Bức "minh tinh" ghi về một vị Quận công đặt trong ngôi mộ cổ ở thị trấn Vạn Hà huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa (Tạp chí Hán Nôm, Số 6(97) 2009; Tr.72-76)
BỨC "MINH TINH" GHI VỀ MỘT VỊ QUẬN CÔNG ĐẶT TRONG NGÔI MỘ CỔ Ở THỊ TRẤN VẠN HÀ HUYỆN THIỆU HÓA TỈNH THANH HÓA
NGUYỄN VĂN HẢI
Thư viện tỉnh Thanh Hóa
Vừa qua, trong khi làm vườn, anh Nguyễn Quán Lĩnh ở Tiểu khu 9 thị trấn Vạn Hà đã phát hiện một ngôi mộ cổ. Ngoài có quách, trong quách có một quan tài bằng gỗ, phía trên quan tài trải một bức “minh tinh”. Chính quyền địa phương đã can thiệp kịp thời và báo cáo với các cơ quan chuyên môn giám định, sau đó xây lấp lại như cũ. Qua quá trình nghiên cứu, tổng hợp có thể đưa ra một số thông tin như sau:
Về đặc điểm ngôi mộ:
Đây là loại mộ hợp chất kiểu trong quan ngoài quách có niên đại thế kỷ XVII - XVIII (1).
Bên trên nắp quan tài trải một bức “minh tinh” bằng vải lụa màu đỏ, có hoa văn. Bức minh tinh hiện nay đã được đưa lên bảo quản tại nhà truyền thống của huyện Thiệu Hóa. “Minh tinh” có kích thước dài 2,4m rộng 0,56m, xung quanh thêu đường viền màu vàng. Giữa tấm minh tinh viết một dòng chữ Hán theo chiều dọc. Các chữ được viết sát vào nhau theo kiểu chữ Khải Nam thường thấy trên các sắc phong niên hiệu Chính Hòa (1680-1705). Trên đầu và cuối bức “minh tinh” có điểm ba hạt tròn, chính giữa một hạt tạo thành kiểu chòm sao thất tinh (hạt được làm bằng trang kim dát vàng). Phần chữ được tráng một lớp nhũ vàng. Ngày nay nhũ đã bị bong, phần chữ đã in sâu vào vải.
Nội dung bức "minh tinh":
前特進輔國上將軍 , 宣力竭節功臣 , 奉侍書寫, 權府事, 太傅, 致仕, 起復煥郡公 , 加贈太保阮相公, 字靈佺 , 賜謚忠毅 , 加封恭懿英烈義塈大王靈位 .
Phiên âm: Tiền Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tuyên lực Kiệt tiết công thần, phụng thị Thư tả, quyền Phủ sự Thái phó, trí sĩ, khởi phục Hoán Quận công, gia tặng Thái bảo Nguyễn Tướng công, tự Linh Thuyên, tứ thụy Trung Nghị, gia phong Cung ý Anh liệt Nghĩa khái Đại vương linh vị.
Dịch nghĩa: Linh vị Nguyễn Tướng công, tên tự là Linh Thuyên, ban tên thuỵ là Trung Nghị. Trước đây giữ chức Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tuyên lực Kiệt tiết công thần, Phụng thị Thư tả, nắm quyền Phủ sự, Thái phó, về trí sĩ. Được khởi phục tước Hoán Quận công, gia tặng Thái bảo, phong thêm: Cung ý Anh liệt Nghĩa khái Đại vương.
Căn cứ vào nội dung bức “minh tinh” ghi chép, chúng tôi tiến hành tra cứu tài liệu chính sử, sưu tầm điền dã, xác minh rõ tính danh của nhân vật được ghi.
CÁC TÀI LIỆU TRA CỨU
Tài liệu địa phương
Hiện nay tại dòng họ Nguyễn Đình thuộc làng Lam Vỹ xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa, cách khu mộ khoảng 2 km, còn giữ được một bản gia phả chữ Hán(2). Trong gia phả có ông Nguyễn Đình Hoán trùng khớp với tên tự, húy, thụy cũng như chức tước ghi trong bức "minh tinh". Nội dung như sau: Ông Nguyễn Đình Hoán lại có tên húy khác là Hoàn, tên chữ là Linh Thuyên, tên thụy là Trung Nghị, tước Hoán Quận công, gia phong Nghĩa khái Đại vương.
Ông là võ quan triều Lê Trung hưng, được giữ chức: Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, thượng trật, Tuyên lực Phụ quốc công thần, Chưởng đình quan, Chưởng phủ sự, Phụng thị Ngũ lão, Tham tụng, Đô đốc phủ, Tả Đô đốc, Thái phó rồi về trí sĩ. Sau đó triều đình lại triệu ra giúp việc nước, khởi phục cho ông chức Quốc sư, tước Hoán Quận công.
Lúc bấy giờ vào cuối đời vua Lê Hi Tông (1740) Dụ Tổ Thuận vương Trịnh Giang nắm quyền chính, bị loạn đảng Bảo Quận công (Hoàng Công Phụ) và Thực Quận công (Dương Trọng Liên) âm mưu khởi loạn. Ông được tin bèn vào tâu với Thái Từ Mục thân (mẹ chúa) rồi đem quân vào cứu giá. Khi vào đến nơi thì thấy chúa Trịnh Giang đã nằm bất tỉnh ở trong cung, ông tức giận giết hết cả loạn đảng, Quận Thực chạy trốn ra ngoài bị Tào Quận công(3) chém nốt. Việc yên, ông định lập Trịnh Doanh là em Trịnh Giang lên ngôi chúa. Song vì còn nhỏ, nên chúa sợ hãi không dám nhận. Ông nóng nảy quát to lên rằng “nếu ngài không đáng lên ngôi vị thì để tôi giết đi, sẽ lập người khác lên cho yên thiên hạ”. Bấy giờ Trịnh Doanh mới chịu lên ngôi chúa. Ít lâu sau có quan Đô đài Ngự sử là Nguyễn Đức Hoành đem việc đó tâu với chúa, ông cúi đầu nhận tội thì được chúa tha cho không bắt tội. Nhưng với lòng khí tiết ông xin tự nhận tội mình để cho nghiêm phép nước. Bất đắc dĩ chúa phải đòi ông vào vương phủ cho ăn yến rồi chịu tội chết. Chúa không nỡ giết nên mật truyền bỏ thuốc độc giả vào đồ ăn, do vậy ông ăn xong mà không chết.
Từ bấy trở đi, đã không thù oán, ông còn đề cử làm quan Ngự sử Nguyễn Đức Hoành thăng đến chức Thượng thư Bộ Hộ, vì thế quan Thượng thư cảm ân đức ấy bèn chép ông vào dã sử.
Ông mất ngày 16 tháng 10 năm Tân Mùi (1751)(4), triều đình cử quan đưa thi hài an táng tại xứ Đồng Nhuệ thôn Kiến Trung xã Vạn Hà phủ Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa(5), tọa Dậu hướng Mão. Lại gia phong là Đại Tư đồ, bao phong Phúc thần, các mĩ tự Cung ý Anh liệt, Cương nghị Hùng uy, Dũng đoán Anh dụ, Nghĩa khái Đại vương. Hàng năm cứ đến húy nhật, triều đình lại cử các quan về tế lễ.
Sinh thời ông có về nhập tịch ở thôn Kiến Trung xã Vạn Hà, tổng Mật Vật(6) là nơi có đất để mộ ông sau khi qui ẩn. Ồng có mua 5 sào đất giao cho dân làng cày cấy lo công việc về sau xuân thu tế tự. Tháng 3 niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831) có quan Tổng đốc Ninh Thái Nguyễn Đình Phổ là hậu duệ của ông cũng về thăm viếng mộ.
Tài liệu chính sử
Sách Lịch triều hiến chương loại chí(7) ghi rằng: ông là Nguyễn Đình Hoàn, người làng Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, tỉnh Hà Tĩnh(8). Vào cuối đời Vĩnh Hựu (1740) ông coi quân, làm Thị vệ trong phủ chúa. Bấy giờ Toàn vương Trịnh Giang bệnh nặng ở một chỗ kín, có bầy tôi yêu là Hiệp Quận công(9) (Hoàng Công Phụ) chuyên quyền, triều chính nát, ông cùng bọn giảng thần là Nguyễn Quí Cảnh, thân thần là Trương Khuông, Vũ Liễu bí mật bàn mưu lập chúa mới, tôn dựng em chúa lên ngôi. Đến ngày khai ấn ông rước em chúa đến triều, đốc các đội quân Tứ nghiêm, Tứ kính đeo kiếm, súng, giáo, đứng hầu, trong triều nghiêm túc. Các đại thần vâng chỉ vua khuyên lên ngôi nhưng em chúa vẫn chưa chịu, ông ôm lấy xốc nách đưa lên và sai tỳ tướng lên lầu nổi hiệu. Trăm quan đứng thành hàng lạy mừng. Ngôi chúa mới định, Minh vương Trịnh Doanh lên rồi sai ông đem quân bảo vệ cung thưởng trì, bắt đảng Hiệp giết đi, chốn triều đình cung cấm từ đó được yên lặng. Khi bàn đến công phò lập ông được phong Tuyên lực kiệt tiết công thần, tước Hoán Quận công. Sau này ông có công cùng chúa đem quân đi đánh giặc Ngân Già là giặc kiệt hiệt nhất ở vùng Sơn Nam, ông đi lối tắt, phóng lửa đốt, quân giặc thua to tan vỡ cả. Bình xong giặc ông được phong kim bài và thưởng 200 lạng bạc…
Năm sau, ông được thăng Đô đốc. Trong đời Cảnh Hưng lại được gia thăng Thái phó quyền Phủ sự rồi về hưu. Sau lại được triệu ra làm Ngũ lão hầu chúa. Đến năm thứ 26 (1765) ông chết. Ông là người có mưu lược, quyết đoán, phò chúa lên ngôi lớn, giúp việc quân, công lao danh vọng long trọng, chúa rất quyến luyến chú trọng, khi mất được truy tặng Thái tể, phong làm Phúc thần.
Sách Thanh Hóa tỉnh chí(10) ghi chép Nguyễn Đình Hoàn là con trai của Nguyễn Đình Quế, nguyên là người Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa tỉnh Hà Tĩnh sau mới chuyển đến ở xã Lam Vĩ huyện Thụy Nguyên. Cha ông là người phong tư hùng vĩ, sức mạnh hơn người, lỗi lạc và có trí lớn. Ông thường nói rằng: "người con trai mà không làm được công việc oanh liệt, chỉ làm một tên phu ở hương thôn, như thế là sống thừa mà thôi. Rồi ông từ bỏ làng xóm, đầu quân và luyện tập nghề võ, lấy việc đánh dẹp để lập thân. Giúp vua Lê đánh giặc có công, trải hơn 40 trận được phong Phụ quốc Thượng tướng quân, lúc mất tặng chức Thái bảo, tước Tường Quận công, ban tên thụy là Mỹ Dũng, gia phong làm Phúc thần Dũng lược Đại vương.(11)
Như vậy, qua nội dung ghi chép trên bức “minh tinh”, cùng những tư liệu chép trong gia phả họ Nguyễn Đình và các tài liệu chính sử, tuy có đôi chút không thống nhất về mặt thế thứ, các tình tiết lịch sử đương thời, song điều chắc chắn về tên tuổi, chức tước, địa danh ghi gia phả và tài liệu khác hoàn toàn phù hợp với nội dung bức “minh tinh” đã ghi. Chủ nhân của ngôi mộ là ông Hoán Quận công Nguyễn Đình Hoàn thuộc dòng họ Nguyễn Đình ở làng Lam Vĩ xã Thiệu Vũ huyện Thiệu Hóa. Ông là người có công đưa chúa Trịnh Doanh lên ngôi, và là một trong những công thần bậc nhất triều Lê Trung hưng lúc đương thời. Đánh giá về sự anh hiển của ông và cả dòng họ này, xưa kia Đạm Trai tiên sinh Nhữ Bá Sĩ đã nhận xét trong sách Thanh Hóa tỉnh chí(12) như sau: Họ này có bốn Quận công, hai Quốc sư kiêm chức phò Ngự giá, các nhà quan võ nước ta chưa có họ nào hiển hách thịnh vượng như họ này. Hiện nay viên Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ là cháu 4 đời của Đình Quế.
Chú thích:
1- Ở Thanh Hóa đã tìm thấy trên 10 ngôi mộ thuộc loại này như: mộ Lê Dụ Tông ở làng Bàn Thạch xã Xuân Quang huyện Thọ Xuân, mộ Nguyễn Thị Ngọc Bảo vợ Trịnh Kiểm ở xã Hà Long huyện Hà Trung, mộ Nguyễn Thị Danh và Nguyễn Thị Vịnh phi tần của Trịnh Tùng ở Cầu Vàng xã Yên Thịnh huyện Yên Định.
2- Gia phả do Tú tài Nguyễn Đình Tham sau đổi Văn Hanh soạn vào niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1841) và được Nguyễn Đình Địch sao lại năm Quí Dậu niên hiệu Bảo Đại thứ 8 (1933).
3- Tào Quận công: theo gia phả, ông là em trai của Nguyễn Đình Hoàn, tên là Nguyễn Đình Quán, giữ chức Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Thượng trật Tuyên lực công thần, Quyền phủ sự, Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Đại tư mã rồi về trí sĩ. Sau khi mất được gia phong Vĩ liệt Đại vương, bao phong Phúc thần. Mộ ở xứ Làng Chùa thuộc xã Lan Khai, tổng Phù Chẩn, phủ Thiệu Hóa. Nay mộ vẫn còn ở xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa.
4- Lịch triều hiến chương loại chí, Viện Sử học, Quan chức chí, Nxb. Sử học, H. 1991, tr.283, ghi ông mất vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 (1765) tức là năm Ất Dậu.
5- Nay là thôn Kiến Trung thị trấn Vạn Hà huyện Thiệu Hóa, người dân vùng này vẫn gọi đấy là cồn Mả Hoán.
6- Nay là Tiểu khu 9 thị trấn Vạn Hà huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa.
7- Lịch triều hiến chương loại chí. Sđd, tr.283.
8- Theo tổng hợp của dòng tộc họ Nguyễn Đình thì ngày nay tỉnh Hà Tĩnh có 9 huyện có con cháu họ Nguyễn Đình sinh sống, như ở huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Hương Khê, Can Lộc, Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang và Nghi Xuân.
9- Hiệp Quận công, gia phả ghi là Bảo Quận công (Hoàng Công Phụ).
10- Thanh Hóa tỉnh chí, bản dịch đánh máy, ký hiệu D191 Thư viện Viện Văn học Hà Nội.
11- Theo gia phả: Ông có tên húy là Đình Nước, lại có tên húy khác là Đình Quế, tên chữ là Mẫn Trinh, tên thụy là Nghĩa Dũng. Được ban chức Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Hữu uy cơ, cai cơ, Đô đốc phủ, Tả Đô đốc đồng tri, Chánh thủ hiệu, Cẩm Y vệ, Chưởng vệ sự, Quốc sư, Thái bảo Tường Quận công. Ông là con trai trưởng của Đô đốc chỉ huy Thiêm sự Trí Võ hầu Nguyễn Đình Trí và cháu nội của Hoàng giáp Nguyễn Hoàng Từ thuộc dòng dõi khai quốc công thần Cương quốc công Nguyễn Xí. Phả còn ghi rõ ông Đình Trí là người di cư ra xã Lam Vĩ, huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa, sinh ra ông Tường Quận công Nguyễn Đình Quế. Tường Quận công sinh ra Dương võ đại vương Hàn Quận công, tên húy là Trực (sau này được ban thực ấp ở làng Quán La phủ Hoài Đức, nay thuộc quận Tây Hồ - Hà Nội). Tường Quận công sinh ra Hoán Quận công Nguyễn Đình Hoàn và người em là Tào Quận công. Ngày nay ngôi mộ Tường Quận công vẫn còn trên địa phận đất làng Lam Vĩ xã Thiệu Vũ huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa.
12. Thanh Hóa tỉnh chí, Sđd./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 72-76)