VI | EN
Bài Phú mộc đạc của Tú tài Nguyễn Địch (Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (87)2008; Tr.3-73-77)
Số 2 (87)2008

BÀI PHÚ MC ĐC CA TÚ TÀI NGUYN ĐCH

PGS.TS. NGUYỄN TÁ NHÍ

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Mộc đạc" là tên một loại nhạc khí thời cổ của Trung Quốc. Sách Từ hải giải thích: “Mộc đạc là một loại chuông nhỏ, ngày xưa dùng để thi hành chính giáo, ban bố mệnh lệnh, có khi dùng để phấn khích hoặc nhắc nhở quần chúng”. Tuy thế trong tiếng Việt, lâu nay cũng có người lại hiểu mộc đạc là loại mõ gỗ, bằng chứng mà họ dựa vào là bài thơ Thằng mõ chép trong sách Hồng Đức quốc âm thi tập:

Mõ này cả tiếng lại dài hơi

Mẫn cán ra tay chẳng phải chơi.

Mộc đạc vang lừng trong bốn cõi

Âm thanh uyển chuyển khắp đòi nơi.

Ở Trung Quốc cũng có loại mõ gỗ, nhưng tên gọi không phải là "mộc đạc", mà là "mộc ngư". Sách Từ hải giải thích: “Mộc ngư là pháp khí của đạo Phật làm bằng gỗ, hình dáng giống như con cá bên trong đục rỗng, gõ vào có tiếng âm vang. Có hai loại mộc ngư, một loại hình giống con cá treo thẳng để ở cửa chùa, gõ vào để báo hiệu thời gian lên chùa hành sự; một loại hình con cá uốn tròn thường đặt trên điện để gõ theo nhịp âm thanh lúc tụng kinh”.

Sách Bách trượng thanh quy của Thiền sư Bách Trượng (Trung Quốc) cho biết thêm: “Tương truyền loài cá thường thức suốt đêm, do vậy khắc gỗ hình con cá, gõ vào sẽ thức tỉnh kẻ u mê”.

Trong tiếng Việt ta vẫn hiểu mộc đạc là mõ, và người làm mõ xưa kia được gọi là "đạc phu". Sách Đoàn Tuần phủ công độc của Tuần phủ Đoàn Triển cho biết: “Dưới hạng tuần đinh có chân đạc phu, là nô lệ của một làng. Trong làng hễ có việc công là đi mời đến hội họp. Tư gia có việc hiếu hỉ phải mời người đến ăn uống, tất phải do chân đạc phu lo liệu. Có công việc gì cần báo cho dân làng biết thì đạc phu cầm mõ đi rao ngoài đường, thực khốn khổ lắm, thực hèn hạ lắm”.

Trong nhiều bản hương ước cổ hiện còn lưu giữ được, cũng gặp từ "đạc phu" chỉ vào người mõ làng và mộc đạc là dụng cụ người mõ làng đó sử dụng để ban bố chính lệnh của làng. Trong thơ văn Việt Nam xưa cũng thấy sử dụng từ mộc đạc. Ngoài bài thơ Thằng mõ chép trong Hồng Đức quốc âm thi tập như nói ở trên, chúng tôi còn thấy có Phú mộc đạc của Tú tài y Nguyễn Địch chép trong sách Vân Đình thi lục, ký hiệu A.600.

Nguyễn Địch là người làng Vân Canh huyện Từ Liêm trấn Sơn Tây, nay thuộc xã Vân Canh huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây, sống vào thời Nguyễn. Ông là người dòng dõi Nho gia, từng thi đỗ Tú tài, lại tinh thông y thuật, sau lại trúng cử kỳ thi tuyển y khoa, nên được mời vào kinh chữa bệnh cho vua. Sau ông thác cớ mẹ già đau yếu, nên xin về quê phụng dưỡng và mở trường dạy học. Thơ văn của ông hàm súc, ý tứ sâu sắc. Bài Phú mộc đạc này ông dùng câu nói “Thiên tương dĩ phu tử vi mộc đạc” trong sách Luận ngữ làm vần cho bài phú. Qua đó, Nguyễn Địch muốn dùng lời phú để bày tỏ tấm lòng của một nhà Nho chân chính luôn luôn quan tâm đến xã hội, quan tâm đến lý tưởng làm cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Tú tài Nguyễn Địch là người học rộng biết nhiều, đã bỏ công phu không phải nhỏ để soạn ra bài phú tâm huyết như thế, do vậy chúng tôi xin phiên âm, dịch nghĩa, giới thiệu toàn văn bài phú để bạn đọc có thêm tư liệu tìm hiểu về chân dung các nhà Nho Việt Nam.

Toàn văn phiên âm như sau:

MỘC ĐẠC PHÚ

(Dĩ Thiên tương dĩ phu tử vi mộc đạc vi vận)

Phu ngôn vi huấn,

Giả khí dĩ truyền.

Cổ nguyên âm ư bại tịch;

Tĩnh chúng thính ư huyên điền.

Pháp dục hành ư nhất minh chi hậu;

Lệnh tất nghiêm ư vị phát chi tiên.

Cái dĩ suất tứ phương nhi đề kỳ nhĩ;

Trực dĩ thống thiên hạ nhi tổng kỳ quyền.

Kỳ vi khí dã:

Hữu mạc trọng yên.

Phong nhân:

Tương dĩ vọng chư thánh;

Cái mặc bốc ư thiên.

Đạc giả dã:

Hữu đồng kỳ chất;

Hữu kim kỳ tương.

Nhạc bị chúng âm, dữ sênh dung nhi tịnh tấu;

Huyền chi đãi sĩ, hài chung khánh dĩ khanh tương.

Tuy kỳ dụng hữu du nghi, chiếu vương độ nhi nhân thời chế tác;

Vi hữu thanh tài nhất chấn, hiệp thiên uy nhi vạn vũ tất tương.

Như mộc đạc giả:

Chế tòng Ngu Hạ dĩ lai

Nhược vị đạo nhân nhi trí.

Kỳ thể tắc kim khẩu mộc thiệt, vương phủ đồng đại bảo nhi tàng;

Kỳ dụng tắc cao vũ điểu phong, Câu Mang dẫn vương ngôn nhi thị.

Xấn chu hành nhi liêu lượng mai lộ sổ thanh;

Phụng luân bột dĩ xuyên dương hoa triều trấp tứ.

Huyền lai phù khởi hư hồ?

Chúng thính tắc tương dụng .

Kỳ tuân vu triều dã.

Bán không tài lạc;

Bách chấp tề phu.

Hoặc dĩ minh thành hiến chi bất khiên, nhĩ khuynh hầu bá;

Hoặc dĩ thị vương chương chi thức định, khí túc khanh phu.

Lộ tự sơ văn, nhiếp thương hành nhi nhược thất;

Uyên hàng xạ thính, chấn hoàn bội dĩ tề xu.

Bá cáo tại đình hưởng tranh gián cổ;

Cảnh vu hữu vị điệu tức lạm vu.

Kỳ tuân vu quốc dã,

Nhất dĩ minh hiếu đễ chi tương hành;

Nhất dĩ thị tượng hình chi khả tị.

Bá cốc chi thiên mạch hiểu xướng, điền hữu canh phu;

Thủy họa chi lư đảng nhã linh, gia vô đãng tử.

Tượng Ngụy minh đường chi ngoại, độc chung nhi tam lệnh ngũ thân;

Lạc Đô phong thủy chi bàng, hộ hiểu nhi viễn hoài cận úy.

Nhược phong chi tật trì;

Nhược lôi chi vị hi.

Tứ hải văn nhi thị hiệu;

Vương giả tá dĩ hữu vi.

Sổ bách niên tượng vũ suy sênh, nhã tụng chi thanh đoạn tác;

Thử nhất đạc đạo hòa minh thịnh, kim ngọc chi hưởng hiểu chi.

Tự nhã đạo chi vân vong;

Khái linh thanh nhi bất phục.

Lạc hấp đạo hoà,

Khánh sư không cốc.

Bích kiều chi miết cổ cửu liêu;

Đường thượng chi lãi chung mạc tục.

Xuân phong y cựu cơ văn tuân đạo chi nguyên âm;

Li thử ca tàn oán nhập cố đô chi kiều mộc.

Ngũ bách niên lai;

Ngô phu tử tác.

Vận cao họa quả, đàn độc điệu ư luy hoàn;

Ngọc chấn kim thanh, tập cửu thành ư đại nhạc.

Thiên phi vô ý, dũ dân chi trách kỳ thùy;

Thánh bất hư sinh, giác thế chi quyền hữu thác.

Khải đồ sử Tề thiều vong vị, không hoài thiện mỹ dĩ du du;

Vệ khánh hữu tâm, mặc tả u văn lạc lạc.

Hựu khởi đồ sử Tứ thượng mã đồ chi thán, khúc chẩm hứng tư Sở Cuồng phượng đức chi ca, tiếp dư tương hước.

Hoặc giả:

Hòa thất động nhân chi sất, át ca Ung Vũ dật ư đông phương;

Hạnh đàn đãi khấu chi chung, hoà ký túng cưu ê vu Tây lạc.

Thiên tâm phù khởi nan tri;

Đại nhã bất chung tịch nhược.

Phong nhân viết: Thiên tương dĩ phu tử vi mộc đạc.

Tín tai !

Dịch nghĩa:

PHÚ MỘC ĐẠC

(Dùng câu Thiên tương dĩ Phu tử vi mộc đạc làm vần)

Bày ra lời giáo huấn

Mượn khí cụ để truyền.

Nổi nguyên âm nơi vắng vẻ,

Dẹp ồn ào chốn náo huyên.

Phép muốn thi hành sau lời phát động,

Lệnh cần phải nghiêm trước lúc bá tuyên.

Thân dẫn dắt bốn phương, mọi tai đều vểnh,

Mình thống lĩnh thiên hạ, thực sự nắm quyền.

Hãy xem các loại khí cụ

Nào có thứ gì trọng hơn.

Viên chức Phong nhân:

Những muốn mong chờ chư thánh

Nhờ vậy trông vào hoàng thiên.

Này xem mộc đạc:

Trong là đồng điếu

Ngoài phủ vàng tương.

Có đủ thanh âm, cùng sáo đàn hoà lên tiết tấu,

Treo đợi kẻ sĩ, hợp khách chuông cất tiếng du dương.

Như mộc đạc này:

Chế tác từ đời nhà Hạ đến nay

Nào bởi đạo nhân mà phải quật cường.

Hình thể của nó thì miệng vàng lưỡi gồ, Vương phủ coi như đại bảo để trân tàng;

Công dụng của nó thì gió táp mưa sa, Câu Mang(1) dẫn lời vua để mà chỉ thị.

Vậy thì treo lên há lại để uổng không,

Hẳn bởi dạy răn chúng dân cho khả .

Khi tuyên cáo ở chốn triều đình:

Nửa câu vừa dứt,

Trăm việc bày phô.

Hoặc chỉ rõ chỗ tốt lành của Thánh giáo, như rót vào tai hàng hầu bá;

Hoặc chỉ ra các quy định của quốc vương, tăng thêm uy nghiêm bậc đại phu.

Đàn cò mới được nghe, nắm chặt thẻ ngà tưởng chừng như mất;

Hàng uyên vừa thấy tiếng, giữ lấy ngọc bội mà dảo bước mau.

Khi truyền lệnh tại nơi bang quốc,

Một là để làm sáng đạo hiếu đễ đang lưu hành;

Một là để chỉ ra các hình phạt cần tránh né.

Nơi ruộng đồng buổi sớm có tiếng rao, bảo lũ canh phu

Chốn hoang vắng đưa thêm lời nhắc nhở, răn bày đãng tử.

Ngoài minh đường Tượng Ngụy(2), đọc xong thì ba lệnh năm truyền;

Bên phong thủy Lạc Đô(3), tuyên hô thấy xa mong gần sự.

Như gió bão thổi mạnh;

Như sấm chớp ầm ì.

Bốn biển nghe mà bắt chước;

Vương giả mượn mà thi vi(4).

Mấy trăm năm tượng múa sáo rung, tiếng nhã tụng xưa đà chưa nối;

Một tiếng mõ âm vang rền rã, điệu kim ngọc nay vẫn theo lề.

Từ khi nhã nhạc để mất đi;

Cảm khái linh thanh chưa khôi phục.

Nhạc dạo chốn bờ sông;

Khánh rung nơi cùng cốc.

Trống ba ba nơi Bích Kiều(5) thấy lắng yên;

Chuông tù và ở trên nhà không tiếp tục.

Gió xuân như cũ, dường nghe giảng đạo nguyên âm;

Khúc thử ly(6) tàn, oán hận đổ cành kiều mộc.

Vận cao hoạ theo ít, gảy độc điệu chốn trần hoàn;

Tiếng ngọc nảy khúc vàng, tập mãi thành nên đại nhạc.

Trời không cố ý, trách nhiệm bảo dân ấy ai;

Thánh chẳng uổng sinh, quyền giúp đời đà phó thác.

Há luống để:

Nhạc nước Tề(7) quên thanh vị, mơ màng thiện mỹ để du du;

Khánh nước Vệ(8) có hảo tâm, xào xạc tiếng kêu nghe dặc dặc.

Lại há luống để:

Tranh con ngựa trên sông Tứ(9) thở than, gập tay gối đầu mải suy tư;

Tiếng chim phượng gợi Sở Cuồng(10), vin cỗ xe buông lời diễu cợt.

Hoặc giả tiếng đàn sắt vang lừng át tiếng nhạc nhã ở đông phương

Nơi Hạnh Đàn(11) có tiếng chuông rao hợp với tiếng Cưu Ê(12) nơi Tây Lạc.

Lòng trời há có dễ hay

Đại Nhã(13) chớ nên tịch mặc.

Người đất Phong bảo rằng “Trời sắp để Phu tử ta giữ chân mộc đạc(14).”

Có tin được không?

 

Chú thích:

1. Câu Mang: tên vị thần cai quản mùa hè (theo truyền thuyết cổ của Trung Quốc).

2. Tượng Ngụy: Theo truyền thuyết cổ của Trung Hoa, đây là kiến trúc ở lâu đài của đế vương.

3. Lạc Đô: kinh đô Lạc Dương nhà Đông Hán.

4. Thi vi: làm, thực hiện.

5. Bích Kiều: tên cây cầu ở Tràng An (Trung Quốc), sĩ tử đi thi phải qua đây.

6. Thử ly: tên một bài thơ trong Kinh Thi, miêu tả tình cảm của người dân đối với xã hội có nhiều biến động.

7. Nước Tề: tên nước đời Xuân Thu của Trung Quốc.

8. Nước Vệ: tên nước đời Xuân Thu của Trung Quốc.

9. Sông Tứ: tên con sông ở nước Lỗ, quê hương của Khổng Tử. Xưa kia Khổng Tử thường dẫn học trò ra đây lập đàn giảng đạo.

10. Sở Cuồng: tức Sở Cuồng Tiếp Dư, môn đồ của Khổng Tử.

11. Hạnh Đàn: nơi Khổng Tử giảng đạo cho môn đồ.

12. Cưu Ê: tên bài thơ trong Kinh Thi, nói việc học trò chăm chỉ học tập.

13. Đại Nhã: tên một bộ phận trong Kinh Thi.

14. Câu này trích trong thiên Bát dật sách Luận ngữ. Ý cả đoạn viết: Quan Trấn ấp Nghi xin được vào yết kiến Khổng Tử. Ông nói rằng: “Mỗi khi có bậc quân tử đến đất này, tôi đều được yết kiến”. Các đệ tử theo hầu Khổng Tử đưa quan Trấn vào yết kiến thày mình. Khi trở ra quan Trấn ấp Nghi nói với các đệ tử của Khổng Tử rằng: “Mấy ông há phải buồn rầu vì ngài mất chức quan ư ? Thiên hạ đã loạn lạc lâu rồi cơ mà, song trời sắp khiến Phu tử đứng ra làm mộc đạc để cảnh tỉnh cho thế gian”./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (87)2008; Tr.3-73-77)

Nguyễn Tá Nhí
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm