Bài văn chúc mừng trong lễ Diên thọ của Bồi tụng Nhữ Tiến Hiền (Tạp chí Hán Nôm, số 2 (111) 2012 (tr.72 - 75)
BÀI VĂN CHÚC MỪNG TRONG LỄ DIÊN THỌ CỦA
BỒI TỤNG NHỮ TIẾN HIỀN
PGS.TS. NGUYỄN TÁ NHÍ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Nhữ Tiến Hiền sinh năm 1659 tại làng Hoạch Trạch huyện Đường An xứ Hải Đông, nay thuộc xã Thái Học huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương.
Sinh ra trong một gia đình truyền thống khoa bảng, Nhữ Tiến Hiền được giáo dưỡng rất nghiêm, và sớm bộc lộ tài năng. Khoa thi Hội năm Canh Thân niên hiệu Vĩnh Trị thứ 5 (1680) đời Lê Hi Tông, ông thi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, được bổ làm quan tại triều. Năm 1697 được sung làm Phó sứ thứ 2 trong đoàn sứ bộ của nước ta đi sang tranh luận về biên giới với nhà Thanh. Đoàn sứ bộ gồm Chánh sứ thứ nhất Nguyễn Đăng Đạo, người làng Hoài Bão huyện Tiên Du, thi đỗ Trạng nguyên năm 1683; Chánh sứ thứ hai Nguyễn Thế Bá người làng Cẩm Chương huyên Đông Ngàn thi đỗ Tiến sĩ năm 1676; Phó sứ thứ nhất Đặng Đình Tướng người làng Lương Xá huyện Chương Đức thi đỗ Tiến sĩ năm 1670, và Phó sứ thứ hai Nhữ Tiến Hiền. Sứ bộ ra đi từ tháng 1 năm 1697 đến tháng 4 năm 1698 mới về nước. Kết quả việc thương thuyết không thành, song do các sứ thần với lí lẽ xác đáng cứng cỏi đã làm cho triều đình nhà Thanh nể phục. Do vậy khi về nước, các ông đều được triều đình luận công khen thưởng. Nhữ Tiến Hiền được thăng làm Bồi tụng Thị lang Bộ Công, rồi trở thành cận thần ở phủ Chúa, năm 1698 ông được phong làm Phó Đô ngự sử. Bấy giờ chúa Trịnh Căn (1682 - 1709) được phong làm Đại nguyên soái Thống quốc chính Thượng thánh Sư phụ Định vương, phò giúp vua Lê Hi Tông. Chúa lấy ngày sinh của mình làm ngày lễ Diên Thọ (tức ngày 13 tháng 6 âm lịch) để cầu chúc cho tuổi thọ của mình được tăng thêm, các quan đến chúc mừng và có thơ văn dâng lên.
Bồi tụng Nhữ Tiến Hiền cũng làm bài văn Nôm mừng thọ, hiện được chép trong sách Tế văn đối liên thi sao lưu giữ trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A.1059. Nguyên bản không thấy ghi rõ là bài văn chúc mừng được viết vào lễ Diên Thọ năm nào song căn cứ vào nội dung cho biết khi viết bài này Nhữ Tiến Hiền đã được phong Bồi tụng rồi, nên có thể đoán định tác phẩm được viết vào đầu thế kỷ XVIII. Toàn văn như sau:
Kính mặc:
Vọng vọng đức cả(1) rộng thửa bao dung;
Mọn mọn loài hèn, ơn chưng thành tựu(2).
Ngu tôi;
Bậc vốn dung thường(3).
Tính quen trì độn(4);
Nghề cử tử(5) rắp ranh y dạng(6), hạnh dự khoa trường;
Đường sĩ đồ lẩn thẩn tuần tư(7) lạm hàng Thị tụng(8).
Ứng thân sách(9) nhiều phen, thẹn nỗi bất tri sở đối(10);
Vâng ngự đề(11) mấy chập, hổ điều vị khê ngôn thi(12).
Tài còn hiềm hu thuớc(13) đấng hèn;
Điềm xảy thấy dực cơ(14) tỏ rạng.
Ngửa trông tuổi thánh gồm no(15) năm phúc thọ khang;
Cúi dãi lòng hằng ghín tiến một văn khách hạ(16).
Lời chúc tụng ngõ đương(17) Chu nhã(18);
Vẻ tinh hoa dám ví Đường thi.
Xét thửa phàm tài(19) dự tiếng thị phi truyền tụng;
Án chưng Thượng đức(20) ra tay đính chính tác thành.
Xưng dương(21) đòi đoạn ti luân(22);
Cặn kẽ tưởng khi cáo ngữ.
Câu kia khen Đường đế(23) lạm thay Đường đế chí nhân(24);
Chữ nọ ngợi Ngu hoàng(25) đổi lấy Ngu hoàng đại đức.
Vang thiên lệnh hơn giơ hoàng việt;
Dấy thần uy khác(27) trỏ bạch mao(28).
Mưa hạ gió xuân thỏa ý, tuy hoài phủ dưỡng(29);
Rừng nho biển học khắp cho, chế tác bình chương(30).
Nơi hay dung trau chuốt nên hay;
Cách phải vậy(31) cân xưng(32) cho phải.
Mấy hàng bố bạch(33) nổi màu cẩm tú rỡ ràng;
Đòi chập quản huyền(34) nổi tiếng tiêu thiều dấy dứt(35).
Điển nhã chuốt thành văn thể;
Tác thành toàn đội hồng ân.
Trải xem mưa móc đượm nhuần, khí nọ bởi càn nguyên con tạo(37);
Ngẫm thấy cỏ hoa tươi tốt, vật nào chẳng khôn đức tư bồi(38).
Phú tái so cao hậu(39) khôn tày;
Dung nạp ngỡ thánh minh muôn bội(40).
Vả sư đệ nghĩa cùng thân chá(41) nghề văn dầu giáo hối(42) được nhau;
Bằng chúc tôi phận cách tôn ti(43) mùi đạo. Thửa huân đào(44) có mấy;
Dường ấy bao hàm đã rộng.
Lấy chi báo đáp cho phu(45);
Kính bui(46) Thánh thượng.
Đức bẩm khoan hồng;
Tính gồm minh đạt(47).
Nối vương cơ phù đế thất, thái bình rạng mở quy mô;
Xem hiền truyện xét thánh kinh, nghĩa lý rõ thông áo chỉ(48).
Mưu yến dực(49) đương chưng di điển(50);
Đạo diễn phi(51) biết thửa tác nhân(52).
Tân năng(53) nối phép Thịnh Chu(54);
Người có can thành tâm phục.
Thủ sĩ(55) nghĩ lề Hồng Đức(56), tài rộng tài hóa quốc từ chương(57);
Lưu nên xuân hải ơn nhiều, vỗ về khắp côn trùng vật mọn.
Tôi dám chẳng;
Dốc niềm ưu ái.
Giữ đạo trung cần;
Công đức nan danh(58) khôn kể xiết sinh thành dưỡng dục.
Cơ đồ hữu vĩnh(59) kính chúc thêm trường cửu tại an(60);
Chú thích:
Đức cả: đức lớn, chỉ vào ân đức của nhà chúa.
Thành tựu: giúp cho hoàn thành sự nghiệp.
Dung thường: tầm thường, kém cỏi.
Trì độn: ngu độn, chậm chạp.
Cử tử: thi cử, tham dự các kì khảo thí.
Y dạng: theo đúng như mẫu đưa ra
Tuần tư: tuần tự, theo thứ tự chuyển lên
Thị tụng: hầu hạ. Chúa Trịnh đặt ra chức quan Tham tụng và Bồi tụng giúp việc, rồi chọn các quan cận thần thân tín sung vào chức ấy. Ở đây nói việc Nhữ Tiến Hiền đã được phong là Bồi tụng rồi.
Ứng thân sách: trả lời câu hỏi do đích thân nhà chúa nêu ra.
Bất tri sở đối: không biết trả lời như thế nào.
Ngự đề: đầu đề do chúa đưa ra để hỏi.
Vị khả ngôn thi: chưa thể nói đến làm thơ. Ở đây tác giả dẫn lời của Khổng Tử có ý chê học trò của mình chưa đủ sức bàn đến Kinh Thi.
Hu thước: kém cỏi.
Dực Cơ: sao Dực sao Cơ, là hai trong số nhị thập bát tú. Theo quan điểm thiên văn của người xưa, nước Việt Nam ta ở vào địa hạt của sao Dực, sao Cơ.
No: từ cổ, đủ, đầy đủ.
Khánh hạ: chúc mừng.
Ngõ đương: gần sánh với.
Chu nhã: tức thiên Đại nhã trong Kinh Thi.
Phàm tài: tài năng tầm thường.
Án chưng thượng đức: xét thấy bậc thượng đức.
Xưng dương: khen ngợi, tán phán.
Ti luân: lời vàng ngọc
Đường đế: tức Đế Nghiêu đời Đào Đường.
Chí nhân: rất nhân từ.
Ngu hoàng: tức đế Thuấn của nước Đại Ngu.
Hoàng Việt: tiếng Việt do vua ban tỏ rõ uy quyền.
Khác: cung kính, tôn kính.
Bạch mao: cờ trắng dùng làm hiệu lệnh chỉ huy.
Phủ dưỡng: nuôi dưỡng vỗ về.
Bình chương: chức quan đầu triều.
Cách phải vậy: khuôn mẫu đáng như thế.
Cân xưng: cân đong, suy xét.
Bố bạch: báo cho biết, thông báo.
Quản huyền: đàn sáo.
Dấy dức (từ cổ): vang lừng.
Chuốt thành văn thể: gọt rũa thành bài văn.
Càn nguyên can tạo: trời đất làm ra.
Tư bồi: bồi đắp, vun trồng.
Cao hậu: trời cao đất dày.
Muôn bội: hơn gấp nhiều lần.
Thân chá: gần gũi.
Giáo hối: dạy dỗ.
Tôn ti: cao thấp.
Huân đào: hun đúc, rèn tập.
Phu: thỏa đáng, đầy đủ.
Bui (từ cổ): chỉ có.
Minh đạt: sáng suốt, đúng đắn.
Áo chỉ: mục đích sâu sắc.
Yến dực: mưu tính để lại cho đời sau.
Di điển: khuôn phép tốt đẹp.
Diên phi: diều bay, ý chỉ xu hướng phát.
Tác nhân: làm chất xúc tác để phát triển.
Năng: có thể.
Thịnh Chu: chỉ đời Tây Chu thịnh trị
Thủ sĩ: kén chọn nhân tài, thi cử.
Hồng Đức: niên hiệu của vua Lê Thánh Tông. Chính sử ghi chép: vào thời Hồng Đức khoa cử tổ chức rất nghiêm, nên kén tuyển được nhiều người giỏi.
Từ chương: văn chương chính lệnh.
Nan danh: khó nói rõ được.
Hữu vĩnh: vĩnh cửu, lâu bền.
Trường cửu trị an: yên ổn lâu dài./.
(Tạp chí Hán Nôm; Số 2 (111) 2012; Tr.72-75)