Tiếp thụ ý kiến phê bình của TS Nguyễn Đình Phức (Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (86) 2008; Tr.76-77)
TIẾP THỤ Ý KIẾN PHÊ BÌNH CỦA TS. NGUYỄN ĐÌNH PHỨC
NGUYỄN ĐĂNG NA
PGS.TS. Đại học Sư phạm Hà Nội
Trước hết, tôi rất cảm ơn TS. Nguyễn Đình Phức đã dầy công viết bài "Về bài viết: Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa Nguyên thi thảo "…" mà tôi đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 3 năm 2005. Trong bài viết của mình, TS. Nguyễn Đình Phức đã chỉ ra những điều tôi công bố chưa chính xác hoặc không có căn cứ… Tôi nghĩ, chỉ ra những thiếu sót trong khoa học là việc làm cần thiết và lành mạnh để đưa khoa học tiến lên. Những thiếu sót, những sai lầm trong các công trình, trong những bài nghiên cứu,… theo tôi, chúng như những vết trên khuôn mặt người cầm bút; nếu được người khác chỉ ra để lau sạch đi, mặt mình sẽ sáng sủa hơn. Đó chẳng phải là niềm vui hay sao? Hơn nữa, đã thiếu sót, sai lầm… thì nhất định sẽ có người phát hiện ra, hoặc hôm nay, hoặc ngày mai… Cho nên, càng được phát hiện sớm càng tốt. Với tinh thần đó, tôi viết bài Tiếp thụ ý kiến phê bình này.
Tôi xin không tổng thuật lại nội dung bài của TS. Nguyễn Đình Phức vì, bài đã đăng ở trên. Vả chăng, do thiên kiến và chủ quan, chắc gì đã tổng thuật đầy đủ nội dung bài viết của người khác.
Viết "Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa Nguyên thi thảo" tôi chỉ nhằm mục đích đơn giản và nhỏ bé là giới thiệu: ngoài sáng tác thơ ca, Nguyễn Du còn bình thơ. Khi giới thiệu lời bình thơ của Nguyễn Du, trong tay tôi chỉ có bản chụp Hoa Nguyên thi thảo đóng gộp cùng Thập Anh đường thi tập mang kí hiệu A.779. Đúng như TS. Nguyễn Đình Phức nhận xét: "tiếc là (Nguyễn Đăng Na) chưa cung cấp nguồn gốc bản khắc và thông tin về tình hình cất giữ của văn bản,…". Thú thực, khi đó tôi chưa đọc Cấn Trai quan quang tập và Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức. Hơn nữa, do chức năng và tính chất của Tạp chí Nghiên cứu Văn học, tôi chủ yếu chỉ đưa ra một thông tin còn khảo sát văn bản tôi ít chú ý tới.
Nghiên cứu văn bản có hai cách: thiết chứng và bàng chứng. Bài viết của tôi trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học chủ yếu theo phương pháp bàng chứng. Đúng như TS. Nguyễn Đình Phức nhận xét: tôi phần nhiều chỉ "đưa ra những phán đoán". Vì là "phán đoán", nên tôi viết dặt dè mà TS. Nguyễn Đình Phức cũng nhận thấy và trích dẫn: "Cấn Trai thứ hai này có thể là….", Thập Anh Đường thi tập "được in sớm nhất vào năm hoàn thành bài tựa cuối cùng,…". Theo tôi, khi chưa có tài liệu đầy đủ trong tay, người viết chỉ nên dừng ở mức độ giả thiết như vậy thôi. Phán đoán chỉ là "phán đoán"; có thể cũng chỉ là "có thể". Những phán đoán và có thể này chỉ trở thành chân lí khi có đủ cứ liệu xác thực. Nay may mắn, TS. Nguyễn Đình Phức có tư liệu đầy đủ, phong phú văn bản Hoa Nguyên thi thảo, Thập Anh Đường thi tập và những tác phẩm liên quan để chứng minh rằng, chỉ có một Cấn Trai và Thập Anh Đường thi tập cũng như Hoa Nguyên thi thảo ra đời năm 1822. Vậy là, phán đoán của tôi sai. Tôi rất cảm ơn TS. Nguyễn Đình Phức. Sau này, nếu có dịp in lại bài viết của mình, tôi sẽ chỉnh lại và đương nhiên tôi sẽ sòng phẳng ghi tên tuổi và lời cảm ơn người có công chỉ ra kết quả này. Tuy nhiên, bởi dùng phương pháp bàng chứng nên tôi phải tìm dấu vết còn lại trên văn bản Thập Anh Đường thi tập để "phỏng đoán" thời điểm có khả năng tác phẩm ra đời. Một trong những căn cứ là, lạc khoản ghi trên bài tựa mặc dù đúng như TS. Nguyễn Đình Phức nhận xét "trong bài tựa này hoàn toàn không đề cập đến vấn đề khắc in" và văn bản Thập Anh Đường thi tập "không đề cập đến bất cứ khía cạnh nào liên quan đến thời điểm khắc in". Giả thiết của tôi cũng đã được TS. Nguyễn Đình Phức trích dẫn đầy đủ: "tác phẩm được in sớm nhất vào năm hoàn thành bài tựa cuối cùng… 1811". Có lẽ TS. Nguyễn Đình Phức tưởng giả thiết kia là kết luận của tôi nên khẳng định nó "hoàn toàn không có căn cứ". Nếu vậy, âu cũng bởi tôi diễn đạt chưa rành mạch. Diễn đạt để người đọc hiểu nhầm là lỗi của người cầm bút. Tôi xin ghi nhận điều đó để cẩn thận hơn mỗi khi hạ bút.
Khi dịch Hán ngữ cổ đại, nghĩa của câu phụ thuộc vào cách ngắt câu. Ngắt câu thế nào sẽ hiểu nghĩa của nó thế ấy. Đây là vấn đề thường xuyên xảy ra và tạo thành nhiều cuộc tranh luận kéo dài không chỉ riêng ở Việt Nam. Dịch lời nhận định, bình giá… bất cứ một tác phẩm văn học nào càng khó hơn. Giá như biết trước nội dung tác phẩm được bình, được luận… kia, ta sẽ có những định hướng cách hiểu để dịch. TS. Nguyễn Đình Phức có đầy đủ tư liệu về Trần Tung cùng bài thơ Đăng Hoàng Hạc lâu của ông, nên tôi tin rằng, cách ngắt câu và dịch của Tiến sĩ có thể chuẩn hơn, hợp lí hơn tôi. Một số khái niệm như “tiêm tân”, “chỉnh hạ”, “đường phiên”... tuy chưa kiểm tra lại, nhưng tôi hoàn toàn tin rằng TS. Nguyễn Đình Phức nói đúng. Tôi coi đây như những gợi ý về cách hiểu để tôi tiếp tục suy nghĩ thêm. Riêng cụm từ "hậu đầu bình phong" thì quả thật tôi không biết đấy là tấm "bình phong ở sau mộ". Mọi người có thể cười tôi, nhưng đó là sự thực. Nhiều khi mắc những lỗi hết sức ngớ ngẩn và giản đơn. Rất cảm ơn sự chỉ dẫn này của TS. Nguyễn Đình Phức.
Ngoài ra, một số tư liệu bổ sung về nội dung, về tác giả, về số lượng bài thơ của Lê Quang Định… mà TS. Nguyễn Đình Phức đã cung cấp, xin ghi nhận công lao của Tiến sĩ.
Để kết thúc bài viết, một lần nữa tôi xin cảm ơn sự góp ý công phu và chí tình của TS. Nguyễn Đình Phức.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (86) 2008; Tr.76-77)