Tiến sĩ Hoàng Trình Thanh hai lần hộ giá Tây chinh (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (106) 2011, Tr.19 - 23)
TIẾN SĨ HOÀNG TRÌNH THANH HAI LẦN HỘ GIÁ TÂY CHINH
PGS.TS. NGUYỄN TÁ NHÍ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Hoàng Trình Thanh người làng Đa Sĩ huyện Thanh Oai, nay là thôn Đa Sĩ phường Kiến Hưng quận Hà Đông thành phố Hà Nội. Sách Đa Sĩ Hoàng tộc gia phả kí hiệu A.792 lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho biết: ông là người thông minh lanh lợi, đỗ đạt sớm, làm quan cao trải qua bốn triều vua đời Lê sơ. Năm Quang Thuận thứ 3 (1462) đời Lê Thánh Tông, ông được thăng chức Thiếu Trung đại phu Môn hạ sảnh Hữu ty Lang trung Tham tri Hải Tây đạo quân dân bạ tịch Kị Đô úy. Năm Quang Thuận thứ 4 (1463), ông mất hưởng thọ 53 tuổi. Gia phả không ghi rõ ràng Hoàng Trình Thanh sinh năm nào, song cho biết năm mất và tuổi thọ, nên chúng ta có thể đoán định ông sinh năm 1411.
Năm 1427 Hoàng Trình Thanh mới 16 tuổi, nghe tin Bình Định vương Lê Lợi đem quân ra đóng tại bản doanh ở Bồ Đề (Gia Lâm), ông liền đến xin yết kiến. Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép, bấy giờ vua dựng lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao ngang với tháp Báo Thiên. Hàng ngày vua ngự trên lầu cao nhìn xuống thành Đông Quan theo dõi hành động của giặc Minh, lại cho Nguyễn Trãi ngồi ở tầng hai nhận lệnh soạn thảo văn từ trao đổi qua lại. Tấm lòng mong đợi người hiền tài của Bình Định vương Lê Lợi cũng được sách Đại Việt sử kí toàn thư ghi nhận "Ta vốn chẳng có tài năng, trí tuệ, lại tự mình gánh vác công việc nặng nề, e rằng không làm nổi. Vậy nên phải hạ mình cầu hiền dốc lòng trọng sĩ cùng mưu việc lớn để cứu vớt sinh dân". Khi đến yết kiến, Hoàng Trình Thanh đã dâng lên tập thơ văn do mình sáng tác, được vua khen ngợi ban cho chức Bản phủ Học sĩ. Đây là tập thơ đầu tiên mà thư sinh Hoàng Trình Thanh dâng lên cho các vua đời Lê. Đời Lê Nhân Tông, năm Thái Hòa thứ 1 (1443) khi đi sứ về ông dâng lên tập thơ Hoàng hoa tập cảo 1 tập; năm Thái Hòa thứ 5 (1447) khi được điều từ châu Bố Chánh về triều ông dâng lên tập thơ Nam thiên thi, 2
tập. Đến đời Lê Thánh Tông, Hoàng Trình Thanh lại được cử đi sứ nhà Minh, khi về ông lại dâng tập thơ Hoàng Hoa vãn, 1 tập. Người xưa từng dạy "thi ngôn chí" nghĩa là thơ ca dùng để dãi bày chí hướng của mình. Có thể vì lẽ đó mà khi dâng thơ lên các vị Hoàng đế nhà Lê, Tiến sĩ Hoàng Trình Thanh đã được những người đứng đầu của nhà nước biết đến và giao cho nhiều trọng trách như làm quan ở Nội Mật viện, Hàn lâm viện, đi sứ nhà Minh… Đặc biệt là ông đã hai lần được vinh hạnh hộ giá Tây chinh. Theo quy chế hoạt động thời xưa, mỗi khi đất nước lâm nguy, hoặc là do ngoại bang xâm lấn, hoặc là do phiên thần nổi loạn, thì Hoàng đế liền tự cầm quân đi đánh dẹp, dĩ nhiên là nhà vua phải tuyển dụng binh hùng tướng mạnh và các từ thần thân tín tâm đầu ý hợp cùng đi. Tiến sĩ Hoàng Trình Thanh được tham dự hẳn là hạng từ thần thân tín.
1. Lần thứ nhất theo Lê Thái Tổ hộ giá Tây chinh
Về thời điểm vua Lê Thái Tổ tự cầm quân đi đánh Đèo Cát Hãn ở châu Mường Lễ, các thư tịch Hán Nôm còn lại ghi chép không giống nhau:
Sách Đa Sĩ Hoàng tộc gia phả ghi: tháng 12 năm Thuận Thiên thứ 6 (1433) Hoàng Trình Thanh hộ tòng đại giá đi đánh giặc ở Lai Châu.
Sách Đại Việt sử kí toàn thư ghi: mùa xuân tháng giêng năm Thuận Thiên thứ 5 (1432) sai Thân vương Tư Tề đem quân đi đánh châu Mường Lễ. Đến tháng 11 năm ấy nhà vua tự cầm quân đi đánh châu Phục Lễ.
Sách Đại Việt thông sử ghi: tháng 12 năm Thuận Thiên thứ 4 (1431) vua sai Tư đồ Lê Sát và Quốc vương Tư Tề dẫn quân đi đánh châu Mường Lễ, sau đó vua lại thân chinh.
Sau khi thắng trận, vua Lê Thái Tổ làm thơ ghi lại chiến công cho khắc vào vách đá núi Pú Huổi bên bờ sông Đà, thuộc địa phận huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu ngày nay. Hơn sáu trăm năm sau, vách đá núi Pú Huổi vẫn bảo lưu nguyên vẹn bài thơ chữ Hán của vua Lê Thái Tổ. Năm 2001, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tổ chức một đoàn cán bộ (gồm có Hoàng Giáp, Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Tá Nhí) vượt hơn sáu trăm km đường dài đến tận thực địa in dập tấm bia ma nhai này đưa về lưu giữ tại kho sách của Viện. Nhân đây chúng tôi xin giới thiệu toàn văn bài thơ và lời dẫn:
Di Địch chi vi biên hoạn tự cổ hữu chi, Hán chi Hung Nô, Đường chi Đột Quyết, ngã Tây Việt chi Mường Lễ chư man thị dã. Khoảnh do Trần - Hồ suy chính, phiên thần bạt hỗ. Cát Hãn nữu ư cựu tập, phụ cố phất tuẫn. Dư kim suất vãng chinh, thủy lục tịnh tiến, nhất cử tựu bình. Nhân tả nhất luật khắc chi vu thạch dĩ giới hậu thế man tù chi ngạch hóa giả vân:
Cuồng tặc cảm bô tru
Biên manh cửu hễ tô.
Bạn thần tòng cổ hữu
Hiểm địa tự kim vô.
Thảo mộc kinh phong hạc
Sơn xuyên nhập bản đồ.
Đề thi khắc nham thạch
Trấn ngã viết Tây ngu.
Tân Hợi quý đông cát nhật Ngọc Hoa Động chủ đề
Nghĩa là
Dân Di Địch là mối họa ở vùng biên giới, từ cổ đã có như quân Hung Nô đời Hán, người Đột Quyết đời Đường và tộc người Man ở miền Tây nước Việt ta. Lâu nay do chính sự cuối đời Trần - Hồ yếu kém, lũ phiên thần hung hăng táo tợn, bọn Cát Hãn cứ quen giữ thói cũ, ngoan cố không sửa đổi. Nay ta đem quân đi đánh, hai đạo thủy bộ cùng tiến, đánh một trận là dẹp yên ngay. Nhân làm một bài thơ luật khắc vào vách đá để răn các tù trưởng ngang ngạnh đời sau phải biết tuân theo đức hóa.
Thơ rằng:
"Lũ giặc hung dữ tránh sao khỏi trừng phạt,
Người dân biên thùy từ lâu mong được cứu sống.
Việc phiên thần làm phản từ xưa vẫn có,
Vùng đất này từ nay chẳng còn hiểm trở.
Gió thổi, hạc kêu cũng làm cho giặc sợ hãi,
Sông núi đất này đã đưa vào bản đồ nước ta.
Bèn đề thơ khắc vào đá núi,
Trấn giữ miền Tây nước Việt ta.
Ngày tốt tháng cuối đông năm Tân Hợi (1431) Ngọc Hoa Động Chủ đề thơ."
Niên đại ghi trong bia ma nhai ở núi Pú Huổi này đã khẳng định năm Thuận Thiên thứ 4 (1431) vua Lê Thái Tổ thân chinh đánh Đèo Cát Hán như ghi trong Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn. Vậy thì niên đại ghi trong Đa Sĩ Hoàng tộc gia phả là có lầm lẫn. Tuy thế việc Hoàng Trình Thanh được hộ giá Tây chinh năm Tân Hợi này là có cơ sở để khẳng định.
Một là, ông luôn luôn được Lê Thái Tổ tin dùng và giao cho nhiều chức trách quan trọng. Năm 1427 được cử làm Bản phủ Học sĩ. Năm 1428 được cất nhắc làm Nội học sinh Trung trù Tống thực.
Năm 1429 dự khoa Minh kinh, được lấy đỗ rồi bổ làm việc ở Ngự tiền Học sinh cục. Năm 1431 dự thi khoa Hoành từ trúng tuyển nên cuối năm được cho đi theo hộ giá Tây chinh.
Hai là, nhiều quan chức đương thời đã khẳng định việc Hoàng Trình Thanh lúc còn trẻ tuổi đã được Lê Thái Tổ tin dùng. Năm Quý Mùi (1463) Hoàng Trình Thanh mất, để lại nỗi tiếc thương cho nhiều người, gia đình bạn bè và các quan đồng liêu đến điếu viếng, có nhiều lời điếu nói đến việc Hoàng Trình Thanh được “kết tri ư Thái Tổ”.
- Chẳng hạn như lời điếu của Tả Bộc xạ Lê Hoằng Dục:
"Duy công học suy Nho tông
Chức tham chính phủ.
Do kết tri ư Thái Tổ
Phủ sự nghiệp chi như tư,
Nại cao tài nhi hạ thọ.
Nhất đàn chỉ gian,
Tiện thành thiên cổ.
Khái cửu nguyệt chi bất tác vi công chi động nhi thùy dư?
Tuyền hạ hữu tri,
Thượng kì giám cách."
Nghĩa là:
Riêng thấy có ông
Sức học đứng đầu Nho tông,
Chức vụ làm trong chính phủ.
Được nhiều Hoàng đế tin dùng,
Đặc biệt được lòng Thái Tổ.
Ôi sự nghiệp lớn dường này!
Vì cớ gì mà hạ thọ?
Chỉ một gảy móng tay,
Đã thành người thiên cổ.
Cảm khái ở chốn cửu nguyên tĩnh lặng, chẳng vì ông than khóc thì biết vì ai!
Dưới suối vàng có hay,
Xin chứng giám cho đó?
- Hoặc như thơ điếu của Thượng thư Lương Nhữ Hộc ở Hồng Châu cũng nói đến:
"Nho lâm kì thụ hốt điêu tàn
Viễn cận kinh văn lệ ám đàn.
Nhất đạo sự quyền hư chính phả
Tứ thời phong nguyệt lãnh thi đàn.
Càn khôn phủ ngưỡng song khai nhãn,
Sinh tử thê hưu nhất cái quan.
Kham hận hưởng niên chung hạ thọ
Công danh vị toại hậu nhân khan."
Nghĩa là:
Rừng nho cây lớn chợt điêu tàn,
Viễn cận nghe tin lệ chứa chan.
Thứ nhất ghế còn trong trong chính phủ,
Bốn mùa phong nguyệt lạnh thi đàn.
Đất trời cúi ngửa giương đôi mắt,
Sống chết buồn vui giữa thế gian.
Chỉ hận hưởng niên là hạ thọ,
Công danh chưa thỏa hậu nhân bàn.
- Sau này họ Hoàng còn cho tạc tượng Hoàng Trình Thanh để thờ. Khi đến chiêm bái, Lương Nhữ Hộc còn đề bức tán rằng:
"Thiếu kết tri ư Thái Tổ
Trưởng tứ nhiệm ư Thánh Tông.
Thể cụ nhi dụng chu,
Thần trung nhi tử hiếu.
Tử triều lịch sự,
Nhất tiết thủy chung."
Nghĩa là
Thuở trẻ được Thái Tổ biết đến,
Lớn lên được Thánh Tông tin dùng.
Tài đủ nên đắc dụng,
Tôi trung cùng là con hiếu.
Làm quan trải bốn triều,
Giữ một tiết thủy chung.
- Khi viết sách Vịnh sử thi, Thoát Hiên Đặng Minh Khiêm cũng có thơ ca ngợi
"Quốc sơ thịnh tuyển quán thì mao,
Bỉnh tiết thừa thiều chí khí hào,
Lịch sự tứ triều kiên nhất tiết.
Nho thần sự nghiệp độc công cao."
Nghĩa là
Buổi đầu dựng nước dự tuyển được xếp thứ bậc cao
Mang cờ tiết đi sứ chí khí hào hùng.
Thờ vua sau trước trải qua bốn triều,
Sự nghiệp nho thần riêng ông cao hơn hẳn.
Theo quan niệm của người xưa, người nào trẻ từ 20 tuổi trở xuống mà đỗ đạt cao thì được gọi là “thiếu tuấn”. Hoàng Trình Thanh được Lê Thái Tổ cho đỗ kho Hoành từ khi ông mới 20 tuổi, nên được người đời khen là “thiếu kết tri ư Thái Tổ". Do đó đã “kết tri” rồi, nên khi thân chinh đi đánh dẹp miền Tây, vua Lê Thái Tổ đã cho Hoàng Trình Thanh được đi hộ giá.
2.Lần thứ hai theo Lê Thái Tông hộ giá Tây chinh
Sách Đa sĩ Hoàng tộc gia phả cho biết, tháng giêng năm Thiệu Bình thứ 1 (1434) vua Lê Thái Tông phong Hoàng Trình Thanh làm Cục trưởng Ngự tiền Học sinh cục. Đến tháng 11 năm Thiệu Bình thứ 4 (1437) lại thăng làm Chánh Chưởng Nội Mật viện, rồi cho hộ giá đi chinh phạt Hà Tông Lai. Năm Đại Bảo thứ 1 (1440) lại hộ giá đi đánh Nghiễm Man. Việc Lê Thái Tông thân chinh cũng được các bộ sử ghi nhận. Sách Đại Việt sử kí toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều ghi việc vua Lê Thái Tông đi đánh Hà Tông Lai ở châu Thu Vật xứ Tuyên Quang xảy ra vào tháng bảy năm Đại Bảo thứ 1 bắt được cha con Hà Tông Lai và Hà Tông Mậu đem về dâng lên thái miếu. Gia phả họ Hoàng ở Đa Sĩ đã tách ra ghi làm hai lần là không đúng, nhưng dù sao cũng cho biết thông tin quan trọng là Hoàng Trình Thanh được Lê Thái Tông cho đi hộ giá Tây chinh.
Một văn thần tuổi chưa đến 30, trong vòng mười năm được hai vị Hoàng đế nhà Lê cho đi hộ giá Tây chinh, quả là sự kiện hiếm thấy trong lịch sử. Năm nay gia tộc họ Hoàng làng Đa Sĩ cùng với ngành văn hóa thành phố Hà Nội tổ chức lễ kỉ niệm lần thứ 600 ngày sinh của Tiến sĩ Hoàng Trình Thanh. Nhân dịp này tôi trân trọng giới thiệu đôi dòng về thân thế và sự nghiệp của một con người tuổi trẻ tài cao, càng thấy đồng cảm hơn với lời điếu của quan Tả Bộc xạ Lê Hoằng Dục:
Ôi! sự nghiệp lớn dường này
Vì cớ gì mà hạ thọ
Chỉ một gảy móng tay
Đã thành người thiên cổ.
Tài liệu tham khảo
1. Cầu Đơ tỉnh nhân đinh phong tục sách, A.718.
2. Công thần Nguyễn An phủ sứ truyện, A.941.
3. Đa sĩ Hoàng tộc gia phả, A.792.
4. Địa chí Hà Tây, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, 2007.
5. Văn hóa làng Đa Sĩ, 1994.
6. Văn học Hán Nôm Hà Tây, 1997.
7. Văn bia Hà Tây, 1993./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (106) 2011, Tr.19 - 23)