A Stele in Box Form Dated to Lê Thánh Tông's Dynasty of Thái Bảo Bình Lạc hầu Trịnh Duy Hiếu - NGUYỄN VĂN THÀNH (No.3 (76) 2006; 75-79)
TẤM BIA HỘP THỜI LÊ THÁNH TÔNG CỦA THÁI BẢO BÌNH LẠC HẦU TRỊNH DUY HIẾU
NGUYỄN VĂN THÀNH
KS. Thịnh Hào, Hà Nội
Thời chống Mỹ, bom đạn máy bay Mỹ đã làm phát lộ tấm bia hộp ở mộ ông Thái bảo Bình Lạc hầu Trịnh Duy Hiếu tại vườn nhà cụ Bùi Văn Ứng ở sách Thủy Chú cạnh sân bay Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Thủy Chú vốn là quê hương lâu đời của dòng họ danh tướng Trịnh Khắc Phục thời khởi nghĩa Lam Sơn. Suốt đời Lê sơ - Lê Trung hưng cho đến thời Lê mạt con cháu ông Trịnh Khắc Phục ở Thủy Chú có nhiều người làm Tướng cho nhà Lê, có người là phò mã lấy công chúa con vua Lê. Họ Trịnh ở Thủy Chú là một vọng tộc, Trịnh Duy Hiếu là con trai ông Trịnh Bá Nhai và mẹ là An Quốc Trưởng công chúa - chị vua Lê Thánh Tông, như thế vua Lê Thánh Tông là cậu ruột ông Trịnh Duy Hiếu. Là cháu gọi vua Lê Thánh Tông bằng cậu ruột nên ông Hiếu được làm tướng rất sớm và khi chết, được táng trong một biahình hộp để giữ cho chữ khắc được lâu bền, đây là loại hình bia mộ của nhà quyền quý ta hay gặp vào thời Lê Thánh Tông.
Bia mộ của ông Trịnh Duy Hiếu có ba bộ phận:
Mặt bia: kích thước 88x55cm dầy 11cm xung quanh mặt bia có diềm rộng 3,5cm khắc hoa văn dây cúc leo cách điệu. Xung quanh mặt bia có một rãnh sâu 3cm để có thể đậy kín bằng nắp bia, bảo vệ mặt khắc chữ. Mặt khắc chữ có kích thước 78x49,5cm khắc 20 dòng chữ. Dòng nhiều nhất là 33 chữ. Chữ viết trong từng ô vuông 2,2x2,2cm. Nói chung chữ còn nguyên vẹn, rõ ràng, đẹp, khắc sâu và dễ đọc.
Nắp bia: có kích thước 55x88cm dầy 9,5cm. Nắp bia có gờ cao 3cm, rộng 4cm để có thể lắp khít vào mặt bia tạo thành một cái hộp kín. Mặt giữa nắp bia có một hàng chữ lớn: Đại Việt Thái bảo Bình Lạc hầu chi mộ có kích thước: 9x68cm, chữ đẹp, khắc sâu, rất rõ.
Đế bia: có kích thước 61x26x27cm.
Nội dung văn bia cho ta biết dòng họ của ông Trịnh Duy Hiếu có nhiều đời lấy công chúa con gái vua Lê, như cụ Trịnh Nhữ Lưỡng lấy em gái Lê Thái Tổ, cụ Trịnh Bá Nhai lấy chị vua Lê Thánh Tông. Điều này ta không thể biết tường tận trong các bộ chính sử và qua đây, trong vụ giết hại Trịnh Khắc Phục và con trai ông là Trịnh Bá Nhai vào thời Lê Nhân Tông, thời bà Thái hậu Nguyễn Thị Anh buông rèm nhiếp chính đã giết một người gọi vua Lê Thái Tổ là cậu ruột và một người là chồng bà An Quốc Trưởng công chúa, con gái vua Lê Thánh Tông, ta cũng biết họ Trịnh ở Thủy Chú suốt thời Lê sơ có nhiều người là tướng của nhà Lê như Trịnh Khắc Phục, Trịnh Bá Nhai, Trịnh Duy Hiếu. Con trai út ông Trịnh Duy Hiếu là Trịnh Tuy, vào thời Lê mạt cũng là một tướng nổi tiếng, liên quan rất nhiều với sự kiện lịch sử thời Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng. Tấm bia là một tư liệu lịch sử quý.
Tấm bia này là một tấm bia hộp đẹp nhất mà tôi biết, nó cũng là tấm bia còn nguyên vẹn nhất, chữ khắc to, rõ, đẹp và rất cổ, có niên đại là năm táng ông Trịnh Duy Hiếu ở lăng Thao Quang tức ngày 13 tháng 11 năm Hồng Đức 15 (1484).
Tấm bia này cũng là tấm bia giữ lại cho chúng ta chính văn bài văn bia do chính Trạng nguyên Lương Thế Vinh soạn và còn giữ được nguyên vẹn cho đến ngày nay.
Hiện tấm bia được lưu giữ tại nhà thờ họ Trịnh ở thôn Vân Đô, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Dưới đây là phần phiên âm và dịch nghĩa bài văn bia.
ĐẠI VIỆT THÁI BẢO BÌNH LẠC HẦU
CHI MỘ
Đại Việt Thái bảo Bình Lạc hầu mộ chí
Hy hồ ! Thái bảo Bình Lạc hầu chi mộ. Hầu tính Trịnh, hàng nhất, húy Duy Hiếu, tự Thừa gia, quán Lôi Dương, Thủy Chú.
Tằng tổ khảo húy Nhữ Lượng, tặng Phò mã đô úy, Tằng tổ tỷ Lê thị Quốc Trưởng công chúa.
Thái tổ Cao hoàng đế quý tỷ, Tổ khảo Khắc Phục, tặng Suy trung, Tá lý, Dương vũ công thần, Thượng Trụ quốc, Ngọc Sơn hầu. Tổ tỷ, Nguyễn thị. Khảo Bá Nhai, tặng Phò mã đô úy sùng Huệ Bá. Tỷ An Quốc trưởng công chúa. Kim thượng đệ nhị tỷ.
Hầu dĩ Thái hòa cửu niên, Tân Mùi, thập nhất nguyệt sơ bát nhật sinh, Quang Thuận ngũ niên Giáp Thân, thập nhị nguyệt phong Bình Lạc bá.
Hồng Đức nhị niên, Tân Mão, cửu nguyệt cải: Sùng tiến, tuyên lộc Đại phu Bình Lạc Nam.
Lục niên Ất Mùi, thập nhị nguyệt thăng Sùng tiến Trấn quốc Thượng tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ tả Đô đốc Bình Lạc Bá, tầm vi Chinh di tướng quân, thảo Lưu cầu hải tặc.
Thập niên Kỉ Hợi, thập nguyệt, tòng Thượng thân chinh Tây tặc, Đề đốc Ngự doanh thủy bộ quân vụ sự.
Thập nhất niên Canh Tý, thập nhất nguyệt thăng Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ, chưởng phủ sự Thái bảo Bình Lạc bá.
Thập nhị niên Tân Sửu, ngũ nguyệt, kiêm Tông nhân phủ, Tông nhân lệnh. Dư như cố.
Thập tam niên Nhâm Dần, thập nhất nguyệt thăng Tuyên lực Vũ thần, Đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ, Chưởng phụ sự, Thái bảo Bình Lạc hầu kiêm Tôn nhân phủ, Tôn nhân lệnh, Trụ quốc.
Thập ngũ niên Giáp Thìn, nhị nguyệt, Cải Trung quân Đô đốc phủ, Chưởng phụ sự, Dư Như cố.
Ngũ nguyệt, nhị thập nhật hoăng vu chính tẩm.
Thọ Tam thập tứ, thập nhất nguyệt, thập tam nhật, táng vu bản quán, Thao Quang lăng ngoại nguyên.
Chính thất Phạm thị, Lương Giang huyện, Trấn Man sách, cố Điện tiền ti, Đông đô kiểm điểm văn hiến đệ ngũ nữ. Hoàng Thái hậu sinh nữ.
Nam ngũ: Lân, Bạt, Lương, Lý, Tuy. Nữ thất.
Hầu tính thông mẫn. Đệ mục hữu ân. Thường háo độ thư, Phú thị khả tập, tảo đăng đài phụ, ngộ sự triết ngôn, duyệt hình Bộ ngục, đặc mạt giảm giả, lãng hĩ, dư kiến quốc sử. Tích tai.
Minh viết:
Oanh oanh thổ tú
Hỗn hỗn sơn tuyền,
Tú linh sạ hợp.
Tam thập tứ niên.
Tứ Quí Mùi Trạng nguyên, Hiển cung Đại phu, Hàn lâm viện thị thư kiêm Sùng Văn quán, Tú Lâm cục Tư huấn Lương Thế Vinh soạn.
Dịch nghĩa:
MỘ ÔNG THÁI BẢO BÌNH LẠC HẦU NƯỚC ĐẠI VIỆT
Mộ chí Thái bảo Bình Lạc hầu nước Đại Việt.
Than ôi ! Mộ ông Thái bảo Bình Lạc hầu.
Ông Hầu họ Trịnh, hàng nhất, húy là Duy Hiếu, tự là Thừa Gia, quê ở xã Thủy Chú, huyện Lôi Dương.
Cụ tổ 4 đời húy là Như Lượng, được tặng Phò mã đô úy. Bà cụ 4 đời họ Lê, là Quốc trưởng công chúa, là em gái út của đức Thái tổ Cao Hoàng đế.
Ông nội là Khắc Phục, được tặng Suy trung Tá lý, Dương vũ công thần, Thượng trụ quốc, Ngọc Sơn hầu.
Bà nội người họ Nguyễn.
Cha là Bá Nhai, tặng Phò mã Đô úy Sùng Huệ bá. Mẹ là An Quốc trưởng công chúa em gái thứ hai Đức đương kim Hoàng đế. Hầu sinh ngày 8 tháng 11 năm Tân Mùi niên hiệu Thái Hòa thứ 9 (1451).
Tháng 12 năm Giáp Thân, niên hiệu Quang Thuận thứ 5 (1464) phong Bình Lạc bá.
Tháng 9 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471) đổi phong Sùng tiến Tuyên lộc Đại phu. Bình Lạc nam.
Tháng 12 năm Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức 6 (1475) thăng: Sùng tiến Trấn quốc Thượng tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Bình Lạc bá, sau đó làm Chinh di Tướng quân đi đánh giặc biển Lưu Cầu.
Tháng 10 năm Kỷ Hợi niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479) theo vua thân chinh Tây tặc, làm Đề đốc Ngự doanh thủy bộ quân vụ sự.
Tháng 11 năm Canh Tý niên hiệu Hồng Đức thứ 11 (1480) thăng Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, Bình Lạc bá.
Tháng 5 năm Tân Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 12 (1481) được kiêm Tôn nhân lệnh ở Tôn nhân phủ còn các chức khác giữ như cũ.
Tháng 11 năm Nhâm Dần niên hiệu Hồng Đức thứ 13 (1482) được thăng Tuyên lực vũ thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, Bình Lạc hầu, kiêm Tôn nhân phủ Tôn nhân lệnh, Trụ quốc.
Tháng 2 năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) đổi phong Trung quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, còn các chức khác vẫn như cũ.
Ngày 20 tháng 5 (năm đó) tạ thế tại chính tẩm, thọ 34 tuổi.
Ngày 13 tháng 11 táng tại quê nhà ở lăng Thao Quang, cánh đồng ngoài.
Bà vợ cả họ Phạm người sách Trấn Man, huyện Lương Giang, là con gái thứ năm ông Điện Tiền ty Đồng đô Kiểm điểm Văn Hiến đã quá cố. Bà là cháu họ Hoàng Thái hậu.
Ông có 5 con trai: Lân, Bạt, Lương, Lý, Tuy và 7 con gái. Hầu tính thông minh, ăn ở có nghĩa có tình, thích đọc sách, có làm thơ phú, sớm lên đài giúp nước, gặp việc thì lập tức góp lời bàn, duyệt hình ngục thì giảm được nhiều án, còn nữa đã có sử ghi chép. Ôi thương tiếc thay !
Bài minh viết:
“Sao thổ long lanh
Núi khe trùng điệp
Linh khí hội tụ
Tròn ba tư năm”.
Trạng nguyên khoa Quí Mùi, Hiển cung Đại phu, Hàn lâm viện Thị thư, kiêm Sùng Văn quán Tú lâm cục Tư huấn Lương Thế Vinh soạn.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (76) 2006; Tr.75-79)