VI | EN
Bài văn sách đỗ Giải nguyên của Nguyễn Công Trứ (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (90)2008; Tr.70-80)
Số 5 (90)2008

BÀI VĂN SÁCH ĐỖ GIẢI NGUYÊN CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ

ThS. NGUYỄN THANH TÙNG

ĐHSP Hà Nội

Như chúng ta biết, Nguyễn Công Trứ (1778 - 1859) lận đận mãi trong con đường khoa cử. Mãi đến năm 41 tuổi (1819), ông mới đỗ Giải nguyên kì thi Hương. Sau đó, có lẽ ông không đi thi nữa. Như vậy, đỗ Giải nguyên là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Nguyễn Công Trứ. Kể từ đây, Nguyễn Công Trứ bước vào quan trường đầy thăng trầm, vinh nhục, nhưng rõ ràng đã giúp ông để lại một sự nghiệp kinh bang tế thế hết sức hiển hách. Vậy, Nguyễn Công Trứ đã làm gì, viết gì trong kì thi Hương năm đó để Giám khảo chấm ông vào hạng nhất? Để góp phần trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin được giới thiệu bài văn sách đỗ Giải nguyên của ông.

1. Xuất xứ văn bản

Bài văn sách đỗ Giải nguyên của Nguyễn Công Trứ nằm trong hai tài liệu sau đây:

1) Đại Việt giải nguyên (VHv.1171): 1 quyển, gồm 276 trang, khổ 24 x 13 cm. Mỗi trang chia 6 cột, mỗi cột chừng 29 chữ. Sách viết thảo, rất khó đọc. Sách ước được định bản vào cuối thế kỉ XIX, thậm chí sớm hơn. Sách chép 20 bài văn đỗ đầu hoặc đỗ thứ thứ hai (Giải nguyên, Á nguyên) ở một số trường thi (như Phụng Thiên, Sơn Nam, Kinh Bắc, Thanh Hoa, Nghệ An, Sơn Tây,...) trong 5 kì thi Hương gồm: Đinh Dậu, Cảnh Hưng thứ 38 (1777); Kỉ Hợi, Cảnh Hưng thứ 40 (1779); Đinh Mão, Gia Long thứ 7 (1808); Quý Dậu, Gia Long thứ 12 (1813); Kỉ Mão, Gia Long thứ 18 (1819). Sách chép được các bài văn sách của những người khá nổi tiếng, như: Phạm Quý Thích, Nguyễn Công Trứ, v.v...

2) Hoàng triều hương sách (VHv.399/1-5): 5 quyển, gồm 778 trang, khổ 26x15cm. Mỗi trang chia làm 11 cột, mỗi cột chừng 30 chữ viết hành, đá thảo tương đối dễ đọc. Sách ước được định bản vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Sách chép 267 bài văn sách trúng cách, tuyển chọn trong các kì thi Hương triều Nguyễn từ khoa Đinh Mão niên hiệu Gia Long thứ 6 (1807) đến khoa Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894). Trong số đó, có khá nhiều bài văn sách của những danh nhân như: Nguyễn Công Trứ, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Tư Giản, Trương Đăng Quế,v.v... Bài văn sách của Nguyễn Công Trứ (kèm đề thi) nằm ở quyển I, trước bài văn sách của người đỗ thứ hai cùng khoa tại trường thi Nghệ An là Đặng Huy Thuật.

2. Toàn văn bài văn sách của Nguyễn Công Trứ

Qua xem xét, đối chiếu 2 văn bản này, chúng tôi thấy bài văn sách của Nguyễn Công Trứ chép trong Hoàng triều hương sách đầy đủ, dễ đọc hơn bản còn lại. Vì vậy, chúng tôi chọn bản này (tạm gọi là bản A) làm bản nền để khai thác, đồng thời dùng bản Đại Việt giải nguyên (tạm gọi là bản B) làm dị bản để đối chiếu khi cần thiết. Tuy vậy, vẫn còn một số chữ mà ở cả hai văn bản đều khó đọc; những trường hợp đó chúng tôi tạm đoán (?) hoặc để trống [...] chờ tra cứu thêm. Sau đây là toàn văn bài văn sách.

[…] 使使 [] 調西 […] […]

西沿使使.

Phiên âm:

Vấn: Ái dân, quân đạo chi đại cương. Dịch ngôn “dung dân”; Thư ngôn “an dân”. Kì chỉ hữu khả dịch dư? Đế Nghiêu tồn tâm thiên hạ nhi Đế Thuấn ca Nam phong chi thi; Thành Thang tử huệ khốn cùng nhi Văn Vương hữu Linh đài chi nhạc. Ái dân chi tâm đồng dư, dị dư? Tồ duy cầu định, bá ư Chu Tụng chi xưng; kì cứu an trạch, hiện ư Hồng nhạn chi vịnh. Đắc dân hữu kì đạo dã. Thử hậu: giới dĩ bình định nhi tam phụ tri đức; lực ư cần phủ nhi lưu tán hàm quy. Nhược tựu Hán Đường chi đắc dân, quả dĩ vô quý ư Chu dư? Tống thị lập quốc, tiên nho vị kì nhân nghĩa cố kết nhân tâm. Phù Kiến Long chi ái dưỡng dân lực; Khánh Lịch chi tử dục nguyên nguyên. Quân đạo cố khả khái kiến. Tha như chế tác ư Cảnh Đức, sáng trí ư Hi Ninh, diệc khả dĩ nhân nghĩa lệ luận dư? Phương xã tắc trường viễn, hà sở hỗ hồ?

Chí kim thánh thiên tử: cư thượng lãm quyền; trạch trung nhân trị. Kì ư ái dân nhất sự, vị thường bất trí ý dã. Tức như: cơ dân chi chẩn thại, tô thuế chi giảm quyên; ái dân chi tâm, lượng vô bất cực kì chí. Nãi Hoan Châu nhất đạo, do hữu bô đào uyên tẩu, kinh(1) động lí lư; chí phiền nhất phiên chú thố nhi hậu ninh thiếp. Tương dân tâm chi vô thường dư? Ức phụng hành chi bất lực dư? Tư dục dân đức quy hậu, tỉ ốc khả phong, dĩ trí thời ung nhạ hành chi trị. Hà tu, hà sức nhi trí thị dư? Đa sĩ tàng tu hữu nhật, thố dụng cập thì; thí vi trần chi, dĩ quan sở uẩn.

(Trúng nhất Nguyễn Công Trứ) đối:

Ngu văn: quân quốc dĩ tử dân vi thủ; tướng đế duy huệ dân vi tiên. [-](2) Thiết vị: nhân quân chi đạo, khởi hữu ngoại ư ái dân giả tai! Cái dân duy quốc bản. Bản cố nhiên hậu quốc ninh. Cố nhân quân chi đạo dĩ ái dân vi tiên vụ; bản phi tiểu tiểu điều mục sở khả lệ suy dã. Sở vị “ái dân, quân đạo chi đại cương”, lượng kì nhiên hồ! Ô hô! Đắc dân vị ái, cầu ư thư tịch mạc bất giai nhiên! Dịch ư Sư quái tượng viết: “dĩ dung dân”, cái ngôn quân tử quan địa trung hữu thủy chi tượng, đương súc chúng, dung bảo chi, sử chi hàm đắc kì sở; vô phi thị dung dân vi bảo quốc chi mưu (?)(3) đồ. Thư ư Cao Dao mô viết “tại an dân”, cái ngôn vương giả suy an dân kì vụ chi niệm, đương bảo ái an lợi chi, sử chi hàm toại kì sinh; vô phi thị an dân vi khắc gian chi chí yếu. Tức thử nhi suy chi, kì chỉ khả kiến hĩ!. Ô hô! Năng dĩ an dân vi niệm giả, kì duy thánh nhân hồ? Kê cổ Đế Nghiêu gia chí cùng dân, bất cảm tất kì vô nhất dân do cơ chi khả lự, nhi tồn tâm hồ thiên hạ, khả kiến Nghiêu ái dân chi mưu (?). Hiệp Nghiêu chi trung hữu Thuấn. Bác thi chi nhân, bản dữ Nghiêu đồng dã. Thích Nam phong chi hòa sướng nhi ca âm chi phát, thả viết: “phụ tài, giải uẩn”; tắc hiếu sinh nhất niệm, tự hiện hình ư ngôn chí chi thi. Hữu Thương Thành Thang dĩ khoan phủ chúng, bất cảm tất kì vô nhất phu thất sở chi khả ốc; nhi tử huệ hồ khốn cùng, khả kiến Thang ái dân chi chí. Thủ Thang chi đạo giả Văn. Bảo huệ chi tâm, bản dữ Thang đồng dã. Vu Linh đài chi doanh thành, nhi tử lai chi dân, thả hỉ vị chi đài viết Linh đài; tắc lạc dữ nhân đồng, tự khả kiến ư uyển trung chi nhạc. Hợp nhi quan chi, Nghiêu, Thuấn, Thang, Văn sự tuy dị nhi ái dân chi tâm vị thủy bất đồng dã. Ô hô! Bất dĩ kì đạo đắc dân giả, vị chi hữu dã. Vũ Vương mẫn tứ phương chi đồ thán nhi du tồ chi lữ, cầu dĩ định kì thất gia; tắc nguyên kì ninh tập giả, triếp (?) thời dịch tư chi thành, do kiến bá ư thi nhân chi tụng. Tuyên Vương niệm tư dân chi tỉ li, nhi hành dã chi dân, duy tư sở dĩ lao mạt; tắc hỉ kì đắc sở giả, tại đổ vu viên chi chế, khả kiến hình ư Hồng nhạn chi ca. Tức nhị thi chi chỉ, quan chi khả kiến Chu gia đắc dân chi hữu kì đạo dã. Hậu nhi năng suy thử đạo dĩ lân (?) dân, kì khả thiểu thí tai! Hán Quang Vũ ư Lang bạo, Mãng thù chi hội, giới Phùng Dị dĩ bình định an tập. Hữu ý hồ tư dân, tắc kì xuất thủy hỏa nhi xuân đài. Tam phụ chi dân, năng bất hỉ nhi tri đức hồ? Đường Thái Tông ư hạn niên hoàng tuế chi dư, tòng Trưng ngôn nhi dự dục phủ ninh. Lực hành hồ nhân nghĩa, tắc kì miễn cơ khiểm nhi khiên (?) ổn. Lưu tán chi dân, năng bất tốt nhi hàm quy hồ? Tuy nhiên, quang chi đức cận khả dĩ định tam phụ nhi vị khả dĩ hoan cấp hồ đề oán chi nhân tâm; Thái chi nhân cận khả dĩ quy lưu dân nhi vị túc dĩ thiếp thái hồ oán tư chi bách tính. Tư Hán chi lũy đức, Đường chi thâu (?) nhân; thị chi Chu chi đắc dân hữu quý đa hĩ! Ô hô! Đắc dân hữu đạo, cố vô gián cổ kim! Cận quan Tống khải vận, tiểu nguyệt hưng ca. Tống thị chi lập quốc, Nghệ tổ triệu chi. Phân chẩn hữu mệnh, tán tài phát túc tâm, uổng sát mưu (?) trừng, cấm bạo bảo dân chi chính. Vi hạ thủ tài giả, hữu hĩ. Khuyến dân trọng nông giả, hữu hĩ. Ái dưỡng chi đức, [nhân] hàm tri kì vi Nghiêu Thuấn chi quân. Nhân Tông tòng chi, phiếm ái quần sinh. Quyên phụ thích tù chi chiếu, ái dưỡng lê thứ, cứu hoang (?) điều dược chi ân. Vi hạ tuất hình giả, hữu chi. Trọng dân vụ bản giả, hữu chi. Tử dục chi nhân, nhân hàm tri kì hữu phụ mẫu chi lượng. Tức Kiến Long, Khánh Lịch quan chi, nhân quân(4) chi đạo, khái khả kiến hĩ. Hoặc tòng chi nhi vị tận thiện, diệc bất khả dĩ nhất sự nhi cái nhất thời dã. Bỉ Chân Tông hiếu chi kì nhi chế tác phân vân; kiệt dân lực ư đạo Lão đạo quân chi sùng phụng. Thần Tông dụng chi ngộ nhi động dao khai hạp; đạn dân tài ư xuân sưu hạ(5) dịch chi bội thường. Tức nhị quân chi sở hành, cố bất khả thâu (?) dĩ nhân nghĩa; nhi nguyên kì tổ triệu chi, tông(6) bồi chi, ái dân chi nhân, bảo dân chi nghĩa. Cố hữu bất khả dẫn một giả, tiên nho Lã thị vị kì dĩ nhân nghĩa cố kết nhân tâm, vô phi hữu kiến ư thử hồ? Ô hô! Tống, nhân chi thời đa nhi bất nhân chi thời thiểu như thử. Thị dĩ, cảm kì nhân nghĩa chi tiệm nhu giả, bất dĩ nhất Cảnh Đức chi phân vân nhi cự dẫn; nhi tài lực chi cung thâu, duy thượng sở mệnh, đắc thị chi dĩ cường kì quốc ư Bắc đối (?), Tây cự chi niên. Mộc [kì] nhân nghĩa chi tẩm tích giả, bất dĩ nhất Hi Ninh chi phiền nhiễu nhi cự vong; nhi sĩ dân chi kiên đới, viễn cận đồng nhiên đắc thị chi dĩ diễn kì thống ư tứ Quảng tam Mân chi hậu. Tống chi xã tắc trường viễn, cái hữu thị ư nhân nghĩa chi cố kết dã. Ta phù hãn thanh ngọc bản, sử bút như tân, cổ vãng kim lai, công luận bất dẫn. Quan nhân sự chi đắc thất, cảm thế đạo chi thăng giáng [-] Cầu năng giám khả giới hĩ! Dĩ ái dân, vi bảo quốc chi cơ ư [-]

Phương kim, thánh thiên tử bỉnh thiên vị, trước thiên y; dĩ dương đức cư dương vị, chính đoan nam diện nhi cư thượng lãm quyền. Tiên điện Xuân kinh nhi trạch trung nhân trị. Phụ dĩ nhất nhị kì lão, tam ngũ đại thần, quyết phu giao như. Kì như ái dân nhất sự, vị thường bất trí ý dã. Tức như: tiểu khiểm số chi thường dã, nhi do nhân dân chi niệm sở suy, tắc quan túc ngũ vạn phương, vi cơ dân nhi chẩn thại; chính cung quốc chi thường dã, nhi do hậu hạ chi tâm sở khuếch, tắc tứ phủ thập nhị huyện, phàm tô thuế tất giảm quyên. Ái dân chi tâm, lượng vô bất cực kì chí. Nghi kì phản bạc vi hồi thuần, dĩ kì mông hưu dưỡng chi đức giả. Nãi Hoan châu nhất đạo, tự Nhâm Tuất dĩ lai, vô lại chi đồ, hỗ tương chúc tụ, bô đào uyên tẩu, kinh động lí lư; chí phiền nhất phiên chú thố, nhi hậu ninh thiếp. Tương dân tâm chi vô thường dư? Phù! Dân võng thường hoài, hoài vu hữu nhân. Cố hữu chi nhân tâm, cổ kim vô gián. Thẩn Hoan châu chi dân, tố xưng thuần tú. Vị chi vô thường, ngu bất cảm dĩ cưỡng vu dã. Ức phụng hành chi bất lực dư? Phù Hoan Châu trọng trấn, kịch tất mệnh cán sự trọng thần, phàm kiêm biên sự, vị thường bất thân tự tuần hành, cầm nã, phủ dụ. Vị chi bất lực, ngu bất cảm cưỡng thuyết dã. Kim thỉnh thẩm (?) kì điên mạt nhi lược trần chi. Phù! Tự ngụy Tây phiến loạn, Hoan Châu chi dân đồ thán cửu hĩ. Thủy hạn tần nhưng chi hậu, thập thất cửu không. Tuy ngưỡng mông phân chẩn chi nhân, nhi cửu khổ chi dân, nan cự phục. Kê nhật cầu hoạt chi chúng, nhất hữu dĩ lợi dụ giả, toại quần nhiên lộng giáp ư Hán trì. Tật dịch tiến chí chi dư, hộ khẩu canh thiểu. Tuy ngưỡng hà giảm quyên chi huệ, nhiên tích mạc chi hạ, vị cứ tô. Lệnh niên khống thụ chi đinh, nhất hữu dĩ thế hiếp giả, toại xuẩn nhiên chấn qua ư Đường tẩu. Kì thủy điền cùng nhi vi gian; cố bất hạ cố liêm sỉ nhĩ! Nãi nhất thất khước, tắc vĩnh vô quy lộ; úy tử giả, bất khả bất dĩ duyên sơn vi suyễn tức chi sào. Nhất phạm pháp, tắc bất luận trùng xá; thâu sinh giả, bất khả bất dĩ tùng lâm vi kí thân chi huyệt. Kim dục dân đức quy hậu, tỉ ốc khả phong dĩ trăn thời ung nhạ hành chi trị, nhi bất dĩ ái dân vi tiên vụ, tương hà dĩ vi tu sức tai? Phụ phạm chi đồ kí nhất khai Thang võng, tức lập hạ khuyến trừng chi điều ước, sử chi lạc ư vi thiện nhi bất tự tri. Hữu sỉ thả cách chi dư, tư ưng hữu Hán đồ chi thủ kiếm. Điêu canh chi chúng kí tận thi Hán khoa, tất tường tra thực số chi đinh điền; sử chi đắc thực cung nhi bất chí khống thụ. Kí phú phương cốc chi hậu, tự ưng hữu Chu tục chi nhượng điền. Tương kiến nhân tế (?) thành phong, nhi dân đức quy hậu; trung nghĩa thị thượng nhi tỉ ốc khả phong, dĩ trăn thời ung nhạ hành chi trị. Y dư, hưu tai! Ngu dã, hạnh sinh thánh nhân chi thế, nguyện vi quân tử chi nho; du nghệ uyển dĩ thao cô, cảm viết: tàng tu chi hữu nhật. Đổ xuân vi nhi hiệp quyển; tự tri phi lịch chi vô dư, cảm vân ư chính chi hữu thiện. Chỉ khủng kì ngôn chi nan biện, cảm chấp sự kì tiến chi hạnh thậm. Ngu cẩn đối.

Dịch nghĩa:

Hỏi: Yêu dân là cương lĩnh lớn trong đạo làm vua. Kinh Dịch nói đến “dung dân”(7), Kinh Thư nói đến “yên dân”(8). Ý chỉ đó có thể giải thích được chăng? Vua Nghiêu lưu tâm lo việc thiên hạ, còn vua Thuấn ngâm bài ca Nam phong(9), vua Thành Thang yêu dân khốn cùng như con, còn Văn Vương có khúc hát Linh đài(10). Lòng yêu dân [của các vua ấy] giống chăng? Khác chăng? [Tấm lòng] mong cầu thiên hạ được yên định, lan rộng trong lời xưng tán của phần Chu Tụng(11); [cái ý] rốt cuộc mà được nhà cửa để ở yên, hiện lên ở bài thơ mang tên Hồng nhạn(12). Được dân là có cái đạo lí ấy vậy! Điều này về sau thì có việc răn dạy để bình định [của Hán Quang Vũ] mà [dân] Tam phụ(13) được biết đến đạo đức; có sự dốc sức ở việc chăm chỉ vỗ về [của Đường Thái Tông(14)] mà dân lưu tán đều quay trở về. Nếu như vậy, thì nhà Hán, nhà Đường “được dân” có phải quả thực đã không thẹn với nhà Chu chăng? Nhà Tống dựng nước, bậc tiên nho cho rằng triều đại này lấy nhân nghĩa để cố kết lòng người. Đại để là triều Kiến Long(15) yêu thương, chăm chút sức dân, triều Khánh Lịch(16) nuôi dưỡng thứ dân như con cái. Đạo làm vua hẳn có thể thấy được đại khái vậy. Còn như: việc chế tác dưới triều Cảnh Đức(17), việc sắp đặt dưới triều Hi Ninh(18), cũng có thể lấy nhân nghĩa làm thể lệ để bàn luận được chăng? Phương chi, xã tắc [nhà Tống] lâu dài là nhờ cậy vào chỗ nào vậy?

Ngày nay, thánh thiên tử ngồi trên nắm quyền, giữ ngôi cao mà mưu trị nước. Đối với một việc là yêu dân, chưa từng không lưu ý đến. Kìa như, dân đói thì phát chẩn, [dân thiếu thì] miễn giảm thuế tô. Lòng yêu dân rất mực thực có thể thấy hết được vậy. Thế mà một đạo Hoan Châu(19), vẫn còn những kẻ, lẩn trốn vào chốn rừng sâu, gây kinh động ở nơi làng xóm; để đến nỗi phiền một phen cắt đặt mà sau đó mới được yên ổn. Theo đó, có phải lòng dân là vô thường chăng? Hay việc thi hành mệnh lệnh đã bất lực chăng? Những muốn cái đức của dân quay về thuần hậu, quốc gia có nhiều người hiền tài, để đưa đất nước đến thời thái bình, thịnh trị thì phải sửa sang, khoa sức thế nào để đạt đến được như thế đây? Chúng kẻ sĩ [các anh], chăm luyện rèn, ham học hỏi, sẽ có ngày được cất nhắc kịp thời. Hãy thử trình bày rõ ra đây, để xem kiến thức thế nào.

(Người đỗ thứ nhất là Nguyễn Công Trứ) trả lời:

Ngu tôi nghe rằng, bậc đứng đầu một nước lấy việc coi dân như con làm đầu, kẻ làm tướng cho vua lấy việc ban ân huệ cho dân làm trước. Điều này [--]. [Ngu tôi] trộm cho rằng, đạo của bậc nhân quân, há lại ngoài việc yêu dân ư? Bởi vì, dân chính là gốc của nước, gốc có vững thì sau đó nước mới yên. Vậy nên, đạo của bậc nhân quân là lấy yêu dân làm việc đầu. Ấy chẳng phải là điều mục nho nhỏ, có thể bàn luận lấy lệ được. Nhận định “yêu dân là cương lĩnh lớn trong đạo làm vua” thực là đúng đắn vậy ru! Hỡi ôi! “được dân” vì yêu dân, tìm trong thư tịch, không chỗ nào là không như thế. Lời Tượng quẻ trong Kinh Dịch nói đến “để dung dân”, ấy là nói người quân tử xem tượng trong đất có nước mà đảm đương việc nuôi nấng chúng dân, dung dưỡng bảo vệ nhân dân, khiến cho dân đều có được chỗ ăn ở; không chỗ nào [ở đó] là không chỉ ra rằng “dung dân” chính ra là kế sách nhằm bảo toàn đất nước. Thiên Cao Dao mô trong Kinh Thư nói về “ở việc yên dân”, ấy là nói bậc vương giả suy từ ý thức coi yên dân làm nhiệm vụ của mình mà đảm đương việc bảo vệ, yêu thương, làm yên làm lợi cho dân, khiến cho dân đều được an cư; không có chỗ nào [ở đó] là không chỉ ra rằng yên dân là yếu chỉ đúng đắn để khắc phục gian nan. Từ đó mà suy, ý chỉ kia có thể thấy được vậy. Hỡi ôi! người có thể lấy việc yên dân làm niềm trăn trở, sẽ chỉ có đấng thánh nhân chăng? Xét xưa, vua Nghiêu để thêm chí ý ở kẻ dân cùng, không dám [lơ là], ắt lúc ấy không có một người dân phải lo lắng vì đói kém; nên qua sự lưu tâm thiên hạ, có thể thấy được tấm lòng yêu dân của vua Nghiêu vậy. Trong số những kẻ giúp rập cho vua Nghiêu có vua Thuấn [cũng] thi hành rộng rãi điều nhân, vốn giống như vua Nghiêu vậy. Hưởng cái sảng khoái, mát mẻ của gió Nam mà phát lên lời ca vịnh, vả lại mong cầu: “[Có thể làm cho dân ta] giàu thêm, [có thể ] giải lo phiền [cho dân ta]”; thì một lòng hiếu sinh, tự hiện hình ở lời thơ nói về cái chí. Có vua Thành Thang nhà Thương lấy sự khoan hòa để vỗ về chúng nhân, không dám [chểnh mảng] ắt lúc ấy không có một kẻ mất chỗ để ở; nên qua việc yêu kẻ khốn cùng như con có thể thấy được sự yêu dân rất mực của vua Thành Thang vậy. Giữ đạo của vua Thành Thang có Văn Vương; việc duy trì ơn huệ dành cho dân, cũng giống như Thành Thang vậy. Linh đài vừa dựng nền, mà con dân kéo đến giúp hoàn thành, nên [Văn Vương] vui mừng mà đặt tên đài là “Linh đài”; thì việc hưởng niềm vui cùng với mọi người ấy, hẳn có thể thấy ở khúc nhạc trong vườn vậy. Tổng hợp lại mà xét, vua Nghiêu, vua Thuấn, Thành Thang, Văn Vương, việc làm tuy có khác mà lòng yêu dân chưa bao giờ là bất đồng vậy. Hỡi ôi! kẻ không giữ cái đạo ấy mà có được dân, chưa từng có vậy! Vũ Vương thương bốn phương lầm than, mà đội quân đi chinh phạt xa, mong được yên bề nhà cửa, thì [ông] khiến cho họ có chỗ yên ổn nơi đồng bằng; suy nghĩ chân thành ngay lúc bấy giờ, còn thấy lan truyền trong lời ca tụng của các thi nhân. Tuyên Vương lo nghĩ việc người dân cũ li tán, đám dân đi khai hoang, luôn nghĩ đến nguyên do lao khổ của họ, thì [ông] khiến cho họ vui vì có được nhà cửa; việc xây dựng tường cao, tường thấp làm nhà ở, có thể thấy cảnh tượng ở bài thơ Hồng nhạn. Lấy ý của hai bài thơ đó mà xét thì có thể thấy nhà Chu được dân là có đạo lí vậy. Đời sau vận dụng đạo lí này mà thương xót dân chúng, há lại thiếu ví dụ sao? Vua Hán Quang Vũ trước cơ hội Lang hung bạo, Mãng sắp diệt(20), răn dạy Phùng Dị(21) để bình định, lo cho dân có chỗ ở yên. Có ý quan tâm đến dân chúng cũ thì đưa họ ra khỏi nước lửa mà đến chốn đài xuân(22). Dân tam phụ có thể không vui mà hiểu được đạo đức chăng? Đường Thái Tông sau những năm mất mùa, sâu bệnh, theo lời Ngụy Trưng(23) mà sớm nuôi dưỡng vỗ yên. Ra sức thi hành nhân nghĩa thì giúp dân tránh khỏi thiếu đói mà đưa đến yên ổn. Dân lưu tán có thể không chọn mà đều được trở về chăng? Tuy nhiên, cái đức của Quang [Vũ] chỉ có thể vỗ yên [dân] tam phụ mà chưa đủ để đem lại niềm vui cho lòng người còn kêu oan. Lòng nhân của Thái [Tông] chỉ có thể đưa dân lưu tán trở về mà chưa đủ để yên ủi, thỏa mãn bách tính đương oán thán. Thế thì, việc nhà Hán tích đức, việc nhà Đường vun nhân, xét thấy còn phải thẹn nhiều so với việc nhà Chu [trước đây] được dân vậy. Hỡi ôi! được dân là có đạo lí của nó, [điều đó] cố nhiên là không phân biệt xưa nay. Gần đây, xem nhà Tống mở vận, ngày Tiểu nguyệt(24) nổi lời ca vui. Nhà Tống lập quốc là do Nghệ Tổ(25) gây dựng móng nền. Việc phát chẩn thì thường có lệnh, tấm lòng bỏ của cải để phát phân thóc gạo, lo trừng trị những kẻ giết oan [dân thường], răn cấm sự bạo tàn, [thể hiện] nền chính trị bảo vệ nhân dân. Việc vì kẻ dưới mà giữ của cải là có vậy. Việc khuyến khích dân chú trọng nông nghiệp là có vậy. Cái đức yêu thương, nuôi nấng, [khiến mọi người] đều biết [Nghệ Tổ] là bậc vua như Nghiêu, như Thuấn. Nhân Tông nối bước, yêu khắp quần sinh. Tờ chiếu miễn việc phu dịch, cởi bỏ lao tù, [việc làm] yêu thương nuôi nấng dân chúng, [thể hiện rõ cái ơn giúp] cứu bệnh nặng mà chế thuốc. Việc thương xót kẻ dưới bị hình phạt là có. Việc trọng dân, lấy dân làm gốc là có. Lòng nhân dưỡng dân như con, [khiến] người ta đều biết [Nhân Tông] có lượng của bậc cha mẹ. Lấy triều Kiến Long, Khánh Lịch mà xét, thì đạo của bậc nhân quân có thể biết đại khái vậy. Hoặc [có triều] theo đạo ấy mà chưa đạt đến chỗ tận thiện, thì cũng không thể lấy một việc mà bao trùm một thời được. Kìa Chân Tông thích sự kì lạ mà chế tác rối bời, làm cạn sức dân ở việc cung phụng đám đạo quân(26) trong đạo Lão. Thần Tông sử dụng sai lầm mà làm lung lay then chốt, dốc sạch tài sản của dân vào việc chi phí cho săn bắn mùa xuân, phục dịch mùa hạ quá lạm. Xét việc làm của hai vua này, cố nhiên không thể trộm cho là nhân nghĩa được. Nhưng tổ tông đã gây dựng, con cháu lại vun bồi cái lòng nhân ở sự yêu thương dân, lòng nghĩa ở sự bảo vệ dân. Vì vậy, nguyên nhân [nhà Tống] không thể [nhất thời] suy vong, tiên nho họ Lã(27) cho là do: “[nhà Tống] lấy nhân nghĩa để cố kết lòng người”, điều đó có thể thấy rõ ở đây vậy. Hỡi ôi! trong triều Tống, thời “có nhân” nhiều mà thời “bất nhân” ít là như thế. Vì vậy, sự thấm nhuần do được cảm hóa bằng nhân nghĩa, không vì việc rối bời thời Cảnh Đức mà vội mai một; vả lại, nguồn cung tài lực vơi cạn chính là do bề trên ra lệnh, nhờ đó mà tăng sức mạnh cho đất nước những năm chống cự phía Tây, đối đầu phía Bắc. Sự tích chứa do được tắm gội nhân nghĩa, không vì một việc phiền nhiễu thời Hi Ninh mà vội suy vong; vả lại, sĩ dân lại vững vàng gánh vác, xa gần một lòng, nhờ đó mà kéo dài được chế độ sau những lần chuyển đến Mân, dời sang Quảng(28). Xã tắc nhà Tống dài lâu, ấy là nhờ ở sự cố kết bằng nhân nghĩa vậy. Than ôi! sử xanh, sách ngọc, bút sử như in, xưa qua nay lại, công luận còn nguyên. Xem sự còn mất của việc người mà cảm việc giáng thăng của thế đạo [--] tìm thì có thể soi xét, có thể khuyến giới vậy. Lấy yêu dân làm căn bản của việc bảo vệ đất nước [--].

Ngày nay, thánh thiên tử nắm ngôi trời, ngự áo trời, lấy đức Dương để giữ ngôi Dương(29), ngay ngắn ngoảnh mặt về Nam(30) mà ngồi ngôi cao, nắm quyền hành; trước chọn đặt Xuân kinh(31) mà lên ngôi trị nước. Phò tá thì có một hai bậc kì lão, năm ba vị đại thần, được tin cậy mà giao phó [trọng trách]. Kìa như một việc là yêu dân, chưa từng không lưu ý tới. Ngay như: việc thiếu đói nhỏ là sự thường của số mệnh, mà vì suy từ tâm niệm thi hành chữ nhân với dân, ắt dốc thóc nhà nước 5 vạn phương để mà chẩn cấp cho dân đói. Việc thu thuế là nguồn thu thường có của đất nước, mà do mở rộng tấm lòng hậu hĩ với kẻ dưới, ắt với 12 huyện của 4 phủ, phàm là tô thuế thì đều miễn giảm. Lòng yêu dân rất mực thực có thể thấy hết được vậy. [Đáng lẽ nơi ấy] nên bỏ sự bạc bẽo mà trở về sự thuần hậu, lấy đó làm điều trông mong để được cái đức nuôi dưỡng, vỗ yên. Thế mà, một đạo Hoan Châu, từ năm Nhâm Tuất(32) trở đi, bọn vô lại ới nhau cùng tụ tập, chuyên lẩn núp chốn rừng sâu, gây kinh động nơi xóm làng; để đến nỗi phiền một phen cắt đặt mà sau mới được yên lành. Ấy là bởi lòng dân vô thường chăng? Ôi! sự hoài vọng thường hằng trong chuẩn tắc xử thế của người dân là hướng về bậc có nhân. Lòng người cố hữu thì xưa nay không phân biệt. Huống chi, người dân Hoan Châu, vốn được khen là thuần hậu, tốt đẹp. Bảo rằng họ vô thường, ngu tôi không dám miễn cưỡng nói xằng như vậy. Hay việc thi hành mệnh lệnh đã bất lực chăng? Ôi! Hoan Châu là trọng trấn, quá lắm thì cửa khổn(33) ắt sai một trọng thần mẫn cán, lại kiêm thêm việc vùng biên, [chăm chỉ] chưa từng không tự mình lo việc tuần hành, bắt giữ, vỗ về. Bảo rằng bất lực, ngu tôi không dám nói gượng như thế. Nay xin xét rõ gốc ngọn của nó mà trình bày vắn tắt như sau. Ôi! Từ khi giặc Tây(34) gây phiến loạn, dân Hoan Châu lầm than đã lâu rồi. Rồi hạn hán liên tiếp, mười nhà thì chín nhà trống không. Tuy được ngước nhận lòng nhân ở việc phát chẩn, nhưng người dân khổ cực đã lâu, khó phục hồi kịp. Đối với đám người cầu sống kể từng ngày này, có kẻ đem lợi ra dụ dỗ, thì liền tụ tập đùa nghịch giáp binh nơi ao nhà Hán(35). Còn lại là những kẻ nhiễm bệnh dịch, rất đỗi ốm đau cơ cực, nên nhân khẩu canh tác thiếu thốn. Tuy được ngóng nhờ ơn miễn giảm [tô thuế], nhưng kẻ dưới khổ sở chất chồng, chưa kịp sống lại. Đối với đám dân đinh bị khống chế, thụ động trước thời vụ này, có kẻ đem thế ra hiếp ép, thì liền ngu xuẩn vung giáo mác nơi rừng rậm nhà Đường(36). Khởi nguồn của việc đó là hết đất sống nên làm việc gian manh. Vì vậy, họ không rỗi rãi ngó ngàng đến liêm sỉ. Nên một khi lỡ bước thì mãi mãi không có đường về; kẻ lo sợ chết, không thể không lấy chốn ven núi làm tổ gửi chút hơi tàn. Một khi phạm pháp thì chẳng bàn đến tha bổng lần nữa; kẻ mong trộm sống, không thể không lấy nơi rừng rậm làm hang ổ gửi tạm tấm thân. Nay muốn cái đức của dân quay về sự thuần hậu, nước có nhiều người hiền tài, để đưa đất nước đến thời thái bình, thịnh trị mà không lấy yêu thương dân làm đầu, thì sẽ lấy gì để mà tu tạo, sửa sang đây? Đối với bọn mang tội thì nhất loạt mở tấm lưới của vua Thang(37), lập tức gây dựng điều ước để khuyến khích, răn bảo, khiến cho họ có niềm vui ở việc làm điều thiện mà không tự biết. Sau khi có liêm sỉ và nhân cách rồi thì tự sẽ có việc giữ kiếm trên đường nhà Hán(38). Đối với đám dân cày khốn khó thì nên thi hành hết chế độ xử đoán của nhà Hán(39), tra xét rõ hết số đinh điền có thực, khiến cho họ có được nguồn sống thực tế, mà không đến nỗi bị khống chế, thụ động. Sau khi đã giàu thóc lúa tự sẽ có đất chuyển nhượng theo phong tục nhà Chu(40). [Từ đó] sẽ thấy điều Nhân dần trở (?) thành phong tục mà đức của dân trở về thuần hậu; trung nghĩa được tôn sùng mà đất nước có nhiều người hiền tài, để đưa đất nước đến thời thái bình, thịnh trị. Đẹp thay, tốt lành sao! Ngu tôi đây, may mắn sinh vào thời của thánh nhân, nguyện làm nhà Nho quân tử; rong ruổi học hành để đủ viết lách, dám nói là chăm chỉ luyện rèn có ngày [thành tựu]; trông thấy hội thi mùa xuân mà cắp quyển văn tham dự; tự biết dẫu dốc hết lòng trung thành vẫn chẳng thừa; dám nói rằng có sự tiếp nối, trao truyền trong chính sự. Chỉ sợ lời nói khó biện bạch được, dám xin làm việc mà có sự tiến bộ thì may lắm! Ngu tôi kính cẩn nêu đối sách.

 

Chú thích:

(1) Nguyên bản chép “cảnh” (), có lẽ do “kinh” () nhầm sang. Phần trả lời của Nguyễn Công Trứ nhắc lại câu này cũng chép là “kinh”. Đây tạm sửa lại là “kinh”.

(2) Nguyên bản để cách, có lẽ do mất chữ, người chép không phục nguyên được. Những chỗ như thế chúng tôi dùng kí hiệu [-].

(3) Những chữ trước kí hiệu (?) là những chữ khó đọc, chúng tôi tạm đoán.

(4) Nguyên bản chép “quân nhân”, chúng tôi chữa lại là “nhân quân”.

(5) Nguyên bản chép “miễn” (), chúng tôi ngờ là chữ “hạ” () nhầm sang, tạm chữa lại cho đúng văn mạch.

(6) Nguyên bản chép “tôn” (), do chữ “tông” () viết kiêng húy. Đây tạm chữa lại là “tông”.

(7) Lời Tượng quẻ (Kinh Dịch): “địa trung hữu thủy, , quân tử dĩ dung dân, súc chúng” (Trong đất có nước, là quẻ , người quân tử lấy đó mà dung dân, nuôi chúng).

(8) Kinh Thư. Cao Dao mô: “tại tri nhân, tại an dân” (ở chỗ biết người, ở chỗ làm cho dân được yên ổn).

(9) Vua Nghiêu: vị vua đời Thái cổ của Trung Quốc được tiếng là vua hiền. Trong Thiên Nghiêu điển sách Kinh Thư có nói đến “thi ngôn chí, ca vĩnh ngôn”. Vì vậy, nói “thi ngôn chí” là nhắc đến sự ca tụng vua Nghiêu. Thuấn: vị vua thời Thái cổ của Trung Quốc, sau vua Nghiêu, cũng được cho là vị vua hiền. Nam phong: Theo Hàn thi ngoại truyện, vua Thuấn đánh đàn năm dây, ca bài thơ Nam phong mà thiên hạ thịnh trị, bài thơ đó như sau: “Nam phong chi thời hề, khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề. Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề” (Gió nam đến kịp thời chừ, có thể làm dân ta giàu thêm/ Gió nam mát mẻ chừ, có thể giải lo phiền cho dân ta). Khúc Nam phong chỉ đời thái bình, vua anh minh.

(10) Linh đài: tên một bài thơ trong Kinh Thi (Đại nhã), tương truyền do Văn Vương sáng tác phổ nhạc, ca tụng sự thịnh vượng. Linh đài do Văn Vương xây dựng, mới đo đạc và đóng cọc thì dân đã đến làm, không hết ngày mà xong. Gọi là Linh đài vì cái đài làm nhanh, như có thần linh trợ giúp.

(11) Chu Tụng: tên một phần trong Kinh Thi, bài Lại có câu: “Ngã tồ duy cầu định” (Ta mong cầu thiên hạ được an định).

(12) Hồng nhạn: tên bài thơ trong Kinh Thi (Tiểu nhã) ca tụng Tuyên Vương có thể tập hợp, vỗ yên dân li tán. Bài Hồng nhạn có câu: “Chi tử vu viên, Bách đổ giai tác, Tuy tắc cù lao, kì cứu an trạch” (Người dân lưu lạc lo xây tường, Hàng trăm bức tường đều được làm xong, Nay tuy lao nhọc, mà rốt cuộc mà được nhà cửa để ở yên).

(13) Hán Quang Vũ: tức vua Hán Quang Vũ, tên Lưu Hằng, người có công lớn trong việc khôi phục nhà Hán. Bắt đầu từ ông, người ta gọi triều Hán là Đông Hán, phân biệt với Tây Hán trước đó. Tam phụ: Theo Hán thư, Cảnh đế kỉ: “Hoạt động của Tam phụ nếu không giống như là pháp lệnh thì đều đưa lên Thừa tướng, Ngự sử để xin chỉ đạo”. Chú: Kinh Triệu Doãn, Tả Bằng Dực, Hữu Phù Phong, là ba bộ phận trong thành Trường An. Như vậy, Tam phụ chỉ Kinh đô.

(14) Đường Thái Tông (627 - 649): vị vua thứ hai thời Đường, được xem là vị vua anh minh, hùng tài nhất nhà Đường.

(15) Kiến Long: niên hiệu đầu của Tống Thái Tổ (960 - 967) Triệu Khuông Dận, kéo dài 3 năm (960 - 962).

(16) Khánh Lịch: niên hiệu của Tống Nhân Tông (1023 - 1063) Triệu Chẩn, kéo dài 8 năm (1041 - 1048).

(17) Cảnh Đức: niên hiệu thứ hai của Tống Chân Tông (998 - 1022) Triệu Hằng, kéo dài 4 năm (1004 - 1007).

(18) Hi Ninh: niên hiệu đầu của Tống Thần Tông (1068 - 1085) Triệu Hiệt, kéo dài 10 năm (1068 - 1077).

(19) Hoan Châu: tên cũ của đất Nghệ An, Hà Tĩnh.

(20) Lang hung bạo, Mãng sắp diệt: Lang tức Vương Lang (? - 24): người Hàm Đan thời Đông Hán, còn có tên là Xương, biết thuật chiêm bốc. Lúc bấy giờ con của Triệu Mục Vương là Lâm thích việc lạ, dùng du hiệp hoạt động ở giữa hai nước Triệu và Ngụy. Lang mạo xưng là Tử Dư, con của Hán Thành Đế, để kết thân với bọn Lâm. Đầu niên hiệu Canh Thủy (23 -25) cuối thời Vương Mãng, bọn Lâm lập Lang làm Thiên tử, không lâu sau, Lang bị Quang Vũ diệt. Mãng là Vương Mãng, nghịch thần cướp ngôi nhà Tây Hán. Vương Mãng vốn là cháu họ của Hiếu Nguyên hoàng hậu, lĩnh chức Đại tư mã, giết Hán Bình Đế, lập vua mới hiệu Giả Hoàng đế do Mãng nhiếp chính, sau đó tiếm ngôi, đặt quốc hiệu là Tân (10 - 23), sau bị Hán Quang Vũ diệt

(21) Phùng Dị (? - 34): người Phụ Thành thời Đông Hán, tự Công Tôn, làm tướng quân của Hán Quang Vũ, phong Dương Hạ hầu, góp phần bình định giặc Xích Mi, Vương Lang, đánh Hung Nô, làm quan Thái thú các huyện Bắc Địa, An Định, Thiên Thủy, sau chết trong quân, thụy là Tiết.

(22) Đài xuân: thường đi với “thọ vực” (cõi thọ) chỉ chốn thanh bình, thời thịnh trị.

(23) Ngụy Trưng (580 - 643): người Khúc Thành thời Đường, tự Huyền Thành, thích đọc sách, lúc đầu theo Lí Mật, sau về với nhà Đường, làm Gián nghị đại phu dưới triều Thái Tông, sau làm đến Tả quang lộc đại phu, tước Trịnh Quốc công, tính tình cương trực, can gián rất thẳng, được Đường Thái Tông kính nể.

(24) Tức ngày 29 âm lịch.

(25) Nghệ Tổ: tức Tống Thái Tổ (960 - 967) Triệu Khuông Dận, người sáng lập vương triều Tống. Người đời Tống thường gọi Thái Tổ là Nghệ Tổ.

(26) Đạo quân: một chức quan trong Đạo giáo, đứng đầu liêu thuộc của Tam thanh Cửu cung.

(27) Họ Lã: chưa rõ ai. Phải chăng là Lã Đông Lai, hoặc Lã Tổ Khiêm?

(28) Nguyên văn: “Tam Mân, Tứ Quảng”; trích từ câu sấm về nhà Tống chép trong Đại Tống Tuyên Hòa di sự. Văn Thiên Tường từng nói: xưa có lời sấm (tương truyền của Trần Đoàn Hi Di tiên sinh nói cho Tống Thái Tổ khi ông này hỏi việc tương lai nhà Tống): “Nhất Biện, nhị Hàng, tam Mân, tứ Quảng” để chỉ việc nhà Tống thiên đô bốn lần rồi diệt vong: lần thứ nhất là đất Biện (phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam), lần thứ hai là đất Hàng Châu (Lâm An), lần thứ ba là Phúc Kiến (Mân) và lần thứ tư là Quảng Đông (Quảng), sau đó diệt vong ở Nhai Sơn. Đây dịch thoát.

(29) Đức Dương, ngôi Dương: theo Kinh Dịch, đức Dương, ngôi Dương chỉ vua.

(30) Ngoảnh mặt về Nam: chỉ đường lối cai trị theo nhân nghĩa hay “vương đạo” của bậc vua chúa, theo quan niệm của nhà Nho.

(31) Xuân kinh: nghĩa là Kinh đô mùa xuân, dùng từ sáo để ca tụng; cũng có thể để chỉ kinh đô nhà Nguyễn là Phú Xuân (tức Huế).

(32) Nhâm Tuất: tức năm 1802.

(33) Cửa khổn: Cửa khốn chỉ cửa cấm thành. Ngày xưa khi tiễn đưa tướng soái đi đánh giặc, nhà vua đẩy xe của viên tướng và nói: “Từ cửa khổn trở vào, quả nhân lo liệu mọi việc; từ cửa khổn trở ra, tướng quân lo liệu mọi việc”. Cửa khổn chỉ nhà vua.

(34) Giặc Tây: chỉ quân Tây Sơn.

(35) Ao nhà Hán: theo Hán Thư, Cung Toại, một danh tướng thời Hán Tuyên Đế có nói: “Trẻ con trộm phép khua múa binh khí của nhà vua trong ao nhà vua”, chỉ cuộc nổi dậy nhỏ chống lại triều đình.

(36) Rừng rậm nhà Đường: chưa rõ xuất xứ. Có lẽ chỉ là một điển tích “giả” để đăng đối với điển tích “ao nhà Hán”.

(37) Lưới của vua Thang: theo Sử kí, Thành Thang một hôm gặp người giăng lưới bẫy chim, miệng đọc chú: Trên trời bay xuống, dưới đất chui lên, Ba bề bốn bên, vào lưới ta cả. Thành Thang nói: Thế thì chim chóc chết sạch cả còn gì? Rồi bắt bỏ ba mặt lưới, chỉ để một và sửa lại câu chú là: Nhện giăng màn lưới, loài người học theo, Bay tả bay hữu, bay thấp bay cao, muốn tìm đường chết, hãy vào lưới ta”. Đây nói có độ lượng, không làm tuyệt đường sống của người khác.

(38) Giữ kiếm trên đường nhà Hán: chưa rõ xuất xứ.

(39) Chế độ xử đoán của nhà Hán: chưa rõ xuất xứ. Có lẽ chỉ chế độ nhân khẩu của nhà Hán.

(40) Nguyên văn: Nhượng điền: đất nhượng. Phải chăng là phép “tỉnh điền” thời Chu, thường được nhắc đến trong các sách của Nho gia từ sách Mạnh Tử trở đi. Theo đó, 8 nhà sẽ được cấp mảnh đất hình chữ tỉnh, chia 9 phần, mỗi nhà 1 phần tự canh tác và hưởng hoa lợi, phần còn lại canh tác chung để lấy hoa lợi nộp thuế. Các nhà Nho xem phép này là một chế độ ruộng đất tích cực, giúp ích cho người dân làm nông nghiệp./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (90)2008; Tr.70-80)

Nguyễn Thanh Tùng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm