Văn khắc Hán Nôm Hà Nội qua đợt sưu tầm của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp đầu thế kỷ XX (Tạp chí Hán Nôm, Số 6(97) 2009; Tr.53-67)
VĂN KHẮC HÁN NÔM HÀ NỘI QUA ĐỢTSƯU TẦM CỦA VIỆN VIỄN ĐÔNG BÁC CỔ PHÁP ĐẦU THẾ KỶ XX
TS. PHẠM THỊ THÙY VINH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Loại hình văn khắc Hán Nôm như bia đá, chuông đồng hiện diện ở tất cả các quận huyện nội ngoại thành Hà Nội. Đây là khối di sản văn hóa thành văn rất quý để góp phần giải mã, lý giải những vấn đề liên quan đến văn hóa, chính trị - xã hội và sinh hoạt cộng đồng của người dân Thăng Long trong gần 1000 năm. Trải qua rất nhiều sự biến thiên của lịch sử, địa danh Hà Nội ngày nay cũng đã thay đổi. Thành phố Hà Nội trước ngày 31 tháng 7 năm 2008 gồm 9 quận và 5 huyện(1). Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008 Hà Nội được mở rộng bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình được nhập vào. Như vậy, về diên cách Hà Nội ngày nay đã khác trước rất nhiều. Chúng tôi chưa có điều kiện thâm nhập vào toàn bộ địa danh Hà Nội mới để khảo cứu tư liệu nên trong phần trình bày chỉ hạn chế trong phạm vi Hà Nội trước ngày sát nhập.
Tư liệu văn khắc Hán Nôm của Hà Nội mà chúng tôi tiến hành khảo cứu bao gồm văn khắc trên bia đá và chuông khánh đồng. Nguồn tư liệu để tiến hành khảo cứu là kho thác bản văn khắc Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm qua các đợt sưu tầm từ đầu thế kỷ XX do Viện Viễn đông Bác cổ của Pháp tại Hà Nội tiến hành và Viện Nghiên cứu Hán Nôm tiếp tục sưu tầm tiếp vào các năm 2004, 2005, 2006, 2007. Muốn có đầy đủ thông tin về văn khắc Hán Nôm của Hà Nội bắt buộc chúng tôi phải thu thập tài liệu từ hai nguồn vừa nêu để bổ sung cho nhau nhằm có được thống kê tổng hợp về toàn bộ số lượng văn khắc Hán Nôm của Hà Nội. Trong phần trình bày này chúng tôi xin giới thiệu về tư liệu văn khắc Hán Nôm của Hà Nội qua đợt sưu tầm của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp đầu thế kỷ XX. Phần tư liệu sưu tầm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đầu thế kỷ XXI chúng tôi sẽ trình bày sau.
Hiện nay trong kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang bảo quản hơn 50.000 ký hiệu thác bản văn khắc Hán Nôm, trong đó có khoảng 22.000 ký hiệu văn bản được Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội cho in dập từ những thập niên đầu của thế kỷ XX; số còn lại do Viện Nghiên cứu Hán Nôm bổ sung trong vài chục năm gần đây. Với 22.000 ký hiệu văn khắc do Viễn đông Bác cổ in rập tương đương với hơn 11.000 đơn vị thác bản, đây là toàn bộ số văn khắc của cả nước từ Bắc thuộc đến triều Nguyễn(2). Trong số 11.000 đơn vị văn khắc ấy thì Hà Nội có 1971 đơn vị văn bản, chiếm khoảng xấp xỉ 18 %, con số này có thể sẽ tăng hơn do địa danh Hà Nội lúc người Pháp cho đi sưu tầm đến khi bộ Thư mục văn bia do Ban Hán Nôm - tiền thân của Viện Nghiên cứu Hán Nôm biên soạn trong những năm 70 của thế kỷ XX thì Hà Nội có quá nhiều sự thay đổi do quá trình tách nhập các địa danh hành chính. Chúng tôi đã tra tìm địa danh hành chính Hà Nội đầu thế kỷ XX qua tập sách Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ do Viện Viễn đông Bác cổ cho xuất bản năm 1999 thì rất tiếc là không có phần địa danh của các thôn, phường xã của thành phố Hà Nội. Các huyện Từ Liêm, Thanh Trì phải tra từ tỉnh Hà Đông, huyện Gia Lâm và Đông Anh phải tìm ở tỉnh Bắc Ninh. Lúc này cũng chưa có tên huyện Đông Anh trong bộ sách đó mà chỉ có phủ Từ Sơn với các tổng mà sau này một số tổng chia về huyện Đông Anh như tổng Hà Lỗ, tổng Hội Phụ, tổng Dục Tú… Một số tổng khác thuộc phủ Từ Sơn bấy giờ sau này thuộc địa danh huyện Gia Lâm như tổng Yên Thường, tổng Hạ Dương… Tra tìm tiếp về địa danh hành chính Hà Nội trong Tên các làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX(3) thì nội thành Hà Nội bấy giờ gồm hai huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương thuộc phủ Hoài Đức; các huyện Thanh Trì thuộc trấn Sơn Nam thượng; huyện Từ Liêm trấn Sơn Tây huyện Gia Lâm thuộc phủ Thuận An xứ Kinh Bắc; huyện Đông Ngàn (sau này là Đông Anh) thuộc phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc. Chúng tôi đã phải tiến hành thống kê tư liệu từ các huyện trước đây không thuộc Hà Nội như huyện Kim Anh tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Gia Lâm, Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh, huyện Từ Liêm, Thanh Trì tỉnh Hà Đông. Sau đó chúng tôi ghép lại so với địa danh Hà Nội hiện tại để lựa chọn và loại trừ tư liệu. Có thể có những xã thuộc huyện Đông Ngàn xưa sau này nằm trong địa phận huyện Đông Anh, huyện Gia Lâm của Hà Nội nhưng cũng có những xã lại thuộc về huyện Từ Sơn và Tiên Du của tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Có những xã thuộc huyện Gia Lâm trước đây nhưng hiện tại lại thuộc về tỉnh Hưng Yên. Tương tự như vậy khi một số xã của huyện Từ Liêm cũ lại không thuộc địa phận huyện Từ Liêm khi bộ thư mục văn bia do Viện Nghiên cứu Hán Nôm tiến hành cách đây vài chục năm. Đây là bộ thư mục văn bia thứ hai, còn gọi là Thư mục bia giản lược. Chúng tôi đã tiến hành sưu tập, thống kê văn khắc Hán Nôm Hà Nội dựa trên bộ thư mục văn bia ấy, vì thế để có một con số thực sự chính xác là vô cùng phức tạp. Do đó chúng tôi tự bằng lòng với con số thống kê của mình. Chưa có học giả nào tiến hành thống kê phân loại tư liệu văn khắc Hán Nôm Hà Nội theo địa danh để chúng tôi có thể kế thừa phần nào, những thao tác mà chúng tôi đang tiến hành là kết quả nghiên cứu đầu tiên và hy vọng sẽ được bổ sung hoàn chỉnh… Sau đây là số tư liệu văn khắc Hà Nội qua ký hiệu sưu tầm của Viện Viễn đông Bác cổ. Đơn vị hành chính để tiến hành phân loại là cấp quận, huyện của Hà Nội những năm 70, 80 của thế kỷ XX. Các đơn vị hành chính được ghi theo hai bộ thư mục văn bia do Ban Hán Nôm biên soạn từ giữa những năm 70 và Viện Nghiên cứu Hán Nôm biên soạn giữa những năm 80 của thế kỷ XX.
1. Quận Ba Đình: 351 đơn vị văn bản
2. Quận Đống Đa: 207 đơn vị văn bản.
3. Quận Hai Bà Trưng: 196 đơn vị văn bản.
4. Quận Hoàn Kiếm: 207 đơn vị văn bản.
5. Huyện Đông Anh: 146 đơn vị văn bản.
6. Huyện Gia Lâm: 189 đơn vị văn bản.
7. Huyện Sóc Sơn (lúc sưu tầm gọi là huyện Kim Anh): 144 đơn vị văn bản.
8. Huyện Thanh Trì: 211 đơn vị văn bản.
9. Huyện Từ Liêm: 320 đơn vị văn bản.
Tổng cộng là 1971 đơn vị văn bản.
Như vậy số văn khắc Hán Nôm của Hà Nội do Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO) đi in rập từ đầu thế kỷ XX (từ đây chúng tôi xin gọi là đợt sưu tập lần thứ nhất) được phân bổ ở tất cả các quận huyện của Hà Nội, trong đó quận Ba Đình và huyện Từ Liêm chiếm số lượng nhiều hơn cả. Điều đáng lưu ý là số văn khắc do EFEO in rập về chủ yếu có niên đại Hậu Lê, Tây Sơn, số văn khắc của triều Nguyễn ít được quan tâm hơn. Sở dĩ có hiện tượng như vậy vì lúc bấy giờ in rập những văn bản có niên đại triều Lê trở lên sẽ có tiền công cao hơn so với số văn bản niên đại triều Nguyễn. Vì lẽ này nên các văn bản niên đại triều Nguyễn ít được quan tâm cho in rập, hơn thế lại còn xảy ra hiện tượng làm giả niên đại bia triều Lê trên các thác bản văn khắc triều Nguyễn. Ở Hà Nội số văn khắc bị làm giả niên đại tập trung chủ yếu vào một số xã của huyện Thanh Trì cũ nay là phường Nhân Chính, phường Hạ Đình quận Thanh Xuân(4).
Về niên đại của văn khắc Hán Nôm Hà Nội qua đợt sưu tầm đầu tiên chủ yếu là bia có niên đại sớm trong suốt thời Lê trung hưng từ Hoằng Định đến Cảnh Hưng. Số văn khắc có niên đại triều Tây Sơn tập trung vào niên hiệu Quang Trung, Cảnh Thịnh và số văn khắc trên chuông khánh đồng có niên đại Tây Sơn tăng lên đáng kể. Niên đại sớm nhất trên bia đá của Hà Nội là niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất (1428), đó là bia Đại Bi tự bi minh, đặt tại chùa Kim Liên, quận Tây Hồ. Tiếp theo là các minh văn trên bia Văn miếu Hà Nội với các niên đại từ Hồng Đức đến Cảnh Hưng. Như vậy có thể nói toàn bộ số văn khắc trên bia đá, chuông khánh đồng của Hà Nội qua đợt sưu tầm lần thứ nhất chủ yếu là nằm trong hai thế kỷ XVII và XVIII, ngoài ra có một số lượng không nhiều văn khắc triều Nguyễn.
Về các địa điểm di tích liên quan đến văn khắc Hà Nội trong đợt sưu tầm lần thứ nhất gồm: chùa, đền, đình, miếu, quán, văn chỉ, từ đường dòng họ và một số bia liên quan đến cầu và chợ; trong đó số văn khắc được lưu giữ tại chùa chiếm số lượng nhiều nhất. Tại các quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng thuộc phạm vi nội thành Hà Nội cũ chùa là nơi còn lưu giữ được nhiều văn khắc nhất sau đó là số văn khắc ở đền miếu rồi sau nữa mới đến đình. Tuy nhiên, điều này lại không đúng với quận Hoàn Kiếm, số bia và di tích được nhắc đến nhiều nhất ở quận này là bia dựng ở đền, sau đó mới đến chùa, sau nữa là đình. Điều này phải chăng cho thấy trong quá trình đô thị hóa ở chốn Kinh kỳ - Kẻ Chợ ngôi đình làng không còn là nơi hội tụ đông đảo dân chúng như ở các vùng quê, sinh hoạt cộng đồng của dân 36 phố phường xưa dần dần tập trung về các ngôi chùa và đền, miếu, vì thế đền chiếm vị trí thứ hai sau chùa về lượng văn khắc được tạo dựng. Cũng cần lưu ý là điểm di tích nào được đông đảo người dân lui tới thường xuyên thì họ sẽ tham gia đóng góp công đức, tu bổ nhiều hơn và vì thế mà bia đá được dựng lên để ghi công. Mặt khác theo chúng tôi, chức năng của bia đá ngoài công dụng nhằm tuyên dương công đức của một cá nhân hay tập thể nào đó với cộng đồng thì nó còn có sự định hướng cho những người tiếp theo học tập và noi gương. Điều này cũng tương tự đối với những bài minh văn khắc trên chuông, khánh đồng. Đến di tích, ngắm nhìn hiện vật, đọc những thông điệp hướng thiện từ các bài minh văn sẽ góp phần tạo ra hiệu ứng tiếp nối, bia đá là minh chứng cho sự ngợi ca về lòng hảo tâm công đức của thiện tín thập phương. Đó là cách lý giải của chúng tôi về sự xuất hiện nhiều hay ít bia đá, chuông khánh đồng tại các điểm di tích.
Sau đây là các địa điểm di tích lưu giữ văn khắc tại các quận nội thành trong đợt sưu tầm lần thứ nhất và như vậy hiển nhiên các di tích khi đó còn tồn tại. Chúng tôi thống kê trên bộ thư mục văn bia cũ do Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện và cho in bản đánh máy vào năm 1986, địa danh liên quan đến di tích được ghi ở phần lạc khoản của mỗi thác bản văn khắc khi đi sưu tập về, đó là địa danh đầu thế kỷ XX. Phần chú thêm ngày nay là… được cán bộ biên soạn thư mục chua thêm, và đó là địa danh của những năm 80 của thế kỷ XX, hiện nay sau vài chục năm chắc là sẽ có một số địa danh đã thay đổi.
Quận Hoàn Kiếm
Đền:
- Đền Bà Kiệu 3 văn bản, đền Ngọc Sơn 7 văn bản, hai đền này đều thuộc phố Bờ Hồ nay là phố Đinh Tiên Hoàng,
-Đền Hương Nghĩa 1 văn bản, đền Phúc Lâm 1 văn bản, cả hai ngôi đền này đều thuộc phố Chợ Gạo nay thuộc phường Đồng Xuân;
-Đền Vũ Thạch phố Gia Long nay là phố Bà Triệu 3 văn bản;
-Đền Hài Tượng phố Hài Tượng nay thuộc phường Hàng Bạc 2 văn bản;
-Đền Dũng Hãn 2 văn bản, đền thôn Nguyên Khiết 8 văn bản. hai ngôi đền này đều thuộc phố Hàng Bạc nay vẫn là phố Hàng Bạc;
-Đền Bích Lưu 1 văn bản, đền Phúc Hậu 1 văn bản, cả hai ngôi đền đều thuộc phố Hàng Bông nay vẫn là phố Hàng Bông;
-Đền Bạch Mã 15 văn bản, đền giáp Hương Bài 1 văn bản, đền giáp Hương Tượng 6 văn bản, đền Quan Thánh 2 văn bản. Bốn ngôi đền này đều thuộc phố Hàng Buồm nay thuộc phường Hàng Buồm;
-Đền Đông Hạ phố Chả Cá nay là phố Hàng Cá 1 văn bản;
-Đền Bạch Bố phố Hàng Đào nay thuộc phường Hàng Đào 12 văn bản;
-Đền Nghĩa Lập phố Hàng Đậu nay vẫn là phố Hàng Đậu 10 văn bản;
-Đền Cổ Lương phố Ngõ Gạch 1 văn bản.
-Đền ngõ Phất Lộc 7 văn bản,
-Đền Tân Khai thôn Tân Khai nay là phố phố Hàng Gà 1 văn bản.
Tổng cộng có 18 ngôi đền có 85 đơn vị tư liệu văn khắc Hán Nôm.
Miếu:
- Miếu Bạch Mã 2 văn bản, miếu Quan Thánh 5 văn bản, hai miếu này đều thuộc phố Hàng Buồm nay thuộc phường Hàng Buồm;
Chùa:
-Chùa Quang Minh phố Gia Long nay là phố Bà Triệu 9 văn bản;
-Chùa Hàm Long phố Hàm Long nay vẫn là phố Hàm Long 3 văn bản;
-Chùa Kim Cổ 2 văn bản, chùa Thiên Phúc 1 văn bản. Hai chùa này thuộc phố Hàng Bông nay vẫn là phố Hàng Bông;
-Chùa Hồng Phúc phố Hàng Khoai, nay là phố Hàng Khoai 1 văn bản;
-Chùa Đồng Môn phố Hàng Đường nay vẫn là phố Hàng Đường 3 văn bản;
-Chùa Huyền Thiên phố Hàng Khoai nay là phố Hàng Khoai 7 văn bản;
-Chùa Lý Quốc Sư phố Lý Quốc Sư nay vẫn là phố Lý Quốc Sư 5 văn bản;
-Chùa Quán Sứ phố Quán Sứ nay vẫn là phố Quán Sứ 12 văn bản;
-Chùa Thái Cam nay thuộc phố Hàng Gà 9 văn bản.
Tổng cộng có 10 ngôi chùa được nhắc tới còn lưu giữ 53 đơn vị tư liệu văn khắc.
Đình:
-Đình chợ Kim Ngân thôn Đông Thọ nay thuộc phường Hàng Bạc 3 văn bản;
-Đình Vũ Thạch phố Gia Long nay là phố Bà Triệu 2 văn bản;
-Đình phố Hàng Bạc nay vẫn là phố Hàng Bạc 1 văn bản.
-Đình Anh Mỹ 4 văn bản, đình Bích Lưu 1 văn bản, hai đình này đều thuộc phố Hàng Bông nay vẫn là phố Hàng Bông;
-Đình Hoa Lộc phố Hàng Đào 4 văn bản,
-Đình Đông Hà phố Hàng Gai nay thuộc phường Hàng Gai 1 văn bản;
-Đình thôn Yên Phú phố Hàng Đồng nay là phố Hàng Đồng, 4 văn bản;
-Đình Nam Hương phố Hàng Trống nay thuộc phường Hàng Trống 1 văn bản;
-Đình thôn Cổ Lương phố Ngõ Gạch nay vẫn là phố Ngõ Gạch 4 văn bản;
-Đình Hội Thống 2 văn bản, đình thôn Thanh Hà 6 văn bản, hai đình này đều thuộc phố Mới nay là phố Thanh Hà phường Đồng Xuân.
Tổng cộng có 12 ngôi đình lưu giữ 27 văn bản thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm.
Hội quán:
- Hội quán Việt Đông phố Hàng Buồm nay thuộc phường Hàng Buồm 7 văn bản;
- Quán Huyền Thiên thôn Huyền Thiên phố Hàng Khoai, nay là phố Hàng Khoai 8 văn bản;
- Hội quán Phúc Kiến phố Phúc Kiến nay là phố Lãn Ông 2 văn bản.
Văn chỉ:
-Văn chỉ thôn Thanh Hà phố Mới nay là phố Thanh Hà phường Đồng Xuân 3 văn bản;
-Văn chỉ phố Hàng Buồm 2 văn bản.
Như vậy, ở quận Hoàn Kiếm trong thời gian đầu thế kỷ XX, ngôi đền là một loại hình di tích được đề cập nhiều nhất và cũng có nhiều tư liệu văn khắc nhất, sau đó là ngôi đình rồi mới đến chùa.
Quận Ba Đình
Chùa:
-Chùa Châu Long 27 văn bản, chùa Phổ Quang 10 văn bản. Hai chùa đó đều thuộc phố Đỗ Hữu Vị nay là phố Cửa Bắc;
-Chùa Hồng Phúc phố Hàng Than nay vẫn là phố Hàng Than 47 văn bản; chùa Chúc Thánh 8 văn bản, chùa Phúc Châu 2 văn bản, chùa Tĩnh Lâu 2 văn bản, chùa Thánh Chúc 1 văn bản. Cả bốn chùa đó đều thuộc phường Hồ Khẩu nay là phường Thụy Khuê(5);
-Chùa Kim Sơn xã Kim Mã nay thuộc phường Kim Mã 4 văn bản;
-Chùa Phúc Viên phố Lămbe nay là phố Nguyễn Trường Tộ 4 văn bản;
-Chùa Bát Mẫu phố Ngọc Hà nay thuộc phường Ngọc Hà 15 văn bản;
-Chùa Một Cột phố Ngọc Thanh nay là phố chùa Một Cột 26 văn bản;
-Chùa Thanh Minh phố Ngọc Thanh 2 văn bản;
-Chùa Châu Lâm phường Thụy Chương nay thuộc phường Thụy Khuê 1 văn bản; chùa Phúc Châu 22 văn bản, chùa Phúc Lâm 1 văn bản, hai chùa này đều thuộc phường Thụy Khuê nay vẫn là phường Thụy Khuê;
-Chùa Bát Tháp 4 văn bản, chùa Vĩnh Khánh 1 văn bản, hai chùa đều thuộc xã Vạn Phúc;
-Chùa Hộ Quốc 1 văn bản, chùa Trấn Quốc 13 văn bản, hai chùa này đều thuộc phường Yên Phụ nay vẫn là phường Yên Phụ.
Như vậy có 18 ngôi chùa thuộc quận Ba Đình còn lưu giữ 191 văn bản.
Đền:
-Đền Châu Long phố Châu Long nay vẫn là phố Châu Long 3 văn bản;
-Đền An Viên 17 văn bản, đền Thọ An 2 văn bản, hai ngôi đền này đều thuộc phố Đỗ Hữu Vị nay là phố Cửa Bắc;
-Đền Thủy Thiên Quan phố Hàng Bún nay vẫn là phố Hàng Bún 5 văn bản;
-Đền Thạch Khối 2 văn bản, đền thôn Yên Thuận 5 văn bản, đền Giai Cảnh 9 văn bản, ba ngôi đền này đều thuộc phố Hàng Than nay vẫn là phố Hàng Than;
-Đền Vệ Quốc phường Hồ Khẩu nay là phường Thụy Khuê 4 văn bản; đền Giai Cảnh, đền Thụy Chương 17 văn bản, miếu Thụy Chương 18 văn bản. Đền miếu Thụy Chương phường Thụy Chương nay thuộc phường Thụy Khuê;
-Đền Hiển Ứng phường Yên Phụ nay vẫn là phường Yên Phụ 3 văn bản;
Tổng cộng có 12 ngôi đền lưu giữ 85 văn bản.
Đình:
-Đình Hồ Khẩu phường Hồ Khẩu nay là phường Thụy Khuê 14 văn bản;
-Đình Hữu Tiệp xã Hữu Tiệp nay thuộc phường Ngọc Hà 24 văn bản;
-Đình Kim Mã xã Kim Mã nay thuộc phường Kim Mã 4 văn bản;
-Đình Liễu Giai xã Liễu Giai nay thuộc phường Cống Vị 1 văn bản;
-Đình Sư Sơn 4 văn bản,
-Đình Vạn Phúc 4 văn bản,
-Đình Yên Phụ phường Yên Phụ nay vẫn là phường Yên Phụ 7 văn bản;
Tổng cộng có 7 ngôi đình lưu giữ 58 văn bản.
Quán Trấn Vũ: cuối đường Thanh Niên 6 văn bản.
Điện Khán Xuân phố Ngọc Thanh nay là phố chùa Một Cột 1 văn bản.
Quận Đống Đa
Chùa:
-Chùa Bích Câu phố Bích Câu nay thuộc phường Cát Linh 1 văn bản;
-Chùa An Trạch 1 văn bản, chùa An Trinh 1 văn bản, chùa Phổ Giác 11 văn bản, chùa Phổ Quang 1 văn bản. Cả bốn chùa này đều thuộc phố Lương Sử nay thuộc phường Quốc Tử Giám;
-Chùa Nam Đồng 15 văn bản, chùa Càn An 26 văn bản, hai chùa này đều thuộc xã Nam Đồng nay thuộc phường Nam Đồng;
-Chùa Bà Ngô 4 văn bản, chùa Ngọc Hồ 7 văn bản, chùa Quang Minh 10 văn bản. Ba chùa này đều thuộc phố Sinh Từ nay là phố Nguyễn Khuyến;
-Chùa Huy Văn xã Vĩnh An nay thuộc phường Hàng Bột 6 văn bản;
-Chùa Kim Yên phường Xã Đàn nay thuộc phường Nam Đồng 6 văn bản;
-Chùa Chiêu Thiền xã Yên Lãng nay thuộc phường Láng Hạ 14 văn bản.
Tổng cộng có 13 ngôi chùa lưu giữ 103 văn bản.
Đền:
-Đền Bích Câu phố Bích Câu nay thuộc phường Cát Linh 1 văn bản;
-Đền Cao Sơn phường Kim Liên nay thuộc phường Kim Liên 1 văn bản;
-Đền Sùng Sơn phố Lương Sử nay là phố Hàng Bột phường Quốc Tử Giám 1 văn bản;
-Đền Vĩnh Quốc Công phố Sinh Từ nay là phố Nguyễn Khuyến 4 văn bản.
Tổng cộng có 4 ngôi đền lưu giữ 7 văn bản.
Đình: đình Lương Sử phố Lương Sử nay thuộc phường Quốc Tử Giám 5 văn bản;
-Đình Đông Các phường Thịnh Hào nay thuộc phường Ô Chợ Dừa 3 văn bản.
Như vậy chỉ có 2 ngôi đình lưu giữ 8 văn bản.
Văn miếu Quốc tử giám nay thuộc phường Văn Miếu 85 văn bản.
Quận Hai Bà Trưng
Chùa:
-Chùa Liên Phái phường Bạch Mai nay thuộc phường Bạch Mai 28 văn bản;
-Chùa Viên Minh phố Đồng Nhân nay thuộc phường Đồng Nhân 8 văn bản;
-Chùa Tràng Tín phố Đức Bác nay là phố Hàng Chuối 2 văn bản;
-Chùa Hồng Đức 4 văn bản, chùa Linh Ứng 3 văn bản, chùa Phúc Lâm 2 văn bản. Ba chùa này đều thuộc phố Đức Viên nay là phố Trần Xuân Soạn;
-Chùa thôn Giáp Lục 6 văn bản, chùa Đại Bi 6 văn bản, hai chùa này đều thuộc xã Giáp Lục nay là phường Tân Mai;
-Chùa Thiên Quang 14 văn bản, chùa Hòa Mã 19 văn bản, hai chùa này đều thuộc phố Hòa Mã nay thuộc phố Phùng Khắc Khoan phường Ngô Thì Nhậm;
-Chùa Từ Ân phố Huế nay thuộc phường Huế 9 văn bản;
-Chùa Hộ Quốc xã Lãng Yên nay thuộc phường Bạch Đằng 3 văn bản;
-Chùa Linh Nguyệt 7 văn bản, chùa Quang Hoa 21 văn bản, chùa Pháp Hoa 2 văn bản, chùa Thiền Quang 3 văn bản. Bốn chùa này đều thuộc phố Liên Trì nay là phố Trần Bình Trọng;
-Chùa Trường Khánh phường Phục Cổ, nay thuộc phường Lê Văn Hưu 1 văn bản
-Chùa Long Khánh xã Qùynh Lôi, nay là phường Quỳnh Lôi 2 văn bản;
-Chùa Linh sơn xã Thanh Nhàn, nay thuộc phường Thanh Nhàn 2 văn bản;
Tổng cộng có 19 ngôi chùa lưu giữ 142 văn bản.
Đền:
-Đền Hai Bà Trưng phố Đồng Nhân nay thuộc phường Đồng Nhân 1 văn bản,
-Đền giáp Thái Giao 9 văn bản, đền giáp Liên Thủy 2 văn bản, hai đền này đều thuộc phố Liên Trì nay là phố Trần Bình Trọng,
-Đền Đông Hạ phường Phục Cổ nay thuộc phường Lê Văn Hưu 5 văn bản.
-Miếu thuộc phường Bạch Mai 2 văn bản
Tổng cộng có 5 ngôi đền lưu giữ 19 văn bản.
Đình:
-Đình Đức Bác phố Đức Bác nay là phố Hàng Chuối 4 văn bản;
-Đình Đức Viên thuộc phố Đức Viên nay là phố Trần Xuân Soạn 2 văn bản;
-Đình Hòa Mã phố Hòa Mã nay thuộc phường Ngô Thì Nhậm 1 văn bản;
-Đình Đông Hạ phố Huế nay thuộc phường Huế 4 văn bản;
-Đình Thanh Lãng xã Lãng Yên nay thuộc phường Bạch Đằng 7 văn bản;
-Đình Quỳnh Đôi xã Quỳnh Đôi nay thuộc phường Quỳnh Đôi 4 văn bản.
Tổng cộng có 6 ngôi đình lưu giữ 22 văn bản.
Nhà thờ họ Thành phường Bạch Mai nay thuộc phường Bạch Mai 1 văn bản.
Văn chỉ huyện Thọ Xương 1 văn bản.
Từ những thống kê về địa điểm di tích còn lưu giữ văn khắc của bốn quận nội thành cho thấy tại đây vào đầu thế kỷ XX có ba loại di tích được nhắc đến nhiều nhất:
Đó là: 59 ngôi chùa 35 ngôi đền và 26 ngôi đình. Các di tích khác như văn chỉ chỉ có 3 và duy nhất có một nhà thờ họ. Ngược lại với chốn đô hội phố phường, tại các huyện ngoại thành Hà Nội như Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Thanh Trì, Sóc Sơn thì số bia chuông được lưu giữ tại đình chiếm số lượng thứ hai sau chùa và số bia tại các từ đường dòng họ tăng lên đáng kể. Chúng ta hãy cùng xem số liệu tại các huyện ngoại thành.
Huyện Đông Anh
-Xã Cổ Dương nay là xã Tiên Dương có từ đường họ Nghiêm với 2 văn bản.
-Xã Cổ Loa nay vẫn thuộc xã Cổ Loa có 15 văn bản, tại chùa Bảo Sơn 8 văn bản, đền thờ An Dương Vương 5 văn bản, Văn chỉ huyện 2 văn bản.
-Xã Danh Lâm nay thuộc xã Mai lâm có 7 văn bản, 6 văn bản tại quán chợ - chùa, một văn bản tại từ đường họ Trịnh.
-Xã Du Lâm nay thuộc xã Mai Lâm có 19 văn bản, tại chùa Linh Quang có 18 văn bản, cầu đá thôn Du Lâm 1 văn bản.
-Xã Dục Nội nay thuộc xã Việt Hùng có 13 văn bản, tại chùa Kiến Dương có 12 văn bản, trường học có một văn bản.
-Xã Dục Tú có 3 văn bản, chùa Linh Đường 2 văn bản, một văn bản là của văn từ nhưng bị xếp vào bia chùa.
-Xã Đào Thục nay thuộc xã Thụy Lâm có 13 văn bản, tại chùa có 12 văn bản, đình có 1 văn bản.
-Xã Đông Trù nay thuộc xã Đông Hội có 5 văn bản tại chùa Bảo Tháp.
-Xã Đường An nay thuộc xã Cổ Loa có 2 văn bản tại chùa.
-Xã Gia Lộc nay thuộc xã Việt Hùng có 9 văn bản, tại chùa có 5 văn bản, đình 1 văn bản, lăng Quận công 3 văn bản.
-Xã Hà Lỗ nay thuộc xã Liên Hà có 2 văn bản tại chùa An Linh.
-Xã Hà Vĩ nay thuộc xã Liên Hà có 1 văn bản tại nhà thờ họ Đỗ.
-Xã Hậu Dưỡng nay là xã Kim Chung có 2 văn bản tại chùa.
-Xã Lỗ Giao nay thuộc xã Việt Hùng có 3 văn bản tại chùa Càn Long 1 văn bản tại lăng thị nội.
-Xã Lỗ Khê nay thuộc xã Liên Hà có 2 văn bản, một tại chùa Bình Ám một tại quán xã Lỗ Khê.
-Xã Lộc Hà nay thuộc xã Mai Lâm có 1 văn bản tại cầu.
-Xã Lương Quy nay thuộc xã Xuân Nộn có 5 văn bản, bốn văn bản tại đình, một văn bản tại chùa.
-Xã Mai Hiên nay thuộc xã Mai Lâm có một bia tại chùa Bảo Quang.
-Xã Ngọc Lôi nay thuộc xã Dục Tú có 1 văn bản tại chùa Long Khánh.
-Xã Ngô Khê nay thuộc xã Vân Hà có 1 văn bản tại đình.
-Xã Vạn Tái nay thuộc xã Xuân Canh có 1 văn bản tại văn chỉ.
-Xã Thiết Bình nay thuộc xã Vân Hà có 1 văn bản tại chùa.
-Xã Thư Cưu nay thuộc xã Cổ Loa có 6 văn bản tại chùa Linh Quang.
-Xã Thư Lâm nay thuộc xã Thụy Lâm có 2 bia ở chùa Phúc Lâm.
-Xã Thụy Lôi có 1 văn bản tại đình.
-Xã Tiên Hội nay thuộc xã Đông Hội có 4 văn bản, tại chùa 3, đình 1.
-Xã Uy Nỗ nay thuộc xã Uy Nỗ có 1 văn bản tại chợ Tó.
-Xã Vân Điềm nay thuộc xã Vân Hà có 2 văn bản tại văn chỉ.
-Xã Xuân Nộn có 4 văn bản tại chùa Giao Quang.
Như vậy tại huyện Đông Anh có 89 văn bản tại chùa, 9 văn bản tại đình, 5 văn bản tại đền, 2 tại từ đường, 8 tại chợ, 6 tại văn chỉ, 2 tại cầu, 4 tại lăng mộ.
Huyện Gia Lâm
-Xã Bát Tràng nay thuộc xã Bát Tràng có 5 văn bản, tại điện Bảo Ninh 2 văn bản, từ chỉ Quỳ Quận công 2 văn bản, từ đường Nguyễn tướng công 1 văn bản.
-Xã Cự Đà nay thuộc xã Đặng Xá có 1văn bản tại đình thôn Cự Đà.
-Xã Cự Linh (chưa rõ nay thuộc xã nào) có 2 văn bản tại chùa Nghiêm Quang.
-Xã Công Đình nay thuộc xã Đình Xuyên có 4 văn bản tại đình.
-Xã Dương Quang nay thuộc xã Dương Quang có 1 văn bản tại chùa Tư Phúc.
-Xã Đa Tốn có 1 văn bản tại chùa Cự Đà.
-Xã Đặng Xá nay thuộc xã Đặng Xá có 4 văn bản tại từ đường Nguyễn Sĩ Trung.
-Xã Đình Vĩ nay thuộc xã Yên Thường có 9 văn bản, 3 văn bản tại chùa Bảo Khánh, 3 văn bản tại chùa Phúc Sơn, 1 văn bản tại đình Đỗ Xá, 2 văn bản tại nhà thờ họ Nguyễn.
-Xã Đông Dư nay thuộc xã Đông Dư có 1 văn bản tại chùa.
-Xã Gia Cốc nay thuộc xã Kiêu Kỵ có 1 văn bản tại nhà thờ Đinh Tướng công.
-Xã Gia Quất nay thuộc xã Ngọc Thụy có 5 văn bản tại đình, xã này vốn gồm 2 thôn: Gia Quất trung nay thuộc xã Ngọc Thụy, Gia Quất hạ nay thuộc xã Thượng Thanh.
-Xã Gia Thụy nay thuộc xã Gia Thụy có 17 văn bản tại chùa Thiên Ứng Phúc Lâm.
-Xã Giao Tất nay thuộc xã Kim Sơn có 3 văn bản, 2 văn bản tại chợ, 1 tại văn chỉ.
-Xã Giao Tự nay thuộc xã Kim Sơn có 1 văn bản tại đình.
-Xã Hạ Dương nay thuộc xã Dương Hà có 1 văn bản tại chùa Hiển Quang.
-Xã Hạ Tốn nay thuộc xã Đa Tốn có 2 văn bản tại nhà thờ Cơ Quận công.
-Xã Hòa Lạc nay thuộc xã Phú Thị có 1 văn bản tại văn chỉ.
-Xã Kim Sơn nay thuộc xã Kim Sơn có 2 văn bản tại đình.
-Xã Lâm Du nay thuộc xã Bồ Đề có 4 văn bản tại chùa Nguyệt Quang.
-Xã Lâm Hạ nay thuộc xã Gia Thụy có 7 văn bản tại chùa Thiên Định.
-Xã Lệ Mật nay thuộc xã Việt Hưng có 4 văn bản, 2 tại chùa Cổ Giao, 2 tại đình.
-Xã Lễ Thôn nay thuộc xã Đặng Xá có 1 văn bản tại đình.
-Xã Ninh Giang nay thuộc xã Ninh Hiệp có 2 văn bản, 1 tại chùa Đại Bi, 1 tại đình.
-Xã Nông Vụ nay thuộc xã Hội Xá có 4 văn bản, 1 tại chùa Đầu Ứng, 2 tại chùa Hiển Ứng, 1 tại từ đường Nguyễn tướng công.
-Xã Phù Dực nay thuộc xã Phù Đổng có 2 văn bản, 1 tại am Vĩnh Trấn, 1 tại chùa Sùng Khánh.
-Xã Phù Ninh nay thuộc xã Ninh Hiệp có 26 văn bản, 10 tại chùa Pháp Vân, 4 tại chùa Khánh Ninh, 8 tại đình, 1 tại lăng Nguyễn tướng công, 1 tại từ chỉ.
-Xã Phú Thị nay thuộc xã Phú Thị có 12 văn bản, 8 tại chùa Đại Dương, 3 tại đình, 1 tại văn chỉ xã.
-Xã Quán Tình nay thuộc xã Giang Biên có 5 văn bản, 4 tại chùa Thía Linh, 1 tại miếu.
-Xã Tế Xuyên nay thuộc xã Đình Xuyên có 6 văn bản, 5 tại chùa Linh Quang, 1 tại đình.
-Xã Thuận Quang nay thuộc xã Dương Xá có 1 văn bản tại đình.
-Xã Thượng Cát nay thuộc xã Thượng Thanh có 1 văn bản tại đình.
-Xã Tiểu Lâm nay thuộc xã Yên Viên có 3 văn bản tại chùa Sùng Ân.
-Xã Tình Quang nay thuộc xã Giang Biên có 1 văn bản tại đình.
-Xã Trân Tảo nay thuộc xã Phú Thị có 2 văn bản tại chùa Vạn Đại.
-Xã Yên Thường nay thuộc xã Yên Thường có 21 văn bản, 11 tại chùa thôn An Thị, 10 tại chùa Sùng Ân thôn Xuân Dục.
Như vậy huyện Gia Lâm có 102 bia tại chùa, 33 bia tại đình, 12 tại từ đường, 2 tại chợ, 3 tại văn chỉ, 2 tại từ chỉ - lăng mộ.
Huyện Sóc Sơn
-Xã Bắc Dã nay thuộc xã Phù Lỗ có 1 văn bản tại đình.
-Xã Đông Bài nay thuộc sân bay Nội Bài có 3 văn bản, tại chùa thôn Phú Ninh 2 văn bản, đình thôn Phúc Ninh 1 văn bản.
-Xã Đông Tảo nay thuộc xã Đông Xuân có 4 văn bản tại chùa Cổ Am.
-Xã Kim Anh nay thuộc xã Nam Sơn có 1 văn bản tại chùa.
-Xã Kim Lũ nay thuộc xã Kim Lũ có 1 văn bản tại đình thôn Trung.
-Xã Mai Nội nay thuộc xã Mai Đình có 28 văn bản, tại chùa thôn Nội Phật 4 văn bản, chùa thôn Tảo Mai 1 văn bản, đình 19 văn bản, miếu 3 văn bản.
-Xã Mai Thôn nay thuộc xã Mai Đình có 11 văn bản, chùa Vĩnh Phúc 9 văn bản, sinh từ 2 văn bản.
-Xã Phù Lỗ Đoài có 31 văn bản, tại chùa Phù Lỗ Đoài có 18 văn bản, chùa Vạn Phúc 1 văn bản, đền Thọ Nghĩa 1 văn bản, đình Phù Xá Đoài 2 văn bản, miếu 4 văn bản, văn chỉ 3 văn bản, thôn Đoài 1 văn bản.
-Xã Phù Lỗ Đông nay thuộc xã Phù Lỗ có 17 văn bản, tại chùa Phù Lỗ Đông 6 văn bản, đền Phù Lỗ 6 văn bản, văn chỉ 5 văn bản trong đó có 2 văn bản là văn chỉ huyện, 1 của văn chỉ xã Phù Xá Đông, 2 của văn chỉ xã Phù Xá.
-Xã Phù Xá Đoài nay thuộc xã Phú Minh có 4 văn bản, trong đó chùa Phúc Sinh 1 văn bản, đình 1 văn bản, lăng Thiên Tả 1 văn bản, văn chỉ 1 văn bản.
-Xã Song Mai nay thuộc xã Mai Đình có 3 văn bản tại chùa Hoằng Dương.
-Xã Thái Phù nay thuộc xã Mai Đình có 6 văn bản, 1 tại chùa Hoa Nghiêm, 5 tại đình.
-Xã Thế Trạch nay thuộc xã Mai Đình có 2 văn bản, 1 tại chùa, 1 tại đình.
-Xã Thụy Hương nay thuộc xã Phú Cường có 4 văn bản, 1 tại sinh từ Nguyễn tướng công, 3 tại văn chỉ.
-Xã Vụ Bản nay thuộc xã Minh Trí có 2 văn bản, 1 tại cầu, 1 tại chùa.
-Xã Xuân Kỳ nay thuộc xã Đông Xuân có 7 văn bản, 1 tại chùa Linh Thiên, 1 tại chùa Linh Nguyên (chùa thôn Bến), 1 tại chùa thôn Đoài, 1 tại chùa Đông, 1 tại chùa thôn Trung, 2 tại đình.
Tổng cộng huyện Sóc Sơn có 58 văn bản tại chùa, 39 tại đình, 8 tại đền, 12 tại văn chỉ, 1 tại cầu, 1 tại lăng mộ, 3 tại sinh từ, 1 trên đường làng.
Huyện Thanh Trì
-Xã Bằng Liệt nay thuộc xã Hoằng Liệt có 8 văn bản, 2 tại chùa, 1 tại điếm, 2 tại đình, 1 tại hội quán giáp Nam Hạ, 2 tại miếu.
-Xã Cổ Điển nay thuộc xã Tứ Hiệp có 2 văn bản tại chùa Long Quang.
-Xã Cựu Thượng có 4 văn bản, 3 tại đình, 1 tại điếm.
-Xã Đa Phúc nay thuộc xã Vạn Phúc có 1 văn bản tại chùa Đỉnh Sơn.
-Xã Đại Áng nay thuộc xã(6) Đại Áng có 3 văn bản, 2 tại chùa 1 tại văn chỉ.
-Xã Đại Từ nay thuộc xã Đại Kim có 9 văn bản.
-Xã Định Công nay thuộc xã Định Công có 20 văn bản, 9 tại chùa, 10 tại đình, 1 tại nhà thờ họ Trịnh.
-Xã Đông Đàm nay thuộc xã Đại Áng có 1 văn bản tại chùa.
-Xã Đông Phù nay thuộc xã Đông Mỹ có 1 văn bản tại đình.
-Xã Đông Trạch nay thuộc xã Ngũ Hiệp có 1 văn bản.
-Xã Hoằng Liệt nay thuộc xã Hoằng Liệt có 1 văn bản tại am Quận công.
-Xã Huỳnh Cung nay thuộc xã Tam Hiệp có 5 văn bản, 1 tại chùa Sùng Phúc, 4 tại miếu thờ Chu Văn Trinh.
-Xã Khương Đình nay thuộc xã Khương Đình có 7 văn bản tại chùa.
-Xã Kim Lũ nay thuộc xã Đại Kim có 19 văn bản, 1 tại cầu đá, 1 tại chùa, 1 tại đền Phương Đình, 7 tại đình, 4 tại nhà thờ họ Nguyễn, 1 tại từ chỉ thôn Văn, 1 tại văn từ thôn Trung, 1 tại cầu La, 2 tại bản xã.
-Xã Linh Đường nay thuộc xã Hoằng Liệt có 5 văn bản, 2 tại đình, 1 tại xã, 1 ở cánh đồng, 1 ở cửa cung?
-Xã Nguyệt Áng nay thuộc xã Đại Áng có 5 văn bản, 3 tại đình, 2 tại chùa.
-Xã Phương Nhị nay thuộc xã Liên Minh có 2 văn bản.
-Xã Quang Liệt nay thuộc xã Thanh Liệt có 60 văn bản, 8 tại chùa Quang Phúc, 2 tại cầu Quang Bình, 27 tại chùa Long Quang, 5 tại chùa thôn Trung, 1 tại chùa xã, 5 tại đình thôn Trung, 4 tại đình xã, 5 tại văn chỉ thôn Trung, 1 tại phủ Khôn Trinh.
-Xã Thọ Am nay thuộc xã Liên Minh có 1 văn bản.
-Xã Thượng Đình nay thuộc xã Khương Đình có 12 văn bản, 8 tại chùa Sùng Phúc, 3 tại chùa Tam Huyền, 1 tại miếu.
-Xã Tứ Kỳ nay thuộc xã Hoằng Liệt có 12 văn bản, 1 tại miếu Chiêu Nghi, 10 tại chùa, 1 tại xã.
-Xã Tự Khoát có 1 văn bản tại chùa.
-Xã Khương Trúc nay thuộc xã Ngũ Hiệp có 1 văn bản tại chùa Thanh Liên.
-Xã Tựu Liệt nay thuộc xã Tam Hiệp có 5 văn bản, 1 tại chùa, 2 tại đình, 2 tại văn chỉ.
-Xã Văn Điển nay là thị trấn Văn Điển có 2 văn bản tại đình.
-Xã Vĩnh Trung nay thuộc xã Tứ Hiệp có 1 văn bản tại đình.
-Xã Yên Ngưu nay thuộc xã Tam Hiệp có 8 văn bản, 6 tại chùa, 2 tại đình.
-Xã Yên Xá nay thuộc xã Tân Triều có 1 văn bản tại chùa.
Tổng cộng, huyện ThanhTrì có 115 văn bản tại chùa, 45 tại đình, 9 tại đền, 5 tại từ đường, 2 tại điếm, 10 tại văn chỉ, 1 tại quán chợ, 1 tại lăng, 4 tại cầu.
Huyện Từ Liêm
-Xã Bái Ân nay thuộc thị trấn Nghĩa Đô có 4 văn bản, 2 tại chùa, 1 tại đình, 1 tại am.
-Xã Cáo Đỉnh nay thuộc xã Xuân Đỉnh có 3 văn bản, 2 tại am, 1 tại đàn tế.
-Xã Cổ Nhuế nay thuộc xã Cổ Nhuế có 12 văn bản, 6 tại điếm, 3 tại chùa, 1 tại thôn Đống, 1 tại thôn Hoàng, 1 tại am.
-Xã Cự Lộc nay thuộc xã Nhân Chính có 9 văn bản tại chùa Bồ Đề.
-Xã Dịch Vọng nay thuộc xã Dịch Vọng có 15 văn bản, 2 tại am, 1 tại điếm, 1 tại văn chỉ, 1 tại chùa, 2 tại chùa thôn Hòa Mục, 2 tại chùa Quảng Khai, 2 tại chùa Tăng Phúc, 1 tại đình Duệ Tú, 1 tại đình Tăng Phúc, 1 tại nhà Đại Bái.
-Xã Đại Mỗ nay thuộc xã Đại Mỗ có 13 văn bản, 5 tại chùa Tại Thiền, 2 tại chùa Trùng Quang, 1 tại đền Đại Vương, 1 tại nhà thờ họ Nguyễn, 4 tại chùa.
-Xã Đông Ngạc nay thuôc xã Đông Ngạc có 7 văn bản, 1 tại chùa, 2 tại đền thờ, 1 tại đình, 2 tại từ đường Đại Vương.
-Xã Hoa Ngạc nay thuộc xã Đông Ngạc có 1 bia tại đình.
-Xã Khang Cáo nay thuộc xã Xuân Đỉnh có 3 văn bản tại đình.
-Xã Mai Dịch nay thuộc xã Mai Dịch có 3 văn bản, 1 tại đình, 1 tại chùa, 1 tại am.
-Xã Mại Khế chưa rõ nay thuộc xã nào có 1 văn bản tại đình.
-Xã Mễ Trì nay thuộc xã Mễ Trì có 1 văn bản tại am.
-Xã Nghi Tàm nay thuộc xã Quảng An có 13 văn bản, 8 tại chùa Kim Liên, 3 tại miếu Hiển Linh, 3 tại miếu Hiển Ứng.
-Phường Nghĩa Đô nay thuộc thị trấn Nghĩa Đô có 4 văn bản, 3 tại đình, 1 tại chùa.
-Xã Ngọc Trục nay thuộc xã Đại Mỗ có 3 văn bản, 2 tại chùa Đại Phúc, 1 tại điếm.
-Xã Nhân Mục nay thuộc xã Nhân Chính có 38 văn bản, 10 tại đình xã, 4 tại đình thôn Quan Nhân, 3 tại đình thôn Hạ Đình, 20 tại đền, 1 tại chùa.
-Xã Nhân Mỹ nay thuộc xã Mỹ Đình có 6 văn bản, 4 tại đình, 2 tại chùa.
-Phường Nhật Tân nay thuộc xã Nhật Tân có 38 văn bản, 2 tại điện Nhật Chiêu, 23 tại chùa Phúc Khánh, 13 tại chùa Nhật Chiêu.
-Xã Phú Diễn nay thuộc xã Phú Minh có 2 văn bản, 1 tại đình, 1 tại từ đường họ Vương.
-Xã Phú Mỹ nay thuộc xã Mỹ Đình có 2 văn bản, 1 tại chùa Đại Am, 1 tại đình.
-Xã Phùng Khoang nay thuộc xã Trung Văn có 6 văn bản, 4 tại đình, 2 tại chùa Thanh Xuân.
-Xã Phương Canh nay thuộc xã Xuân Phương có 19 văn bản, 5 tại chùa Linh Ứng, 9 tại chùa Quỳnh Lâm, 2 tại chùa thôn Hòe Thị, 1 tại đình xã Phương Canh, 1 tại đình thôn Hòe Thị.
-Xã Quan Nhân nay thuộc xã Nhân Chính có 22 văn bản, 8 tại chùa, 14 tại đình.
-Phường Quảng Bá nay thuộc xã Quảng An có 21 văn bản tại chùa Hoằng Ân.
-Xã Tân Canh nay chưa rõ thuộc xã nào có 1 bai tại nhà thờ họ Trần.
-Xã Tây Tựu nay thuộc xã Tây Tựu có 13 văn bản, 1 tại cầu đá, 1 tại chùa xã, 1 tại chùa Bảo Sở, 8 tại chùa Hưng Khánh, 2 tại đền.
-Xã Thiên Mỗ nay thuộc xã Đại Mỗ có 3 văn bản, 1 tại chùa, 1 tại nhà thờ Đại Vương, 1 tại Thiên tự xã ?
-Xã Thượng Cù nay chưa rõ thuộc xã nào. có 1 văn bản tại đồng thôn Nội.
-Xã Trung Kính nay thuộc xã Trung Hà có 22 văn bản, 3 tại thôn Hòa Mục, 1 tại đình thôn Nhân Mục, 8 tại đình thôn Hòa Mục, 5 tại đình xã, 2 tại đền thôn Hòa Mục, 3 tại chùa Diên Phúc.
-Xã Vạn Phúc chưa rõ nay là xã nào có 4 văn bản, 3 tại chùa 1 tại văn chỉ.
-Xã Xuân Tảo nay thuộc xã Xuân Đỉnh có 11 văn bản, 2 tại chùa xã, 2 tại cánh đồng xã, 2 tại gác chuông chùa Vũ Diệu, 2 tại giáp Quán Nam, 1 tại từ đường họ Trần, 1 tại vườn am giáp Tây.
-Xã Yên Quyết nay thuộc xã Yên Hòa có 2 văn bản, 1 tại cầu sông Tô, 1 tại chùa.
Tổng cộng huyện Từ Liêm có 159 văn bản tại chùa, 74 tại đình, 33 tại đền miếu, 8 tại am, 7 tại từ đường, 2 tại văn chỉ, 1 tại đàn tế, 8 tại điếm, 2 tại cầu, 2 tại điện thờ, 2 tại đường làng, 2 tại địa phận giáp Quán Nam.
Những thống kê trên cho hay, ở vùng ngoại thành ngoài sinh hoạt tín ngưỡng tại chùa thì ngôi đình vẫn là trung tâm của cả làng, tập hợp được nhiều lớp người trong làng. Một đặc điểm nữa của văn khắc các huyện ngoại thành Hà Nội là tất cả các huyện đều lưu giữ được những bài minh văn tại một số từ đường dòng họ. Điều này rất hiếm gặp tại các quận nội thành. Có thể lý giải là nội thành Hà Nội là nơi mới tụ cư của nhiều thành phần trong xã hội, dù các thế hệ khác nhau đã ra Thăng Long sinh sống vài ba trăm năm thì từ đường dòng họ ở quê mới là nơi thờ tự chính. Ngay cả những dòng họ phát đế nghiệp như họ Lê, họ Trịnh ở Thanh Hóa cũng không là ngoại lệ.
Về nội dung, số văn khắc Hán Nôm của Hà Nội qua đợt sưu tầm lần thứ nhất đã phản ánh nhiều điều liên quan đến đời sống và sinh hoạt xã hội của Thăng Long xưa, nhưng đậm nét nhất vẫn là những hình ảnh của hai thế kỷ XVII và XVIII. Những bia đá, chuông khánh đồng có được tạo dựng vào thời kỳ Lê Trung hưng vẫn còn giữ được đáng kể, vì vậy thật may mắn là Hà Nội vẫn còn tư liệu về thời gian này. Tấm bia cổ nhất của Hà Nội đặt tại chùa Kim Liên phường Nghi Tàm quận Tây Hồ có ba niên đại khác nhau. Đây là tấm bia bốn mặt, chúng ta thường biết đến niên đại chính là Thái Hòa thứ 3 (1445), nhưng kiểm tra trên thác bản thì chúng tôi vẫn còn đọc được ba niên đại được khắc ở ba mặt khác nhau. Một mặt ghi niên đại là Thái Hòa 1, mặt khác ghi niên đại là Thái Hòa 3, mặt cạnh của bia khắc ghi "sắc thượng" với dòng niên đại là ngày 21 tháng 2 năm Mậu Thân, Thuận Thiên 1 (1428). Đây là niên đại tạo dựng văn bản chứ không phải là niên đại ban bố sắc rồi đời sau cho khắc ghi lại. Chứng cứ là đằng sau dòng ghi ngày tháng là chữ tạo (nguyên văn là Mậu Thân, Thuận Thiên nhất niên nhị nguyệt nhị thập nhất nhật tạo). Như vậy có thể khẳng định niên đại khắc là năm Thuận Thiên thứ 1. Để tránh nhầm lẫn với các niên hiệu khác, như Thuận Thiên của triều Lý, ở dòng niên đại này còn ghi thêm là năm Mậu Thân. Đây chính là năm đầu tiên Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu Thuận Thiên và văn bản này được cho san khắc vào bia đá rất gần thời gian ngay sau khi Lê Lợi lên ngôi, đóng đô ở Thăng Long. Tuy nội dung của văn bản đã bị mờ hết nhưng chúng tôi cũng đếm được toàn bộ văn bản gồm 4 dòng với khoảng 30 chữ rất mờ. Chúng tôi có đọc được một số chữ còn lại trong văn bản này, đó là chức danh Điện thượng khinh xa Đô úy Á hầu nhưng tứ [][][]…, phần tên người bị mờ không đọc được. Nếu tấm bia này không bị mờ gần hết chữ thì rất có thể chúng ta đã có những thông tin quý về sự đóng góp tu sửa chùa Kim Liên lúc đó có tên gọi là chùa Đại Bi ngay từ những tháng năm đầu tiên của triều Hậu Lê. Điều này cho thấy ngay sau khi đánh tan giặc Minh, trở về làm chủ thành Đông Quan, vua Lê Thái Tổ đã kịp ban bố những sắc chỉ liên quan đến Phật giáo để an dân sau những năm chiến tranh loạn lạc. Chùa Kim Liên có vị trí rất đẹp ngay sát Hồ Tây đã may mắn còn lưu giữ được chút dấu tích văn tự trên bia đá cách chúng ta đến gần 600 năm. Có thể là sau đó ở các triều vua như Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Hà Nội cũng có những bia đá chuông đồng được tạo dựng nhưng vì nhiều lý do khác nhau cả về tự nhiên và xã hội mà chúng đã bị tàn phá hoặc thất lạc nên cả một khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ Hà Nội vắng bóng tư liệu văn khắc Hán Nôm. Phải đến niên đại Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông, Hà Nội mới có bia đá được dựng ở Văn miếu Quốc tử giám và có một bia niên đại Hồng Đức tại chùa Nga My quận Hai Bà Trưng. Nhưng tấm bia này lại không nằm trong bộ sưu tập văn khắc Hán Nôm do Viễn đông Bác cổ Pháp sưu tầm mà mới được Viện Nghiên cứu Hán Nôm in rập trong đợt sưu tầm đầu thế kỷ XXI. Như vậy cả thế kỷ XV, Hà Nội chỉ còn hai bia đá liên quan đến chùa và bia ở Văn miếu Quốc tử giám. Sang thế kỷ XVI, ngoài số văn bia ở Văn miếu Quốc tử giám, Hà Nội có một văn bia niên đại Hồng Thuận thứ 3 đặt tại đền Cao Sơn phường Kim Liên quận Đống Đa nhưng bia này được khắc lại vào năm Cảnh Hưng. Bước sang thế kỷ XVII và XVIII, Hà Nội còn lại khá nhiều bia chuông với nội dung xây dựng, trùng tu các địa điểm thờ cúng về tôn giáo, tín ngưỡng như điện Nam Giao, đền thờ Cao Sơn Đại Vương, chùa Trấn Quốc, chùa Hàm Long, Y miếu, chùa Huy Văn, chùa Hồng Phúc, đình Đông Các, đình Nghĩa Phê, đình Hồ Khẩu, quán Trấn Vũ… Thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, số lượng văn khắc Hán Nôm của Hà Nội xuất hiện tương đối nhiều nhưng trong sưu tập do Viện Viễn đông Bác cổ tiến hành in dập, số văn khắc niên đại triều Nguyễn chỉ chiếm số lượng khoảng 1/3 so với thực tế. Chúng tôi sẽ trình bày vấn đề này trong một chuyên đề khác
Chú thích:
(5) Một số phường ở quận Ba Đình như phường Thụy Khuê nay đã thuộc quận Tây Hồ.
(6) Các xã này nay đều đổi thành phường./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 6(97) 2009; Tr.53-67)