà thuyết - Hợp tuyển thơ văn yêu nước và cách mạng. Đầu thế kỷ XX (1900 - 1930). Nxb. Văn học, H. 1972, tr.246-255.

(4) Hợp tuyển thơ văn yêu nước và cách mạng…, sđd, tr.504-524.

(5) Likhatrôv Đ.X.: Văn bản học - Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Nxb. Khoa học, Matxcơva, 1964 (tiếng Nga).

(6) Likhatrôv Đ.X., sđd, tr.55.

(7) Likhatrôv Đ.X., sđd, tr.56.

(8) Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng: Thi tù tùng thoại, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2001, tr.12-13.

(9) Xin tham khảo các bài của Sơn Tùng trên báo An Ninh Thủ đô, số Xuân Tân Mùi 1991 và trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, http:// www.cpv.org.vn/ Cập nhật lúc 10h42' ngày 15/6/2003.

(10) Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng, sđd, tr.53.

(11) Vũ Thế Khôi: Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn, một cội nguồn văn hóa - xã hội sâu xa của trường Đông kinh Nghĩa thục (Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế nhân 100 năm ĐKNT do Đại học Provence tổ chức ở Pháp 3-5/5/2007); tóm lược đăng Xưa & Nay số 283 tháng 5-2007; toàn văn tiếng Việt có trên các mạng Talawas và dongtac.net (nhập ký tự Vũ Thế Khôi).

(12) Vũ Thế Khôi: Một trào lưu văn hóa của sĩ phu Hà thành qua giải mã thơ văn chữ Hán - Kỷ yếu Hội thảo khoa học Những vấn đề ngôn ngữ học... Khoa Ngôn ngữ học, trường ĐHKHXH & NV và Hội Ngôn ngữ học Tạp chí Ngôn ngữ, H. 2007, tr.225-233.

(13) Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh): Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới. Quyển I, tập 1, Nxb. Đà Nẵng, 2001, tr.87.

(14) Likhatrôv Đ.X., sđd, tr.54.

(15) Likhatrôv Đ.X., sđd, tr.54./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 22 - 32)

Vũ Thế Khôi
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm