Tìm thấy một cuốn sách địa chí cổ có giá trị ở huyện Định Hóa (Thái Nguyên) (Tạp chí Hán Nôm, số 2 (117) 2013 (tr.80 -82)
TÌM THẤY MỘT CUỐN SÁCH ĐỊA CHÍ CỔ CÓ GIÁ TRỊ Ở
HUYỆN ĐỊNH HÓA (THÁI NGUYÊN)
NGUYỄN ĐÌNH HƯNG
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên.
Ngành văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Thái Nguyên vừa phát hiện được một số sách cổ ở huyện Định Hóa, trong đó có một cuốn viết về địa chí của nước ta. Đó là sách của gia đình cụ Hoàng Văn Thượng, dân tộc Kinh ở xóm Bản Cái, xã Thanh Định trong huyện.
Sách có kích thước 30x15cm, ngoài bọc bìa đỏ, trong có 75 tờ (a và b) tương đương với 150 trang giấy dó cổ. Mỗi trang được trình bày 10 dòng chữ Hán Nôm, chữ viết đẹp. Nhan đề sách ghi ở bìa là Cao Biền phụng thư (sách ghi chép địa lý theo cách của Cao Biền), trang đầu lại ghi Cao Biền phụng thư quyển chi nhất.
Đây là sách được viết bằng chữ Hán chữ Nôm còn khá tốt, chữ viết đẹp, trình bày rõ ràng. Nội dung sách ghi chép địa chí của 4 xứ (có chỗ gọi là đạo) nước ta thuộc khu vực quanh kinh thành Thăng Long xưa là: Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương và Sơn Nam. Có thể nói, cuốn sách được chia làm 4 phần: phần 1 giới thiệu về đặc điểm, dựng đặt và diên cách của các đơn vị hành chính; phần 2 đề vịnh phong cảnh, nhân vật, phong tục của địa phương; phần 3 là bản đồ và các chú giải; phần 4 ghi lời bàn của tác giả và niên đại cuốn sách là Lê triều Bảo Thái vạn vạn niên Tân Sửu lương nguyệt cốc nhật (sách chép vào đời vua Lê Bảo Thái năm Tân Sửu (1721).
Mở đầu cuốn sách tác giả (khuyết danh) viết:
"Đường Ý Tông chi thời, tính hữu An Nam chi địa, trực vi quận, huyện đế tư cập Triệu Đà bổ đế nãi mệnh thái sử Cao Biền vi An Nam đô hộ. Biền vãng An Nam đế triệu nhập sứ điện vị viết: "Công dữ địa lý tối đắc tinh thiểu, trẫm khai An Nam đã hữu thiên tử quý địa công đương dụng lực yếm chi tam chân ngôn hình mạo trẫm thường đắc sử quản hiền". Biền chí An Nam sở át đa sơn, đại xuyên thư giai yếm chi Biền tác phụng thư truyền duy Tản Viên sơn tối linh Biền yếm bất đắc cố đắc trợ sở hữu phụng thư gian liệt vu hữu Giao Châu đô hộ thần Biền ký".
Cuốn sách chữ Hán, Nôm cổ Cao Biền phụng thư này là một tài liệu viết
về địa chí nước ta. Tuy ở bên ngoài tác giả có đặt cho cái tên Cao Biền phụng thư, nhưng thực chất nội dung của sách là ghi chép về địa chí nhân văn nước ta để chống lại phép yểm bùa mê tín của Cao Biền(2). Bởi xung quanh chuyện "lẩy bẩy như Cao Biền dậy non" (ý nói chỉ những người chân yếu tay mềm, run rẩy) đã có nhiều người bàn, chúng ta có thể tham khảo sách Đại Việt sử ký toàn thư (tập I), Việt sử lược và một loạt các chuyện dân gian trong Nam ngoài Bắc nước ta nói chuyện Cao Biền dùng pháp thuật trấn, yểm diệt long mạch. Trong cuốn sách tác giả đã liệt kê ra từng xứ tiêu biểu trong nước, ở mỗi xứ có thế đất địa linh sinh nhân kiệt, có danh lam thắng cảnh, có nhiều núi cao, sông lớn (đa sơn, đại xuyên), trong từng vùng đất ấy có nhiều bậc tài danh: "một thuyền Bảng nhãn, một bị Trạng nguyên" và con người ấy như con ong làm mật yêu hoa, đem tài trí cống hiến cho đời.
Tại phần 1 và 2 của cuốn sách tác giả đã chọn xứ Kinh Bắc (tục gọi là xứ Bắc) để chép đầu tiên, gồm có 19 huyện là: Hỷ Lâm, Gia Lâm, Lương Tài, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định, Quế Dương, Đông Ngàn, Tiên Du, Yên Phong, Vũ Giang, Tân Phúc (nay một phần thuộc huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên), huyện Kim Hoa, Hiệp Hòa, Yên Việt, Phượng Nhỡn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Yên Thế. Cuốn sách chép những thông tin có ý nghĩa đối chiếu, so sánh, ví dụ ngoài phần đã chép xứ Kinh Bắc, lại chép thêm phần đạo Kinh Bắc. Trong đó, tác giả mô tả hình sông, thế núi của từng địa phương, lại đề vịnh dưới dạng văn thơ về phong cảnh, danh lam, nhân vật có giá trị nghiên cứu về địa chí và văn học. Ví dụ như phần chép đạo Kinh Bắc có phủ Thuận An có huyện Gia Lâm có sông Thiên Đức (tức sông Đuống), vùng đất có nhiều người đỗ đạt, huyện Gia Lâm, tác giả lại vịnh 8 câu văn vần, huyện Lương Tài vịnh 10 câu, huyện Siêu Loại vịnh 4 câu; Văn Giang vịnh 12 câu; huyện Gia Định vịnh 6 câu; phủ Từ Sơn có huyện Quế Dương vịnh 6 câu; huyện Đông Ngàn vịnh 8 câu; huyện Tiên Du vịnh 4 câu; huyện Yên Phong vịnh 8 câu; huyện Vũ Ninh vịnh 6 câu; phủ Bắc Hà có huyện Tiên Phúc (trong đó 1 phần huyện Phổ Yên ngày nay) vịnh 6 câu; huyện Kim Hoa vịnh 4 câu, huyện Hiệp Hòa vịnh 6 câu, huyện Yên Việt vịnh 2 câu, phủ Lạng Giang, huyện Phượng Nhỡn vịnh 6 câu, huyện Hữu Lũng vịnh 4 câu, huyện Yên Dũng vịnh 4 câu, huyện Yên Thế vịnh 4 câu, huyện Lục Ngạn vịnh 4 câu.
Xứ Sơn Tây chép gồm 5 huyện là: Từ Liêm, Yên Lãng, An Lạc, Bạch Hạc, Lập Thạch.
Xứ Hải Dương (tục gọi là xứ Đông) chép 15 huyện là: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giang, Gia Phúc, Vĩnh Lại, Thanh Lâm, Chí Linh, Thanh Hà, Tân Minh, Hiệp Sơn, Đông Triều, An Lão, Thủy Đường, Nghi Dương, An Dương.
Xứ Sơn Nam chép 8 huyện là: Thanh Trì, Thượng Phúc, Thanh Oai, Càn Đức, Thanh Liêm, Thiên Bản, (Dục) Thủy, Đông Viện. Cũng tương tự như ở phần đạo Kinh Bắc, ở mỗi địa phương, tác giả vừa ghi chép bằng lời văn, sau đó lại có đề vịnh phong cảnh hình sông, thế núi, phong tục, nhân vật của từng huyện.
Việc chép địa chí từ xưa chúng ta đã thấy có nhiều sách nổi tiếng như sách An Nam chí lược của Trần Ích Tắc, Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (thế kỷ XVIII), Đại Nam nhất thống chí, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu dư địa chí (thế kỷ XIX)… đều có về vị trí, địa lý, hình sông thế núi, cương vực, diên cách, dựng đặt của từng xứ, từ xưa đến thời tác giả đương đại nhưng chép địa chí mà có cả lời vịnh cảnh quan, danh thắng nhân vật của từng địa phương thì cũng ít người để lại trước tác.
Cuốn sách cổ mới tìm thấy này ở huyện Định Hóa - vùng chiến khu Việt Bắc cũ cho chúng ta thất đây là một bằng chứng về du nhập văn hóa của người dân tộc Kinh (từ miền xuôi lên miền núi) giúp chúng ta nhận diện một cách ngẫu nhiên, có con người, tất có sản phẩm văn hóa tinh thần. Và sản phẩm tinh thần ấy là di sản mà cha ông ta đã để lại. Cụ thể như cuốn sách địa chí này, ngoài việc tác giả thể hiện bằng chữ viết là chữ Hán, Nôm có ý nghĩa giúp chúng ta nghiên cứu về thư pháp chữ Hán thời hậu Lê - một thời văn hóa phát triển - đặc biệt là văn hóa văn chương bác học và văn học dân gian. Trong cuốn sách còn có nhiều sơ đồ, hình vẽ minh họa về địa hình thể hiện quan niệm bình đồ địa lý của đất nước ta. Mặt khác nhiều vùng tác giả mô tả, đề vịnh dưới dạng văn thơ có giá trị nghiên cứu về địa chí và văn học. Đề nghị cơ quan chức năng sưu tầm để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học.
Chú thích:
(1) Tại gia đình cụ Hoàng Văn Thượng ở xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi còn tìm thấy một số cuốn sách cổ như:
- Tứ địa tổ sư (xem phong thủy, tả ao) sách chữ Hán chép thời Nguyễn.
- Địa lý gia truyền quốc ngữ ca, chữ Hán chép thời Nguyễn
- Công văn, Phó ý, chữ Hán, sách dùng trong việc tang ma.
(2) Xem thêm - Cao Biền, bùa chú và sự thật - Trung tâm lý học Phương Đông - Tp. HCM- Vietimes. Vietnamnet.net.vn. Trong chính sử của người Việt viết về Cao Biền (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb. KHXH, H. 1993): Cao Biền tự là Thiên Lý, cháu của Nam Bình Quận vương Cao Sùng Văn dưới thời vua Đường. Thuở nhỏ, Cao Biền học giỏi, chăm chú luyện kiếm bắn cung. Cao Biền có tài bắn cung xuyên đôi ngỗng đang bay trên trời, được người đời coi là bậc kỳ tài. Cao Biền được cử làm Tiết Độ sứ Giao Châu (tên gọi của nước ta lúc bấy giờ) thay cho Trương Nhân bị mất chức vì không dẹp được trộm cướp ở khu vực này. Sau khi đã bình định xong Giao Châu, Cao Biền cho xây thành Đại La để tập trung quyền lực về một mối. Theo Việt sử lược: Thành Đại La được xây dựng vào thế kỷ thứ 7 có tên là Tống Bình. Vua Mục Tông nhà Đường dùng Nguyên Hỷ làm quan Đô hộ. Nguyên Hỷ thấy cửa thành có dòng nước ngược sợ dân ở thành có ý đồ phản nghịch liền sai thầy bói gieo một quẻ. Thầy bói nói rằng: sức ông không đủ bồi đắp thành lớn, 50 năm sau sẽ có một người họ Cao đóng đô tại đây và xây dựng vương phủ.
Quả đúng thế, tới vua Đường Y Tôn (841-873), Cao Biền được cử sang đất Việt làm Tiết Độ sứ. Cao Biền vốn là một người rất giỏi, đa hiệu: vừa là tướng, vừa là đạo sĩ, vừa là phù thủy lại vừa là nhà phong thủy có tài. La Thành được Cao Biền sửa chữa, chỉnh đốn vào những năm 866, 867, 868.
Một số tài liệu khác lại cho hay Cao Biền là người nghiêm khắc, lạm dụng hình phạt, lạm sát cả người vô tội. Năm 879, quân đội của Hoàng Sào từ bờ nam sông Hoàng Hà tiến về phía Tây, triều đình nhà Đường điều Cao Biền đến làm Hải quân Tiết độ sứ (ở trấn Giang, Giang Tô ngày nay). Quân Hoàng Sào ngày càng hung hãn khiến Cao Biền khiếp sợ. Khi quân Hoàng Sào tiến vào Trường An, Đường Hi Tông khẩn cấp điều Cao Biền đem quân cứu giá, nhưng Cao Biền không tuân lệnh của vua Đường, dù đang có binh lực trên 10.000 mà lại cát cứ một phương. Năm Trung Hòa thứ 2 (882), nhà Đường bãi miễn Cao Biền.
Về già, Cao Biền tin vào phép thuật thần tiên, trọng dụng thuật sĩ hòng làm người ly tán, tướng cai quân Hoài - Nam là Tất Sư Đạc rất lo sợ. Năm Trung Hòa thứ 5 (885), Cao Biền tạo phản. Năm Quang Khải thứ 3 (887) Cao Biền bị bắt làm tù nhân và bị giết.
(Tạp chí Hán Nôm, số 2 (117) 2013 (tr.80-82)
Tải về nội dung chi tiết tại đây: pdf_2265.pdf