Tình cảm giữa Cao Bá Quát và Đinh Nhật Thận qua một bài tự (Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 19 - 21)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 19 - 21)
TÌNH CẢM GIỮA CAO BÁ QUÁT
VÀ ĐINH NHẬT THẬN QUA MỘT BÀI TỰ
NGUYỄN TIẾN ĐOÀN- NGUYỄN THANH
Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình
(¬)
Nhà nho tài tử Cao Bá Quát (1809-1855) vốn không chỉ nổi danh về tài thơ độc đáo mà còn nổi tiếng về những câu chuyện giao du giữa ông với các danh sĩ đương thời. Từ điển văn học Việt Nam cho biết: "Năm 1847 (Cao Bá Quát) được triệu vào kinh (Huế) làm ở Viện Hàn lâm, được giao việc sưu tầm, sắp xếp thơ văn cho vua (Tự Đức) dùng. Thời gian này ông giao du với nhiều quan chức tại triều chuộng thơ văn như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận, Miên Thẩm,... ông cũng tham dự một số hoạt động văn hóa cung đình do vua Tự Đức chủ trì"(1). Gần đây, khi khảo sát về thơ Đinh Nhật Thận, hai tác giả Nguyễn Tài Chất và Nguyễn Tài Cẩn còn cho biết thêm: "Nước ta về đời Gia Long, Minh Mệnh cuộc bình định vừa xong, cho nên dân tình còn mến tiếc nhà Lê. Đến thời Thiệu Trị, Tự Đức mới thật là lúc thịnh trị, thái bình; chốn kinh đô mới là nơi họp mặt anh tài ba xứ. Trong triều lúc ấy có hai thi phái: một bên là Thi xã có các ngài Tùng Thiện, Tuy Lý, các ông Trương Đăng Quế, Nguyễn Đăng Giai,... là phái được triều đình vì nể. Nhưng chưa chắc các sĩ phu yêu mến phục bằng phái thứ hai của các ông Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận. Có lẽ cũng vì thế mà tình thân ái giữa mấy ông sau này càng thêm khăng khít cho nên trong mấy lâu họp mặt ở kinh, cùng nhau ngâm ca xướng họa, họ đã sống những ngày vô cùng thỏa thích"(2).
Xưa nay, đã có không ít công trình công bố những tư liệu và cả những giai thoại về Cao Bá Quát khi ứng xử ở chốn quan trường cùng những giai thoại khi thù tạc với bạn tâm giao. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một bài tự của Cao Bá Quát viết về Đinh Nhật Thận để góp phần hiểu thêm về sự đồng cảm da diết của hai danh sĩ này.
Phiên âm:
Tống Đinh Hàn lâm quy táng tự
Hàn lâm Đinh Úy phủ ký đắc hưu chi nhị niên, bắc vãng Hà thành tấu cáo
chư hữu viết: "Thận chi hoạch tội Kinh Môn dĩ quy dã. Ngô nhị thân tương kế
vong, bần vô dĩ vi táng. Ký phục quan nãi ích bần, ngô tư thương yên, cơ bất tri hữu thân. Dĩ ngô thập niên gian như thử cảnh ngộ nhi ngô thân do bất năng tự sinh, vinh nhục tụ tán, an khả thường dã. Thệ giả hữu tri năng vô vũ nhiên. Kim tương bốc cát hợp táng dĩ an ngô thân. Chư cố nhân kỳ lượng ngã tai!".
Y! Úy phủ chi tâm, thử cổ quân tử bất kỳ tử kỳ thân chi tâm dã. Nhân phi tích lũy thâm hậu, an hữu ngô thân. Khí mạch tương thừa bất khả vu dã. Cổ chi nhân táng trí kỳ ai, táng tất thận kỳ chung, sở vân bốc kỳ triệu trạch dã, phi chân kham dư chi thường đàm diệc ngô Nho môn sự thân chi yếu sự dã.
Đinh thị kỷ tiên xuất Hương Sơn, dĩ khoa hoạn văn ngũ lục đại vi hiển quan, phong phúc thần. Tự di Thanh Chương nãi thế kỳ y, chí tiên quân tử dĩ thuật tế nhân. Thái phu nhân hiền thục tương thành, dĩ nghĩa phương húc tử. Kỳ sở di dĩ Úy phủ, phu nhân đắc nhi ngôn chi dã. Úy phủ năng văn chương, vi danh tiến sĩ, cư thường tọa luận Nho giả chi học, căn cực lý khí, đương hữu sở đắc, huống hồ bình sinh đa nạn, bôn tẩu tạm nhàn đổ phong thụ nhi hưng bi, trác Hỗ Dĩ nhi sinh cảm, hào khấp tư mộ, thê thần dục an, chi thử thiên lý chi tâm dĩ cầu hồ địa. Hoặc giả Lam giang chi tiền, Kim Nhan chi hạ, tự hữu ngưu niên nhất đới dĩ sĩ phúc nhân. Khởi đãi Tả Ao hòa chính chư gia hòa vấn tổ tầm long, miêu sa họa thủy hậu khả dĩ tự Hương Sơn chi phúc tai! Úy phủ năng ngôn nhiên bất cập thử.
Kỳ quy dã, chư hữu tiễn vu mai đình nhi úy chi viết: Tử hành hỹ, ngô tri Đinh thị vị một dã!
Dịch nghĩa:
Bài tự tiễn ông Hàn lâm họ Đinh(3) về quê lo việc mai táng (cha mẹ)
Ông Hàn lâm Đinh Úy phủ về hưu đã hai năm, ông ra Bắc thành(4), nói với bạn hữu: "Thận này có tội với đất Kinh Môn nên phải về. Cha mẹ tôi kế tiếp nhau qua đời, gia đình nghèo không lấy gì chôn cất các cụ tử tế được. Nay tôi được phục chức lại càng nghèo, tôi rất đau lòng hầu như chẳng biết có thân mình nữa. Trong khoảng mười năm lại đây, tôi sống trong hoàn cảnh như thế này. Cái thân tôi còn chưa lo nổi cuộc sống cho mình. Cái vinh cái nhục, khi tụ khi tán sao khá xem thường. Các cụ tôi qua đời nếu có biết (cho hoàn cảnh) có thể sẽ phật lòng. Nay tôi chọn nơi đất tốt hợp táng để mong cha mẹ tôi mồ yên mả đẹp. Các bạn cố tri xin hãy lượng thứ cho!"
Ôi! Tấm lòng ông Úy Phủ là tấm lòng của người quân tử cổ xưa, luôn luôn nghĩ rằng cha mẹ mình không bao giờ chết. Người mà không có sự chứa chất đạo đức vừa sâu vừa dầy thì sao có được thân ta. Sự kế thừa linh khí, huyết mạch chẳng phải là chuyện nói liều. Người xưa đối với việc tang hết sức thương xót buồn bã. Việc chôn cất ắt phải thận trọng đến lúc chót. Người xưa có nói, chọn nơi đất tốt để mai táng, chẳng phải là lời cửa miệng của những nhà kham dư(1) chân chính đó sao?. Đó cũng là việc quan trọng trong việc phụng sự cha mẹ của nhà Nho ta đó.
Tiên tổ họ Đinh xuất xứ từ huyện Hương Sơn(6) nổi tiếng về khoa hoạn, năm sáu đời nay làm quan đều hiển đạt, có người được phong phúc thần. Từ khi chuyển cư về Thanh Chương làm nghề y chữa bệnh cho đời. Đến đời tiên quân (ông bố) lấy y thuật cứu giúp cho dân. Phu nhân là người hiền thục cùng chồng dựng nên cơ nghiệp, khuyến khích con cái làm việc nghĩa. Việc chuyển cư làm bận bịu thêm cho Úy phủ. Phu nhân thường nói với các con như thế.
Úy phủ là người giỏi văn chương, có tên trong hàng tiến sĩ. Lúc thường ngồi bàn luận về cái học của bậc Nho giả, bàn về triết học lý khí đến cùng. Vì thế những điều sở đắc mới có được như bây giờ, huống hồ bình sinh gặp nhiều khó khăn trắc trở, lấy việc bôn tẩu làm cái nhàn tạm bợ. Nhìn gió thổi vòm cây mà dấy lòng bi thương(7), bước lên núi Hỗ Dĩ mà lòng sinh cảm khái(8), nức nở khóc gào thương nhớ người xưa. Đó là cách làm cho tâm thần có nơi bấu víu muốn được yên lòng (người chín suối). Đó là tấm lòng hợp với lẽ trời mà tìm ở đất. Hoặc giả phía trước sông Lam, dưới đất làng Kim Nhan, tự nó đã có một mảnh đất tốt để đợi người có phúc. Há phải chờ đến ông Tả Ao(9) và các thày địa lý chính tông để hỏi đâu là tổ sơn để tìm long mạch, vẽ cát vẽ nước(10) rồi sau đó mới mong nối tiếp cái phúc của đất Hương Sơn sao?
Ông Úy phủ có thể nói được nhiều điều song ông không đề cập điều tôi vừa nói. Việc ông về, các bạn tiễn đưa ông ở đình mai và an ủi ông rằng: "Anh đi nhé! Tôi biết họ Đinh chưa mất đâu!"
Chú thích:
(1) Từ điển Văn học Việt Nam: Lại Nguyên Ân biên soạn với sự cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường, Nxb. Giáo dục, H. 1999, tr.54.
(2) Nguyễn Tài Chất - Nguyễn Tài Cẩn: Khảo sát về thơ Đinh Nhật Thận qua "Thu dạ lữ hoài ngâm", Nxb. Đại học Quốc gia H. 2007, tr.8.
(3) Hàn lâm họ Đinh tức Đinh Nhật Thận (1815 - 1866) người làng Thanh Liêu, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Đỗ Tiến sĩ năm Minh Mệnh thứ 9 (1838), cùng khoa với Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (Nam Định) và Tiến sĩ Doãn Khuê (Thái Bình), từng làm việc ở Hàn lâm viện. Khi đang làm Tri phủ bị can cữu phải tạm về hưu vài năm. Ông là người nổi tiếng mẫn tuệ, giỏi thơ văn cả Hán và Nôm. Tác phẩm Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận đã được dịch ra quốc ngữ và xuất bản rộng rãi.
(4) Bắc thành tức thành Hà Nội.
(5) Kham dư: nguyên ủy từ "kham dư" trong chương Thiên văn, sách Hoài Nam Tử có viết: Kham dư từ hành hùng dĩ âm tri thư (Kham dư là con đực đi chầm chậm để nghe thấy tiếng con cái). Hứa Thận chú giải là: Kham là thiên đạo, dư là địa đạo. Chu Tuấn Thanh giải thích: Kham là chỗ cao, dự là chỗ thấp, có nghĩa trời ở cao, đất dưới thấp. Mục Nghệ văn chí trong Hán thư cho biết Ngũ hành có Kham dư kim quỹ gồm 14 quyển nên người ta hay gọi thày địa lý là Kham dư gia.
(6) Hương Sơn: tên huyện thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
(7) Câu này Cao Bá Quát đã vận dụng thành ngữ dân gian rất tài ba: Cây muốn lặng, gió chẳng muốn dừng.
(8) Hỗ: núi có cỏ cây mọc. Dĩ: núi trọc. Trong văn chương cổ dùng hình ảnh Hỗ Dĩ để chỉ cha mẹ.
(9) Tả Ao: tên một làng thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, làng này đã sinh ra một thầy địa lý dân gian quen gọi là thầy Tả Ao.
(10) Nguyên văn: Ngưu miên địa (đất trâu ngủ). Điển cố dùng để chỉ đất tốt đặt mộ. Truyện Chu Quang trong Tấn thư viết: "Xưa, Đào Khản còn nhỏ đã mồ côi cha mẹ, khi chuẩn bị chôn cất, trong nhà bỗng nhiên có con trâu đi mất, khi đi tìm trâu gặp một cụ già nói: gò phía trước có con trâu, nó đang ngủ trong vũng, đem mộ chôn vào đó, con cháu về sau sẽ có địa vị đứng đầu các bề tôi. Nói đoạn, ông già biến mất. Khản tìm được trâu và chôn cất cha mẹ vào đó"./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 19 - 21)