Những thác bản văn khắc nước ngoài tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 58-67)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 58-67)
NHỮNG THÁC BẢN VĂN KHẮC NƯỚC NGOÀI TẠI
THƯ VIỆN VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
NGUYỄN VĂN NGUYÊN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trước nay học giới nước ta vẫn thường nói đến vấn đề tài liệu văn hiến cổ Hán Nôm của Việt Nam lưu lạc tại nước ngoài. Đã có những cuộc điều tra, sưu tầm được tiến hành nhằm tìm cách đưa về những di sản quí giá bị thất lạc đó để phục vụ cho nghiên cứu trong nước. Nhưng từ phía ngược lại, ít khi thấy đề cập tới chuyện tài liệu cổ của nước ngoài lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ngoại trừ một số sách vở được coi là của Trung Quốc hoặc in, chép lại từ sách Trung Quốc mang kí hiệu Hv của Thư viện Viện này, song chưa thấy được biên mục giới thiệu. Đối với bộ phận kho thác bản văn khắc càng không ai nghĩ rằng có thể có tài liệu văn khắc nước ngoài lọt vào đấy, vì cho rằng ở đó chỉ bao gồm những thác bản văn khắc Hán Nôm có được qua hai đợt sưu tầm lớn trong cả nước do EFEO và Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện mà thôi. Sự thực không hoàn toàn như vậy. Điều tra của chúng tôi cho thấy tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có lưu trữ những thác bản văn khắc của nước ngoài với số lượng đáng kể, và qua sơ bộ tìm hiểu đã phát hiện ra ở chúng những giá trị khoa học rất quí giá.
Đó là bộ phận thác bản vẫn được gọi là “bia Chăm”, chắc vì thế mà khác với những thác bản văn khắc Hán Nôm thông thường, chúng được đặt kí hiệu thêm hai chữ cái BC ở trước số thứ tự. Toàn bộ số thác bản này đều do học giả người Pháp sưu tầm từ lâu, ít nhất là trước khi thực dân Pháp dời khỏi Việt Nam. Vì đây là văn bia Chăm, nên tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng như trong nước hiện có rất ít người đọc được loại văn tự này, kể từ sau khi tiếp nhận về thư viện, số thác bản này không được mấy ai để ý tới. Những lần biên soạn thư mục văn bia trước đây, mảng bia Chăm cũng chưa từng được đề cập tới. Có lẽ ngoại trừ lần kiểm kê của phòng Bảo quản ra, số thác bản này vẫn im lìm nằm ở trong kho sách hàng mấy chục năm, hầu như chưa được nhà nghiên cứu nào tiếp cận. Cho đến năm 2007, khi tiến hành công trình số hóa thác bản, bộ phận tài liệu này mới được đem ra chụp ảnh. Và thông qua những tấm ảnh số, chúng tôi mới có dịp tìm hiểu về số thác bản đặc biệt này.
Tất cả gồm có 439 bản được đánh số kí hiệu từ BC1 đến BC434, nhưng thực tế chỉ có 436 thác bản, vì trong đó có 3 bản là tranh và hình vẽ bằng bút. Xem vào phương thức thể hiện của chúng sẽ thấy ngay là trong đó không chỉ có văn bản viết bằng chữ Chăm (chữ Khơ Me) mà còn bởi một số loại văn tự khác nữa như chữ Thái, chữ Phags-pa, chữ Hán v.v… Vì chỉ đọc được chữ Hán nên chúng tôi trước hết tìm hiểu từ những văn bản chữ Hán này.
Thác bản đầu tiên chúng tôi xem xét (kí hiệu BC130) là của một tấm bia có 2 chữ tiêu đề 聖旨Thánh chỉ, tức là một chỉ dụ của Hoàng đế. Đây là một tấm bia đặc biệt, từ nhiều phương diện có những điểm rất khác lạ so với bia Hán Nôm của ta. Văn bản chia thành hai bộ phận trên và dưới, thể hiện bằng hai loại hình văn tự khác nhau. Cả hai phần chữ tuy cùng được khắc theo chiều cột dọc, nhưng ở phần trên (gồm 24 hàng) là một thứ văn tự rất lạ mà chúng tôi chưa từng được gặp, vì thế đương nhiên không tìm được thông tin gì ở đây. Còn phần dưới là 26 hàng chữ Hán. Nhưng ngay ở bộ phận văn tự tưởng như quen thuộc này chúng tôi cũng vấp phải những khó khăn.
Trước hết là về niên đại của bia. Tại đoạn đề ngày tháng ở dòng cuối văn bản thấy ghi là: 虎兒年四月十五日Hổ Nhi niên tứ nguyệt thập ngũ nhật. Tra cứu trong những sách vở công cụ thông thường, chúng tôi không thể tìm ra triều đại cổ kim nào ở Việt Nam, Trung Quốc hoặc các quốc gia lân cận có mang niên hiệu là Hổ Nhi. Đến phần chính văn của văn bia, tuy chỉ có trên 300 chữ và hoàn toàn có thể nhận diện được hầu hết mặt chữ trong văn bia, nhưng cách dùng từ cũng như thể thức văn phong ở đây vô cùng lạ lẫm. Chả lẽ đây lại là một thứ văn tự mượn hình chữ Hán giống như chữ Nôm của ta hay sao. Xin trích ra toàn bộ phần Hán văn đó như sau:
聖旨
長生天氣力裏, 大福廕護助裏, 皇帝聖旨。
軍官每根底, 軍人每根底, 管城子的達魯花赤官人每根底, 過往的使臣每根底, 宣諭的聖旨。
成吉思皇帝,月闊皇帝, 薛禪皇帝,完者篤皇帝, 曲律皇帝聖旨裏, 和尚,也里可溫, 先生每, 不揀甚麼差發不著, 告天祝延聖壽者麼道有來。如今,依著在先聖旨躰例裏, 不揀甚麼差發不著, 告天祝延聖壽者麼道。屬真定路的元氏縣裏有的開化寺裏住持通濟英辯大師, 講主堅吉祥演法顯密大師,講主詮吉祥為頭兒和尚每根底, 赍把行的聖旨與了也。這的每寺院房舍裏, 使臣休安下者, 鋪馬祇應休要者, 地稅商稅休與者。但屬寺家的水土, 園林, 碾磨, 店鋪席, 浴堂, 解典庫, 人口頭疋,不揀甚麼他每的。有呵不揀阿誰, 休扯拽奪要者, 休使氣力者。更這和尚每有聖旨麼道, 無躰例勾當。做呵,不怕那甚麼. 聖旨俺的。
虎兒年四月十五日。大都有時分寫來。
Mặc dù đã vận dụng những kiến thức vốn có của mình về chữ Hán cổ cũng như Trung văn hiện đại, chúng tôi vẫn không thể nắm bắt được đại lược ý nghĩa của văn bia này ra sao. Lại ra sức tra cứu tìm tòi, cuối cùng chúng tôi cũng tìm thấy một vài công trình nghiên cứu liên quan của các nhà khoa học nước ngoài(1) mà nhờ đó mới hiểu được nội dung văn bản này. Hóa ra đây là một Chỉ dụ của Nhân Tông Hoàng đế (1311-1320) nhà Nguyên được ban hành vào năm 1314, tương đương niên hiệu Diên Hựu nguyên niên của triều đại này. Nhà Nguyên - Mông từ thời Thái Tổ Thành Cát Tư Hãn có tập quán ghi năm thông qua con giáp của năm đó. Năm đầu của niên hiệu Diên Hựu triều Nguyên Nhân Tông là năm Dần (Giáp Dần), mang biểu tượng là năm con hổ nên dòng niên đại bia này ghi là Hổ nhi niên. Nguyên văn của Chỉ dụ được khắc đồng thời trên bia bằng hai thứ văn tự ngôn ngữ khác nhau. Phần trên là chữ Phags-pa, loại văn tự mang tên người sáng tạo ra nó vào thời Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt, được vị Hoàng đế này hạ chiếu lấy đó làm thể chữ thống nhất của tiếng Mông cổ. Tuy nhiên sau đó thứ văn tự thông dụng trong triều đại nhà Nguyên tại Trung Quốc lại là chữ Hán, chữ Phags-pa chủ yếu chỉ dùng để ghi âm tiếng Hán mà thôi. Vì thế bộ phận phía dưới bia được khắc thêm phần chữ Hán. Thế nhưng ngôn ngữ sử dụng trong phần dịch ra Hán văn này lại là thứ ngôn ngữ Hán văn bạch thoại đương thời. Đây không phải là một trường hợp cá biệt, mà việc sử dụng bạch thoại vào công văn hành chính là hiện tượng khá phổ biến vào triều nhà Nguyên. Ngôn ngữ bạch thoại, tức là lời ăn tiếng nói trong dân gian có khác với văn ngôn, nó phát triển và biến đổi liên tục theo thời đại chứ không được cố định hóa trong văn bản và tiêu chuẩn hóa bởi từ thư như đối với văn ngôn. Chính vì thế sau này, những văn bản tương tự viết bằng Hán bạch thoại của đời Nguyên đã trở nên rất khó giải mã ngay cả đối với những người Trung Quốc đời Minh, Thanh cho tới thời hiện đại. Chỉ khi các nhà chuyên gia ngôn ngữ đi sâu nghiên cứu, đồng thời kết hợp đối chiếu với ý nghĩa của nguyên văn chữ Phags-pa vấn đề mới dần được giải quyết. Với sự chỉ dẫn của các chuyên gia đó, chúng tôi cũng đã thâm nhập được vào nội dung văn bia này để tạm đưa ra một bản dịch quốc ngữ của văn bia này như sau:
Thánh chỉ
Cõi trời trường sinh truyền cho khí lực, phúc trạch to lớn che chở hộ trì. Nay Hoàng đế ban ra Thánh chỉ1.
Các viên quan quân đội, các quân nhân, các viên trấn quan Đạt lỗ hoa xích2 cai quản các thành sở tại cùng các viên sứ thần vâng mệnh đi qua đây hãy đón nhận tuyên dụ Thánh chỉ.
Thành Cát Tư Hoàng đế3 Nguyệt Khoát Đãi Hoàng đế4, Tiết Thiền Hoàng đế5, Hoàn Giả Đốc Hoàng đế6, Khúc Luật Hoàng đế7 đã từng ban bố Thánh chỉ nói rằng, đối với các vị Hòa thượng Phật giáo, các tín đồ Cảnh giáo, tín đồ Hồi giáo, không được sai bắt thực hiện bất cứ thứ phu phen tạp dịch nào, để cho họ cầu khấn trời kéo dài thọ mệnh cho nhà vua và triều đình. Nay tuân theo thể lệ qui định đó trong Chỉ dụ của các Tiên đế, đối với họ vẫn không được sai bắt thực hiện bất cứ thứ phu phen tạp dịch nào, để cho họ cầu khấn trời kéo dài thọ mệnh cho nhà vua và triều đình. Thánh chỉ này đã được ban trao cho các vị sư Trụ trì Thông Tế Anh Biện Đại sư, Giảng chủ Kiên Cát tường Diễn pháp Hiển mật Đại sư, Giảng chủ Thuyên Cát tường Đầu nhi Hòa thượng ở chùa Khai Hóa tại huyện Nguyên Thị thuộc lộ Chân Định8 nhận giữ thi hành. Nhà cửa tự viện của họ, các Sứ thần không được tới ở lại, ngựa của họ không phải trưng dụng cho dịch trạm, các khoản thuế đất, thuế hàng hóa không phải trưng nộp. Tài sản thuộc nhà chùa như đất đai, sông hồ, vườn tược, rừng cây, cối xay, điếm sở, nhà tắm rửa, kho chứa, gia nhân, bất kể là ai, thuộc hạng người nào cũng đều không được cưỡng đoạt, không được cậy thế yêu sách đòi hỏi. Còn các Hòa thượng đó, đã nhận được Thánh chỉ rồi thì không được làm những việc vi phạm thể lệ phép tắc. Nếu kẻ nào cứ cố tình vi phạm, há không biết sợ tội hay sao. Ta nay ban Thánh chỉ9.
Thánh chỉ soạn tại Đại đô ngày 15 tháng 4 năm con Hổ [Giáp Dần, 1314]”.
Cước chú:
1. Người Mông Cổ sùng bái Trường sinh thiên, luôn cầu mong và tin tưởng vào sự che chở của cõi trời trường sinh bất tử đó. Câu này thường dùng ở đầu văn bản chiếu chỉ của vua Nguyên, tương tự như câu “Đại thiên hành hóa, Hoàng thượng chiếu viết” ở chiếu sắc văn ngôn.
2. Đạt lỗ hoa xích: dịch âm tiếng Mông, chỉ chức quan trấn thủ các châu, huyện.
3. Thành Cát Tư Hoàng đế: tức Nguyên Thái tổ Temujin, tại vị 1206-1227.
4. Nguyệt Khoát Đãi Hoàng đế: trên một số văn bản khác còn gọi là Oa Khoát Đài, Nguyệt Cổ Đài, tức Nguyên Thái Tông Ögedei, tại vị 1229-1241.
5. Tiết Thiền Hoàng đế: tức Nguyên Thế Tổ Kublai (Hốt Tất Liệt), tại vị 1260-1294.
6/ Hoàn Giả Đốc Hoàng đế: còn gọi là Hiến Giả Oanh, Hoàn Trạch Giá, tức Nguyên Thành Tông Temür (Thiết Mộc Nhĩ) tại vị 1295-1297.
7. Khúc Luật Hoàng đế: còn gọi là Khúc Luật Đề, tức Nguyên Vũ Tông Qayshan (Hải Sơn), tại vị 1308-1311.
8. Lộ Chân Định do vua Nguyên Hốt Tất Liệt đặt ra vào năm Trung Thống nguyên niên (1260). Huyện Nguyên Thị thuộc lộ này, nay là huyện Nguyên Thị nằm về phía nam thành phố Thạch Gia Trang tỉnh Hà Bắc Trung Quốc.
9. Câu kết thúc văn bản này nguyên nghĩa là “Thánh chỉ này là của ta ban ra”, tương đương như câu “Khâm thử” trong chiếu sắc văn ngôn.
Được biết, tấm bia Thánh chỉ đời Nguyên chùa Khai Hóa này vào thời kì Cách mạng văn hóa vì bị liệt vào hàng “tứ cựu” nên đã bị đập vỡ làm ba mảnh đem chôn xuống đất. Mãi tới năm 1989 mới được ngành bảo tàng địa phương tỉnh Hà Bắc khai quật lên phục dựng lại. Tại mặt sau bia còn có 3 dòng chữ, khắc tên người viết phần chữ Phags-pa là Dịch lại Mông Cổ Dương Đức Mậu, người viết phần chữ Hán là Dương Gia Hội người Hòe Dương.
Bia bạch thoại đời Nguyên được biết đến từ thời Minh, Thanh, nhưng vì thể cách khác lạ, văn viết khó đọc nên không được chú ý đề cập đến nhiều. Sang đến thế kỉ XX, Phùng Thừa Quân lần đầu tiên giới thiệu trong một chuyên tập xuất bản năm 1933(2), sưu tầm 40 văn bản. Sau đó Thái Mĩ Bưu tiếp tục sưu tập được thêm 94 văn bản và công bố trong sách của ông vào năm 1955(3). Nhưng dường như trước cả người Trung Quốc, một học giả người Pháp là Chavannes đã quan tâm nghiên cứu đến những văn bia bạch thoại này từnăm 1904(4). Thác bản chúng tôi giới thiệu trên đây có thể đã được sưu tầm chính vào thời gian này chăng?
Bia Chỉ dụ bạch thoại đời Nguyên nội dung không phong phú lắm, đồng thời lại biên soạn tuân theo một thể thức cố định đơn điệu, tuy nhiên vẫn được giới nghiên cứu khoa học xã hội đánh giá cao, coi là một tư liệu tin cậy để nghiên cứu về nhiều lĩnh vực như lịch sử, chính trị, kinh tế, pháp luật, tôn giáo, điển chương, văn hóa, địa lí, xã hội, ngôn ngữ v.v… thuộc triều Nguyên. Những văn bản Chỉ dụ của triều đình này được viết theo một thể thức qui cách thống nhất để ban phát rộng rãi cho các địa phương, phổ biến đến mức như học giả đời Thanh Diệp Xương Xí từng mô tả “đến như mỗi làng ấp nhỏ bé như viên đạn cũng có một hai tấm bia Thánh chỉ đời Nguyên”, tình hình đó khiến ta liên tưởng đến những văn bản sắc phong của triều đình phong kiến nước ta trước đây ban cấp cho các di tích đình, chùa, đền, miếu của các địa phương trong cả nước. Thật thú vị khi biết hình thức tôn trọng tôn giáo tín ngưỡng trong dân gian và đồng thời nhằm thể hiện uy lực của triều đình này đã từng được áp dụng phổ biến rộng rãi tương tự từ thời nhà Nguyên ở Trung Quốc.
Văn khắc thứ hai mà chúng tôi xem xét là một tập hợp gồm có 8 thác bản (kí hiệu BC173, BC230 - BC236) hình chữ nhật có kích cỡ bằng nhau, khắc toàn bằng chữ Hán, không có diềm hoa văn mà đôi khi chỉ có một khung đường kẻ ở xung quanh.
Ngay mở đầu văn bản có thể đọc được một đoạn nói về nguyên ủy xuất xứ của văn bia:
大理國佛弟子議事布燮袁豆光敬造佛顶尊勝宝幢記。皇都大佛顶寺都知天下四部泉洞明儒释慈濟段進全述。
Qua đó thì biết đây là bài kí về việc Đệ tử Phật giáo nước Đại Lí là Nghị sự Bố nhiếp Viên Đậu Quang kính cẩn tạo dựng cột kinh bảo tràng Phật đỉnh tôn thắng, người soạn kí là Từ Tế Đại sư tại chùa Đại Phật Đỉnh ở Kinh đô nước này là Đoàn Tiến Toàn, giữ chức Đô tri Thiên hạ tứ bộ tuyền động minh Nho Thích.
Địa danh Đại Lí quốc nêu trong văn bản là tên của một Vương quốc của người Bạch từng tồn tại từ thế kỉ X đến XIII, nằm ở khu vực tỉnh Vân Nam, Quý Châu, miền tây nam tỉnh Tứ Xuyên, miền bắc Miến Điện và một phần nhỏ trên vùng dân tộc thiểu số của Lão Qua và Việt Nam. Vương quốc Đại Lí là sự kế tiếp của quốc gia Nam Chiếu, một cổ quốc đã suy tàn từ năm 902. Sau khi nước Nam Chiếu bị suy vong từng có ba triều đại kế tiếp nhau tồn tại cho đến khi Đoàn Tư Bình chiếm được quyền hành năm 937, thống nhất Vân Nam và thiết lập ra Vương quốc Đại Lí, đặt đô tại thành Đại Lí (nay là thành phố Đại Lí thuộc tỉnh Vân Nam). Đại Lí là một quốc gia theo Phật giáo Mật tông (Acarya), từ vua tới dân đều sùng đạo, vua thường tại vị một thời gian rồi xuất gia làm sư. Nước Đại Lí tồn tại kéo dài 316 năm với 22 đời vua, cho đến năm 1253, Vương quốc này bị tiêu diệt bởi cuộc xâm lược của đế chế Mông Cổ. Một trong những thành phần cư dân nước Đại Lí là tộc người Thái, sinh sống trải rộng từ Vân Nam qua bắc Thái Lan, Lào và thượng du bắc Việt Nam. Người Thái gồm nhiều sắc dân như Thái Trắng, Thái Đen, Thái Đỏ, Thổ, Nùng. Sau khi nước Đại Lí bị người Mông Cổ thôn tính, người Thái lẩn tránh vào trong rừng sâu và di chuyển xuống phía nam và tây nam, trở thành thủy tổ của người Thái Lan ngày nay.
Thông tin về nước Đại Lí đã chứng tỏ niên đại cổ xưa của văn bia này ít nhất là trước năm 1253, khi vương quốc đó bị diệt vong. Khi tìm hiểu thêm các tài liệu liên quan đến cổ quốc này cũng như những công trình Phật giáo của nó, chúng tôi ngẫu nhiên đã tìm được tấm đá nguồn gốc của tám thác bản này. Nói chính xác, đó là một cột kinh tràng của chùa Địa Tạng tại thành phố Côn Minh, nơi xưa kia là thành Thác Đông, một trong hai trung tâm đô hội lớn, đồng thời cũng là một đạo tràng Phật giáo Kim cương dòng Mật tông của Vương quốc Đại Lí. Thậm chí còn được thấy cột kinh đó qua một tấm ảnh chụp.
Hóa ra cột kinh chùa Địa Tạng, hay còn thường gọi là “Cổ tràng” này là một cổ vật quí không chỉ riêng của Vân Nam mà còn được coi là “quốc bảo” của Trung Quốc. Cổ tràng hiện được dựng ở Bảo tàng trên đường Thác Đông thành phố Côn Minh. Cột kinh tạc bằng đá cao 6,5m, xếp thành 7 tầng hình bát giác. Tầng thứ nhất dưới cùng chính là nơi khắc bài kí ghi lại sự việc quan Nghị sự Bố nhiếp (một chức quan cao cấp của nước Đại Lí) Viên Đậu Quang dựng Phật đỉnh tôn thắng Bảo tràng để cầu siêu cho Cao Minh Sinh, con trai của viên quan Thiện Xiển hầu Cao Quan Âm. Tác giả bài kí là Từ Tế Đại sư Đoàn Tiến Toàn cũng là một nhà sư nổi tiếng từng được nêu tên ở mục Tống thích sách Điền Trì kí. Ngoài bài kí này ra, trên cột còn khắc Phật thuyết Bát nhã Ba la mật tâm kinh và những bài cầu nguyện.
Cột kinh chùa Địa Tạng được tìm thấy vào năm 1917. Quá trình phát hiện cột kinh này cũng có những chi tiết khá thú vị(5). Hồi thế kỉ XIX, tại Vân Nam liên tiếp nổ ra các cuộc khởi nghĩa lớn của nhân dân, chiến sự diễn ra khắp nơi, tỉnh thành Côn Minh từng 3 phen bị vây hãm. Năm 1857 ngôi chùa Địa Tạng nằm ở sát ngoại ô thủ phủ này bị binh hỏa phá hủy hoàn toàn. Chùa Địa Tạng là ngôi chùa cổ do hai nhà sư là Vĩnh Chiếu hòa thượng và Vân Chiêu hòa thượng người Tứ Xuyên xây dựng từ thời Vương quốc Đại Lí, từng được trùng tu vào năm Tuyên Đức thứ 4 (1429) thời nhà Minh. Khi chùa bị phá, cột kinh đổ xuống nằm trên đống gạch ngói vỡ, về sau gặp trận lụt, nước sông Kim Diệp dâng lên kéo theo bùn đất chôn vùi cột xuống dưới tầng đất sâu. Tới cuối mùa thu năm 1917, người dân sinh sống ở khu vực lân cận khi vào nền nhà chùa cũ đào nhặt tận dụng gạch ngói ngẫu nhiên phát hiện ra nó trong đám đổ nát. Dựa vào hình dáng họ đoán là một tòa tháp cổ, và rất lâu sau người ta vẫn cho rằng đó là tòa tháp đời Đường được dựng lên để trấn long mạch của thành Côn Minh. Cổ vật tạo hình tuyệt mĩ với tượng của 300 nhân vật điêu khắc tinh xảo bố trí ở trên và xung quanh, nên ngay sau khi được khai quật lên đã thu hút sự quan tâm cũng như tính hiếu kì của dân chúng trong thành phố. Người ta rủ nhau đổ xô tới xem đông nghịt làm tắc nghẽn cả đường phố. Viên cảnh sát trưởng e ngại cổ vật bị hư hỏng, một mặt ra lệnh tăng cường lực lượng tới bảo vệ, đồng thời cho in rập chữ khắc đem về tham khảo để giải mối nghi hoặc. Ngẫu nhiên làm sao, mấy ngày sau đó tại Côn Minh trời đổ mưa lớn ròng rã liền mấy trận. Nước ở các dòng sông Bàn Long, Kim Diệp, Ngân Diệp, Bảo Tương, Mã Liệu, Hải Nguyên đột ngột dâng cao mấp mé bờ sông. Nhiều thôn làng ở gần sát khu vực Mã Nhai Tử thuộc ngoại ô phía tây đã bị ngập chìm trong nước đến vài thước. Thành phố biến thành hòn đảo bị bao bọc bởi một biển đầy nước ở xung quanh. Rồi trong dân gian nhanh chóng lan truyền tin đồn nói rằng do tòa tháp cổ trấn yểm giao long bị đào bới lên khiến chín con rồng vốn vẫn bị giam hãm xưa nay tỉnh giấc nổi lên hoành hành làm mưa lũ gây ra tai họa. Dân chúng trong thành và cả vùng nông thôn xung quanh nghe tin đều xao động sợ hãi. Người ta càng đua nhau biện lễ kéo đến chỗ cổ vật thắp nhang tế lễ, cầu cúng giao long. Có người còn đệ đơn thư lên chính quyền thành phố xin cho chôn lấp tòa tháp xuống đất như cũ để giữ yên ổn cho dân chúng. Rất may là lãnh đạo ở đây đã không bị dao động trước áp lực của những dư luận thiếu căn cứ đó. Cảnh sát và báo chí được lệnh tăng cường giải thích ổn định tư tưởng cho dân chúng. Trước tình hình dòng người kéo đến xem và cầu cúng ngày một đông thêm, e ngại cổ vật sẽ bị hư hại, nhà sư trụ trì là Liên Châu hòa thượng thỉnh cầu Tỉnh trưởng cho phép ông đứng ra tổ chức quyên góp xây dựng lại ngôi chùa. Đến tháng 3 năm 1919 chùa Địa Tạng hoàn thành trùng tu(6). Người ta xây một con đường lát đá dẫn tới chỗ cột kinh dựng trang trọng trong chùa có lắp một hàng rào sắt bao quanh để bảo vệ. Sau đó tới năm 1923, chùa Địa Tạng chính thức đổi tên thành Công viên Cổ Tràng, trở thành một danh thắng lớn ở ngoại ô thành phố Côn Minh. Sau ngày thành lập nhà nước Trung Hoa mới, cột kinh Cổ Tràng ngày càng được chính quyền và học giới quan tâm trọng thị, đánh giá là tuyệt phẩm của nghệ thuật Điền Trung và là một kiệt tác cực hiếm của mĩ thuật phương Đông. Cổ Tràng trở thành một thứ quốc bảo của Trung Hoa. Năm 1955, Thủ tướng Chu Ân Lai khi đi thị sát Côn Minh đã hết lời ca ngợi cột kinh tràng nước Đại Lí và ra chỉ thị phải dựng mái đình để bảo vệ. Tháng 2 năm 1982, Cổ Tràng được Quốc vụ viện công bố liệt vào danh sách những văn vật trọng điểm được bảo vệ ở cấp nhà nước. Đến thời kì mở cửa, chính quyền thành phố quyết định di dời tất cả nhà xưởng và những công trình xây dựng lấn chiếm từ hồi Cách mạng văn hóa ra khỏi khu vực chùa để xây dựng nơi này trở thành Viện Bảo tàng của thành phố Côn Minh. Công trình hoàn thành và mở cửa vào tháng 9 năm 1997.
Thác bản thứ ba (kí hiệu BC313) nhan đề: 至聖先師孔子廟圖Chí Thánh tiên sư Khổng Tử miếu đồ, khắc một sơ đồ của quần thể ngôi miếu thờ Khổng Tử, bản vẽ rất đẹp và chi tiết theo lối ngày xưa vừa là sơ đồ vừa là hình phối cảnh, có kèm những dòng chữ ghi chú tại vị trí các vật kiến trúc. Miếu thờ Khổng Tử được dựng lên rất nhiều, ở Trung Quốc hầu như ở địa phương nào cũng có. Trên hình vẽ là một kiến trúc rất lớn, nhưng không ghi rõ ở đâu.
Những thác bản có chữ Hán còn lại đều thuộc dạng song ngữ, trong đó chữ Hán chỉ là phần khắc bên rìa hoặc góc bia ghi niên đại hoặc tên người soạn, người viết chữ hay người khắc.
Đáng chú ý là loạt thác bản từ kí hiệu BC199 đến BC209 mang hình thức của những tấm bia có diềm hoa văn, đôi khi có cả trán bia hình vòm, trên đó chữ Hán được khắc xen vào bên cạnh bộ phận chủ yếu của văn bia viết bằng thứ cổ tự khác. Như trên thác bản BC200 có khắc đoạn văn chữ Hán: “Đại Thanh Đạo Quang tam thập niên(1850), tuế thứ Canh Tuất Thanh hòa nguyệt. Thanh Chân đại tự Thống giáo Mã Hùng đốn thủ bái soạn. Thanh Chân đại tự Chưởng giáo Kim Vị Canh đốn thủ bái thư”. Và kèm theo một danh sách dài tên những người tiến cúng.
Thác bản BC203 mở đầu bên trái bằng dòng chữ: “Cáo thụ Phụng trực Đại phu Mĩ Ông Mễ (hoặc Vị) công di tích bi kí” , tiếp theo là phần chính văn bằng cổ tự rồi đoạn kết thúc lại viết bằng chữ Hán: “Gia Khánh thập tứ niên tuế thứ Kỉ Tị (1809). Đại tự Thống giáo Mục Siêu soạn”. Thác bản kí hiệu BC243 chỉ có ba chữ “Phú Hòa xã”, kí hiệu BC205 có 5 chữ “Trường An Tiêu Vĩ san” v.v…
Ngoài những thác bản có chữ Hán ra, phần còn lại và cũng là bộ phận có số lượng nhiều nhất, chủ yếu đều là thác bản khắc chữ Chăm cổ và các hình họa tiết trang trí trên phù điêu thuộc các di tích của Campuchia. Đặc điểm của bộ phận này là trên thác bản thường có ghi chú xuất xứ sưu tầm bằng chữ Pháp, qua đó biết rằng những thác bản này được sưu tầm tại những di tích nổi tiếng của quốc gia này như Angko-Vat, Angkor-Thom, Prei Monti, Mebon Occidental, Bakong, Prasat v.v… đa phần là sưu tầm vào những năm 1944, 1945 của thế kỉ trước. Nói chung đối với những thác bản có khắc văn tự ngoài chữ Hán này, người viết do không có khả năng đọc hiểu để giải mã những thông tin trên đó, nhưng xét thấy chúng đều là thác bản thuộc những di tích cổ có danh tiếng của nước ngoài, được sưu tầm khá sớm bởi các học giả có uy tín người Pháp, nên cũng xin nêu ra ở đây nhằm cung cấp thông tin chỉ báo cho các học giả có chuyên môn biết đến để tiếp cận nghiên cứu. Về phía Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cũng xin đề nghị nên có kế hoạch hợp tác với những chuyên gia thuộc lĩnh vực văn tự cổ liên quan để tiến hành biên mục chi tiết đối với bộ phận thác bản này, nhằm giới thiệu và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có thể tiếp cận khai thác sử dụng.
Chú thích:
(1) Ví dụ: Tổ Sinh Lợi và Thuyền Điền Lợi Chi: Nguyên đại bạch thoại bi văn đích thể lệ sơ thám 元代白话碑文的体例初探, Trung Quốc sử nghiên cứu, số 3 năm 2006; Lí Nghi Nhai: Nguyên san ngũ chủng bình thoại trung đích đạo giáo sắc thái元刊五種平話中的道教色彩, Thành Đại Tôn giáo dữ văn hóa học báo, số 1 năm 2001; Giác Chân Pháp sư: Pháp Nguyên tự trinh thạch lục 法源寺貞石錄v.v…
(2) Phùng Thừa Quân: Nguyên đại bạch thoại bi 元代白話碑, Thương vụ ấn thư quán, 1933.
(3) Thái Mĩ Bưu: Nguyên đại bạch thoại bi tập lục 元代白話碑集錄, Khoa học xuất bản xã, 1955.
(4) Chavannes: Inscriptions et Piéces de Chancellerie Chinoises de L'époque Mongole, T'oung Pao, sér. 2, V, VI, IX, 1904, 1905, 1908.
(5) Theo Trương Tá: Đại Lí quốc xuất thổ kí 大理国古幢出土记, Vân Nam Chính hiệp báo, ngày 24 tháng 4 năm 2009.
(6) Nhiều tài liệu đã coi năm 1919 này là năm khai quật phát hiện ra cột kinh Cổ Tràng./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 58-67)