VI | EN
Tác phẩm của Trần Tế Xương trong các thư tịch Hán Nôm (Tạp chí Hán Nôm, số 3 (112) 2012 (tr.11 - 27)
(Tạp chí Hán Nôm, số 3 (112) 2012 (tr.11 - 27)

TÁC PHẨM CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG

CÁC THƯ TỊCH HÁN NÔM

GS.TRẦN NGỌC VƯƠNG

Đại học KHXH & Nhân văn, Hà Nội

ThS.PHẠM VĂN ÁNH

Viện Văn học

Lời dẫn

Tác phẩm của Trần Tế Xương còn lại đến nay bao gồm cả hai nguồn: 1) Các tác phẩm được lưu trữ trong các thư tịch Hán Nôm và 2) Các tác phẩm được sưu tầm và ghi chép, công bố bằng chữ Quốc ngữ, sớm nhất là trên các báo vào đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XX mà chủ yếu là trên Nam phong. Số lượng tác phẩm được sưu tầm muộn hơn chiếm tỷ lệ không đáng kể. Phức tạp nhất về văn bản là những tác phẩm trong các thư tịch Hán Nôm. Gần đây nhất soạn giả - TS. Đoàn Hồng Nguyên đã bỏ công phu sưu tầm, khảo sát và cho xuất bản công trình Tú Xương toàn tập (Nxb. Văn học, 2010). Lần đầu tiên giới nghiên cứu văn học có được một hệ văn bản những trước tác của Trần Tế Xương với sự khảo chứng tương đối chân xác và cơ bản.

Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề về văn bản tác phẩm của Trần Tế Xương qua thư tịch Hán Nôm cần làm rõ thêm nữa. Bài viết này của chúng tôi, được triển khai trên tinh thần đó.

Trong các sách Hán Nôm, Trần Tế Xương còn được gọi là Trần Cao Xương, hoặc gọi một cách ngắn gọn là Tú Xương. Theo sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (từ đây gọi tắt là Thư mục đề yếu)(1), tác phẩm của Trần Tế Xương được chép trong các sách: Vị Thành giai cú tập biên, Quốc âm tùng vịnh, Nam âm thảo, Thi văn tạp lục...

1. Vị Thành giai cú tập biên

Vị Thành giai cú tập biên (渭城佳句摺編), bản hiện còn lưu trữ tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu AB.194, gồm 204 tờ. Trang bìa ghi tên sách là Vị Thành giai cú tập biên渭城佳句摺編, không có tựa, bạt, mở đầu bằng bài Vịnh thất tịch (Vịnh đêm Thất tịch - Mồng 7 tháng bảy âm lịch), kết thúc bằng câu đố chữ Hán: “Tam thủ tam vĩ, lục nhĩ lục nhãn, tứ túc chỉ thiên, tứ túc chỉ địa” (Ba đầu ba chân, sáu tai sáu mắt, bốn chân chỉ trời, bốn chân chỉ đất), lời giải “là hai người khách Tầu khiêng một con lợn nằm ngửa”.

Xem xét tổng quan, có thể chia toàn sách thành 4 phần chính:

Phần thứ nhất: Mở đầu gồm 21 tờ, từ 1a đến 21a, sau đó có một “Phụ lục”, từ tờ 21b đến 29b.

Phần mở đầu, sau tờ bìa, đầu trang thứ nhất ghi: “Vị Thành giai cú tập biên, Nam Định Vị Xuyên Tú tài Phượng Tương Trần Cao Xương Tử Thịnh trước tập渭城佳句摺編南定渭川秀才鳳鏘陳高昌子盛著輯” (Sách Vị Thành giai cú tập biên, do Tú tài Phượng Tương Trần Cao Xương, [tự là] Tử Thịnh ở Vị Xuyên, Nam Định sáng tác và biên tập). Không tính “Phụ lục”, phần này gồm các tiêu đề: 1. Vịnh thất tịch, 2. Thanh bình tức sự, 3. Phó Hà Nội cầu sĩ bất đắc ngẫu chiếm, 4. Du đào nương tức sự, 5. Hồng lâu hí chiếm nhất luật, 6. Phó Thái Bình thiết chướng ngẫu chiếm, 7. Tặng lân phố thày đồ thi nhất luật tính liên, 8. Du hồng lâu, tịch gian hí Hà Nội Đức Xương Đặng bách hộ Đình Trung ông, 9. Dạ thanh ngọa Hà Thành hữu các, phúc cơ, văn Thanh nhâm mại tự tắc chúc ngẫu chiếm, 10. Mạn hứng, 11. Hí bản tỉnh Cửa Đông phố mỗ ông, 12. Lãng ngâm, 13. Nghĩ bản phố sương phụ gia hữu tài phú chi tác, 14. Hạ vũ tình hậu, thừa lương các ngoại, kiến lân nữ phẫu qua ngẫu hứng, 15. Đại nội khoái ngâm, 16. Quy nông tức sự(2), 17. Tiếu hành song nhân, 18. Thí bút tuyệt cú, 19. Thu vi tự trào, 20. Tứ bài loại điếu hữu, 21. Đại bản tỉnh vãn ông quản Chén vãng lị Võ Nhai huyện mệnh cố, 22. Hí bản tỉnh phòng thành pháo chi tác, 23. Chính nguyệt sơ nhị nhật điếu cô Kí, 24. Tân niên tức sự, 25. Xuân niêm tuyệt cú (câu đối), 26. Xuân nhật hí bút tặng hồng lâu niêm bích nhất từ, 27. Tân niên Trúc chi từ tứ tuyệt (4 bài: Chúc thọ, Chúc phú, Chúc quý, Chúc đa nam), 28. Đổ thâu, Lạp nguyệt phó Hà thành Phạm đài, chí nguyệt để di Lê đài gia thưởng tiết hữu cảm, 29. Hí bản tỉnh hàng thiết ông Kì Giới chi tác, 30. Tái tụng ông Giới nhất luật, 31. Thu vi tức sự, 32. Lạc đệ thị nhi bối, 33. Tặng nội, 34. Tặng ông ấm Điềm, 35. Hí ông ấm nhất tuyệt, 36. Xuân nhật hí chư thi xã chi tác, 37. Hữu cảm nhị tuyệt (2 bài), 38. Khiển hữu nhân chi tác, 39. Hí Hà hữu lai thải Phụ Long tự tăng tự bất đắc chi tác, 40. Học đường giả mị giải trào, 41. Ứng thí ngộ hữu hí tác, 42. Đại nghĩ bản xã chư lão bà hội hạ trưởng bà đăng thập bát thọ nhất liên (câu đối), 43. Hí hữu nhân bị ngục chi tác, 44. Văn hữu nhân xuất ngục tái hí, 45. Văn phụ nhân hữu phu bị ngục chi tác, 46. Ngẫu cảm chi tác, 47. Kiến lộ nhân hí tác, 48. Đãi giá ngâm, 49. Hoài nhân(3), 50. Thương phụ ngẫu chiếm, 51. Khổ lạo(4), 52. Bệnh trung văn nội đảo kê cầu dược ngẫu tác, 53. Văn hữu nhân phó Hà Nội xuất thí kí lục hí chi nhi tác, 54. Hí mỗ khoa cử bảng á nguyên chi tác, 55. Hí mỗ khoa Cử nhân hồn danh Ba Ba chi tác, 56. Hí hữu nhân thú Thanh chủng chi nữ, 57. Tái hí chấp kha nhân chi tác, 58. Giả bệnh chi tác, 59. Hà Nam tức sự, 60. Xuân nhật ngẫu đề, 61. Y vận biệt tặng hữu, 62. Xuân nhật ngẫu chiếm, 63. Thị thí sinh, 64. Học giới cải lương ngẫu tác, 65. Ngột tọa ngẫu chiếm ca nhị điệu (2 bài ca trù), 66. Thầy đồ phú, 67. [Thầy đồ phú] - Hựu thể (của Nguyễn Nhữ Mai), 68. Tự trào, 69. Túy ngâm, 70. Vãn hành, 71. Vô đề nhị tuyệt (2 bài), 72. Minh nông cổ điệu tam tuyệt (3 bài), 73. Hoài mĩ nhân, 74. Khổ bần, 75. Tinh xá tự niêm nhị cú (2 đôi câu đối), 76. Thất lộ, 77. Viễn lự, 78. Bát nguyệt chỉ Tiến sĩ, 79. Trung thu vọng nguyệt.

Tổng cộng phần này gồm 79 nhan đề, mỗi nhan đề một bài thơ, thơ kèm câu đối, hoặc một chùm vài bốn bài (cụ thể là các trường hợp: Tặng lân phố thày Đồ thi nhất luật tính liên - Tặng thầy Đồ ở phố lân cận một bài thơ luật và một đôi câu đối, Tân niên Trúc chi từ tứ tuyệt - Bốn bài tứ tuyệt theo lối Trúc chi từ nhân dịp năm mới, Hữu cảm nhị tuyệt - Hai bài tứ tuyệt nhân khi có cảm xúc, Ngột tọa ngẫu chiếm ca nhị điệu - Hai bài ca [trù] ngẫu thành trong lúc ngồi ngây, Vô đề nhị tuyệt - hai bài thơ tuyệt cú vô đề, Mừng nông cổ từ tam tuyệt - Ba bài thơ mừng nhà nông, Tinh xá tự niêm nhị cú - Hai đôi câu đối tự dán ở tinh xá); hoặc giả là nhan đề của một hay hai đôi câu đối (Xuân niêm tuyệt cú - Câu đối mừng xuân, Tinh xá tự niêm nhị cú - Hai đôi câu đối tự dán ở tinh xá), hai bài phú (Thầy đồ phú, Hựu thể, gồm 2 bài), tất cả gồm 89 tác phẩm, trong đó có 80 bài thơ (trong đó 2 bài bị tàn khuyết, đó là các bài: Hoài nhân và Khổ lạo), 2 bài ca trù, 5 đôi câu đối, 2 bài phú.

Ứng với các nhan đề đều có lời bình ngắn (nguyên văn ghi là “phê”, nghĩa là phê bình, đánh giá), tổng cộng 82 lời bình, ở “Phụ lục” có thêm 1 lời bình. Các lời bình viết ở phía trên các các bài theo lối chữ tiểu khải nhỏ hơn chữ viết các bài thơ, không ghi rõ tác giả lời bình là ai. Với các nhan đề gồm nhiều bài, có khi chỉ có một lời bình chung, song cũng có khi tất cả các bài cùng nhan đề đó đều có lời bình. Nội dung các phần bình thường là đánh giá nhận xét về tác phẩm hoặc tỏ ý khen ngợi, đồng cảm… được viết bằng lối văn phong sáng sủa, trang nhã. Ví dụ bài đầu tiên trong sách là bài Vịnh thất tịch (Vịnh đêm Thất tịch), nội dung và phần bình như sau:

“Tục truyền tháng Bẩy mưa ngâu,

Con trời lấy đứa chăn trâu cũng phiền.

Một rằng duyên, hai rằng là nợ,

Sợi xích thằng ai gỡ cho ra.

Vụng về cũng thể cung nga,

Trăm khôn ngàn khéo chẳng qua mục đồng.

Hay là sợ muộn chồng chăng tá ?

Hơi đâu mà kén cá chọn canh.

Lấy ai ai lấy cũng đành,

Rể trời đâu gả đến anh áo buồm”.

Phần lời phê bình bằng chữ tiểu khải nhỏ hơn chữ chính văn bài thơ, viết ở phía trên như sau: “Phê: Tối đắc Chức Nữ tình diện:最得織女情面” (Lời phê: Cực tả được tâm tình và diện mạo của Chức Nữ”.

Một số trường hợp lời bình tỏ ý tán dương hoặc bày tỏ sự đồng cảm. Chẳng hạn nội dung một số lời bình sau: “Tình ở trong văn chăng” (bài Thí bút tuyệt cú), “Cười lăn, thật lạ!” (bài Tứ bài loại điếu hữu), “Ngọn bút chuyển rung cả đất trời” (bài Hí bản tỉnh phòng thành pháo chi tác), “Chửi tuốt các nhân vật trong đời” (bài Tân niên Trúc chi từ tứ tuyệt), “Một chữ là một giọt lệ, một giọt lệ là một hạt ngọc” (bài Tết hữu cảm)...

Dưới một nhan đề, hoặc xen trong chính văn một số tác phẩm có cước chú, tổng số 24 cước chú. Chẳng hạn ở bài thứ 7: Tặng lân phố thày Đồ thi nhất luật tính liên (Một bài thơ luật cùng câu đối tặng thầy Đồ cạnh phố), cước chú: “Nguyên nhân đoản phì, khả tiếu, tính vô thê thất, cố hí chi” (Nguyên ông thày Đồ này thấp mà béo, rất buồn cười, lại không có vợ con, vì thế [tặng thơ và câu đối để] đùa ông ta)(5). Đáng chú ý là trong số 24 lời chú ở phần này, có 3 lần xuất hiện các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, như: “dư” (tôi), “ta”. Cụ thể là các trường hợp sau: Cước chú dưới nhan đề bài Hí ông ấm nhất tuyệt ghi: “Ông ấm Điềm đang ngồi chơi với ta, một chốc bỗng thấy một con bé con là người nhà bà hai Đích sai lại, nói rằng ông ấm hỡi, ông về gội hộ bà tôi vài cái đồ. Ông ấm lấy làm buồn cười, hỏi mãi thì hóa ra nhà chủ nó sai nó đi gọi thằng Ấm, nó nghe nhầm ra ông ấm. Buồn cười quá, ta mới mắng ông ấm rằng: …”, cước chú dưới bài Thương phụ ngẫu chiếm ghi: “Người đàn bà buôn bán với người Thanh, rất là tiện lợi, các bạn buôn khác thấy vậy rất đố kị, nhưng không biết làm sao. Ta (dư) nghe chuyện đó, ngẫu nhiên mà làm thơ để thay ý bất bình trên đường”, cước chú sau bài Thầy Đồ phú ghi: “Vốn là ta (dư) suốt năm tiêu dao, không đoái đến gia đình, đến khi vợ đón về để dạy con, cung cấp hệt như thầy là người ngoài, không dám dùng lễ vợ chồng để xưng hô, nhân đó đùa vợ”.

Các cước chú có khi viết theo lối văn ngôn Hán văn, có lúc viết chữ Nôm, nhìn chung văn chương lưu loát. Cá biệt có 2 trường hợp, lối hành văn kém cỏi, viết theo lối tư duy tiếng Việt, dở Hán dở Nôm, rất khó tin đó là lời văn của một cụ Tú tài hay chữ. Hai trường hợp này đều là chú ở các bài bị tàn khuyết. Cụ thể là ở bài Hoài nhân, cước chú dưới nhan đề: “Tồn khuyết tứ cú, sĩ tra存闕四句俟查”: Còn thiếu 4 câu, sẽ tra; bài Khổ lạo, cước chú ghi: “Giá sơ hữu thực cú, không tồn lục cú, tra bổ 這初有實句空存六句查補”: Còn hai câu thực, không còn 6 câu, sẽ tra bổ sung.

Các cước chú đôi khi cũng giúp khu biệt về tác giả các bài, cụ thể là ở bài thứ 15 nhan đề Quy nông tức sự, cước chú: “Nghi thị Yên Đổ Tam nguyên công sở tác” (Ngờ là tác phẩm của Tam nguyên Yên Đổ công - Nguyễn Khuyến - sáng tác), ở bài Thầy Đồ phú - Hựu thể ghi là do Cử nhân Nguyễn Nhữ Mai soạn. Tuy nhiên, như bài thứ hai trong phần này là Thanh bình tức sự, là thơ của Nguyễn Khuyến song không hề ghi chú tác giả. Cách ghi cước chú bài Quy nông tức sự cho thấy hiển nhiên người biên tập sách này không phải là Trần Tế Xương, vì lẽ Trần Tế Xương nếu biên tập tác phẩm của mình thì không thể không nhận ra đâu là tác phẩm do mình sáng tác, đâu là tác phẩm do Nguyễn Khuyến sáng tác.

Các bài ở phần này đều là các sáng tác Nôm, theo các thể thơ (thất ngôn bát cú, tứ tuyệt…), hát nói, phú, câu đối, gồm 79 nhan đề, cả thảy 89 tác phẩm (chưa tính Phụ lục), trong số đó có ít nhất 2 bài của Nguyễn Khuyến, 1 bài của Nguyễn Nhữ Mai, số còn lại là 86 bài khả dĩ coi là của Trần Tế Xương.

Phần Phụ lục ghi 3 bài thơ: 1. Khổ dạ trường ngâm (Ngâm dài nổi khổ về đêm), 2. Phụng độc Nhâm Tí khoa thí pháp (Phụng đọc phép thi năm Nhâm Tí), 3. Tiếp tiền vận thị chư sinh (Tiếp vần trước chỉ bảo cho các học trò) và một tác phẩm Nôm thể lục bát dung lượng 15 trang viết tay, nhan đề là Năng nhẫn, bất năng nhẫn hạnh (Kể hạnh về người năng nhẫn nhịn và người không thể nhẫn nhịn). Ba bài đầu ghi rõ đó là sáng tác của Tú tài Từ công ở Hồi Giang, lời cước chú cho biết: “Án: Hà Hồi Tú tài Từ công Diễn Đồng do lai dữ Trần công Cao Xương đồng thanh đồng khí, kì từ ý diệc đồng, thỉnh lục chi vu hậu, dĩ tăng lệ thi tập vân nhĩ :河洄秀才徐公衍桐由來與陳公高昌同聲同氣其辭意亦同請錄之于後以增麗詩摺云耳” (Lời án: Tú tài ở Hà Hồi là Từ công Diễn Đồng vốn cùng với Trần công Cao Xương là đồng thanh đồng khí, lời ý cũng tương đồng, xin chép vào sau để chép thêm những bài thơ đẹp). Lời cước chú này ghi “Trần công Cao Xương”, so với người viết là ngôi thứ ba, cũng là dấu hiệu cho thấy người biên tập sách, viết cước chú không phải Trần Tế Xương. Sau 3 bài thơ của Từ Diễn Đồng ở tác phẩm Năng nhẫn, bất năng nhẫn hạnh, lời chú dưới nhan đề truyện này viết bằng chữ Hán, nội dung như sau: “Bấy giờ tôi (dư) đau ốm nên nằm ở nhà, thấy người đời phần nhiều kẻ trí người ngu ra sức đua tranh với nhau, ngoảnh nhìn bè bạn thì thưa thớt như sao trời, muốn cùng họ nói chuyện mà chẳng được, bèn bất đắc dĩ thuật lại tích cũ lỗi thời ra Nam âm, đặng để mua cười, mong các bậc thức giả thể lượng cho”.

Nội dung bản hạnh này về đại ý như sau: Xưa có một người gia tư vào hạng bậc trung, “tính hằng nhẫn nhục từ bi, thiệt hơn chẳng chút tranh thi cùng người”, rất biết nhẫn nhịn và một người khác “nết thì cả giận nào hề nhịn ai”. Cả hai “cùng nhau kết đá thề vàng, cùng đi làm phúc mười phương sa bà”. Hai người đi làm phúc phương xa ba năm, đến một nơi núi non chất ngất, vi vút thông reo, suối chảy róc rách, chim hót líu lo…ở đó có một ngôi chùa lớn, “bốn bề cảnh vật khoe thanh, muôn gian ngàn ốc thênh thênh rộng dài”, bèn ở lại tu hành, sớm hôm kinh kệ, “tháng ngày luống những ước ao, vui bề đạo đức biết nào kỉ canh”, “Ở lâu chim thú thành quen, cái vào cúng quả cái lên dâng trà”. Ông thứ nhất vốn là người nhẫn nhịn hiền hòa nên rất gần gũi thân thiện với các loài vật, chịu khó dọn dẹp chùa chiền, “ra vào mặc chúng tung hoành, chẳng hề nặng nhẹ chúng sinh một lời. Dù lòng chúng vật chơi bời, đã trong thượng điện lại ngoài tam quan”. Ông thứ hai vốn tính nóng giận, không hay nhẫn nhịn nên thấy cảnh các loài vật hay vào chùa quậy phá thì cả giận, ngày ngày đánh đuổi, có lúc quá tay làm “lòng ông năng nhẫn thương thay muôn phần”. Ông khuyên bạn “… kẻ đà làm phúc xả thân tu hành. Còn làm những việc chẳng lành, hư công vả lại uổng danh thay là. Chẳng bằng nhẫn nhục hiền hòa, từ bi hỉ xả vốn ta ghi lòng. Để cho đầy thửa âm công, thân sau lại sửa hóa rồng chút chăng”. Hai người tu hành đến khi cùng đạt được phép tiên, “xác phàm trút khỏi nhẹ mình lâng lâng”, không cần ăn uống mà không thấy đói. Ông thứ hai tuy vậy vẫn chưa bỏ được tính cũ nên đôi khi còn giận các loài cầm thú. Một hôm chư Phật hội bàn, cho rằng hai người tu hành công đức cao dầy, song còn một người chưa sửa được tính nóng giận, cho nên chỉ sai “long xa phượng liễn” đón ông năng nhẫn, phong làm Bồ Tát. Ông còn lại thấy vậy rất buồn phiền, vốn cũng có thuật đằng vân giá vũ, ông liền bay lên Phật đài, khấu đầu kể nể mọi việc, nào việc kết thân với ông năng nhẫn, cùng nhau đi làm phúc, tu hành, v.v… tỏ ý thắc mắc, cho rằng “Nhẽ thì ơn Phật lòng xa, anh em cùng được một tòa vinh phong. Cớ sao kẻ được người không, dám xin xét đến cho cùng kẻo oan”. Phật cho rằng vì ông chưa biết nhẫn nhục nên chưa thành chính quả. Ông bèn hỏi phương cách tu hành, Phật phán bảo về núi, nơi các loài chim quần tụ, “trên non đứng đấy một bề, ba năm ba tháng chớ hề giận ai”, làm được như vậy thì sẽ được cho vào chốn Phật đài. Ông bèn về, lên đứng trên đỉnh núi, dãi nắng dầm mưa, mặc chim chóc bay đậu trên vai, làm tổ trên đầu, đến khi “đã ngoài hai tháng ba đông, mười lăm ngày nữa thì công vẹn thành”. Bấy giờ có đôi chim chích đến làm tổ bên tai, chúng đẻ trứng, ấp nở được bốn chú chim non, hàng ngày chim trống bay đi khắp nơi kiếm mồi, chim mái ở tổ trông con. Đến khi chim non đủ lông, chim mẹ nói với chồng xin đi kiếm mồi thay chồng, chim trống không cho đi, sợ vợ còn yếu, không chịu nổi nắng gió bất thường. Được ba hôm, chim mái lại nài nỉ xin đi, chim trống bèn chấp nhận. Chim mái bay đi cả ngày mà không kiếm được mồi, đến gần tối, thấy một con nhện giăng tơ trên bông hoa sen, liền bay tới bắt. Nhện sợ chui vào trong hoa, chim mái chui vào theo, chẳng dè hoa khép lại, không bay ra được, đành chờ khi hoa nở mới thoát thân bay về. Về đến nhà “con khóc như ri, chồng thì chẳng có ủ y một lời”. Biết chồng giận, chim mái bèn kể lại mọi chuyện cho chồng nghe, song chim trống tỏ ý ngờ vực, ghen tuông, cho rằng “hoa đâu lại có hợp vào nở ra”. Chim mái thấy vậy thì vô cùng buồn bã. Sau đó vợ chồng lời qua tiếng lại mãi, khiến vị sư nọ bực mình, không sao nhịn được, bèn cầm cả bốn chim và hai chim trống mái vật vào khối đá cho chết, xong “trên đầu mấy tổ dất đi, cưỡi mây nương gió tốc về Tây phương”. Đến nơi, ông gặp Phật, kể lại mọi chuyện, “Phật rằng làm sự chẳng hằng, sát sinh thôi lại nói năng ý gì. Có đường có nẻo thì đi, già lam yết đế tức thì đuổi ra”. Ông “giận thay bèn trở lại nhà, quyết rằng tìm chốn yên hà thong dong. Non Bồng nước Nhược dầu lòng, vui bề sơn thủy lánh vòng trần gian”. Bản hạnh đến đây là hết, cuối cùng, là lời khuyên nhủ mọi người nên tu tỉnh tính nết của mình, trong các quan hệ vợ chồng, bạn bè, anh em, hay khi sang giàu… đều phải biết giữ chữ nhẫn mới có thể được tốt đẹp, bền lâu. Tác phẩm kết thúc bằng mấy câu: “Thư đường vui hứng thảnh thơi, xem trong sự thế nhuận chơi chép làm. Nôm na chắp chỉnh lời phàm, xin người đồng chí cho làm cùng nên”.

Dạng kể hạnh thường là tác phẩm văn học dân gian có gắn bó khá mật thiết với Phật giáo, được dùng ngâm đọc trong các dịp lễ tiết ở các chùa miếu. Về dạng thức của nó đôi khi có thể xem như các truyện thơ Nôm. Bản hạnh trên đây tương tự một truyện Nôm ngắn diễn tích xưa cốt để thuyết cho chữ nhẫn, cho rằng trong mọi trường hợp cần phải lấy nhẫn nhục làm đầu. Về văn phong, lời thơ cũng khá lưu loát song cách lập ý không thực tinh kì, nội dung tư tưởng cũng khá bình thường, không có gì đặc sắc. Xét về ngôn từ, phong cách, tác phẩm này khá lạc lõng với các phẩm khác của Trần Tế Xương.

Phần thứ hai: Bắt đầu từ tờ 30a đến tờ 62a. Mở đầu ghi: “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm bát thập tam thủ - Vị Xuyên Tú tài Trần Cao Xương Tử Thịnh diễn tập唐詩合選五言律解音八十三首渭川秀才陳高昌子盛演輯” (Hợp tuyển 83 bài giải âm thơ ngũ ngôn Đường luật - Tú tài ở Vị Xuyên là Trần Cao Xương, [tự là] Tử Thịnh diễn âm và biên tập). Phần này mở đầu bằng bài Dã vọng của Vương Tích, kết thúc bằng bài Lữ du thương xuân của Lí Xương Phù. Sau bài Lữ du thương xuân ghi: “Đường thi diễn âm chung tất唐詩演音終畢” (Hết phần diễn âm thơ Đường). Điều đầu tiên đáng chú ý là nhan đề phần này có điểm không hoàn toàn thống nhất, ở chỗ trong nhan đề vừa ghi là “giải âm解音” lại vừa ghi là “diễn tập演輯”, trong khi đó ở tất cả các bài dịch đều ghi thống nhất là “diễn âm演音”. Cách trình bày, ghi nguyên văn tên bài thơ chữ Hán, tác giả (với tác giả được “diễn âm” nhiều bài thì chỉ ghi tên tác giả bài thơ ở bài đầu tiên), sau đó ghi “diễn âm” và phần nội dung diễn âm. Hình thức “diễn âm” là dịch thành thơ Nôm. Chẳng hạn bài đầu tiên, nguyên viết như sau:

 

Dã vọng - Vương Tích

Đông cao bạc mộ vọng,

Tỉ ỷ dục hà y?

Thụ thụ giai thu sắc,

Sơn sơn duy lạc huy.

Mục đồng khu độc phản,

Lạp mã đái cầm quy.

Tương cố vô tương thức,

Trường ca hoài thái vi.

 

Diễn âm:

Trăng lọn ngàn cao buổi tối mòng,

Một mình chửa dễ đứng ngồi xong.

Cây lồng sắc chiếu mầu thu tía,

Non ánh tà dương lộng vẻ hồng.

Trẻ mục giục trâu lùa cái nghé,

Người săn cưỡi ngựa xách con hồng.

Cùng trông lại, biết ai hay tá?

Tưởng hái rau vi những ngại ngùng.

Các tác giả và tác phẩm được diễn âm theo cách ghi của phần này cụ thể như sau: 1. Vương Tích (2 bài: Dã vọng, Thái vi), 2. Vương Bột (1 bài: Thánh tuyền yến), 3. Vương Quýnh (2 bài: Tòng quân hành, Tống Đỗ Thiếu Phủ chi nhậm Thục châu), 4. Lạc Tân Vương (1 bài: Tại ngục vịnh thiền), 5. Trần Tử Ngang (3 bài: Vãn thứ Lạc Hương huyện, Xuân dạ biệt cố nhân, Xuân nhật đăng Cửu Hoa quán), 6. Đỗ Thẩm Ngôn (5 bài: Bồng Lai tam điện thị yến phụng sắc vịnh Chung Nam sơn, Thu dạ yến lâm tân Trịnh Minh phủ trạch, Hạ nhật quá Thất Sơn trai, Họa Tấn Lăng Lục Thừa tướng Tảo xuân du vọng, Họa Khang Ngũ Vọng nguyệt hữu hoài), 7. Thẩm Thuyên Kì (3 bài: Hàm Sơn, Dạ túc Thất Bàn lĩnh, Hỗ tụng đăng phong đồ trung tác, Lục Hồn sơn trang), 8. Lí Bạch (14 bài: Cung trung hành lạc - tam thủ, Thu tứ, Kim Lăng, Khẩu chiếm tặng trưng quân Lư Hồng công thời bị triệu, Tặng hành trưng quân Thiếu Dương, Tặng Mạnh Hạo Nhiên, Giang Hạ biệt Tống Chi Đễ, Độ Kinh Môn tống biệt, Tống hữu nhân, Tầm Ung tôn sư ẩn cư, Phỏng Đái thiên tiên đạo sĩ bất ngộ, Quá Thôi Bát Trượng thủy đình), 9. Tạ Thiếu (2 bài: Thu đăng Tuyên Bắc lâu, Tạ công đình), 10. Mạnh Hạo Nhiên (14 bài: Động Đình, Dữ chư công tử đăng Nghiễn sơn, Quy Chung Nam sơn, Chu trung hiểu vọng, Đề Nghĩa công thiền phòng, Dạ độ Tương thủy, Đề Chung Nam sơn, Sơn cư thu minh, Quy Tung Sơn tác, Chung Sơn biệt nghiệp, Quá Hương Tích tự, Tống Trương tử úy Nam Hải, Đăng Tổng Trì các, Túy hậu tặng Trương Húc), 11. Đỗ Phủ (22 bài: Đăng Duyện Châu thành lâu, Xuân nhật hoài Lí Bạch, Nguyệt, Sơ nguyệt, Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt, Thập lục dạ ngoạn nguyệt, Thập thất dạ đối nguyệt, Đảo y, Lạc nhật, Hiểu vọng, Bộ chư công tử trượng bát mãn huề kĩ nạp lương vãn tế ngộ vũ, Dã vọng, Đăng Nhạc Dương lâu, Tần Châu tạp vịnh, Chu trung dạ tuyết hữu hoài Lư tử tứ thị ngự đệ, Đối tuyết, Vãn tình, Xuân dạ hỉ vũ, Huỳnh hỏa, Động phòng, Cầm đài, Vọng Tần Châu), 12. Tổ Vịnh (1 bài: Tô thị biệt nghiệp), 13. Vương Loan (1 bài: Thứ Bắc Cố sơn hạ), 14. Khâu Vi (1 bài: Đăng Nhuận Châu thành), 15. Trương Vị (1 bài: Đồng Vương Trưng quân Động Đình hữu hoài), 16. Thường Kiến (1 bài: Phá Sơn tự hậu thiền viện), 17. Trương Quân (2 bài: Nhạc Dương lâu vãn cảnh, Tầm Nam Khê Thường đạo sĩ), 18. Tiền Khởi (1 bài: Họa Vạn Niên Thành thiếu phủ Ngụ Trực), 19. Vi Ứng Vật (1 bài: Tống Phần Thành Vương Chủ bạ), 20. Tư Không Thự (1 bài: Vân Dương quán dữ Hàn Thân túc biệt), 21. Tải Kính Luân (1 bài: Trừ dạ túc Thạch Đầu dịch), 22. Bạch Cư Dị (1 bài: Thảo), 23. Vu Lương Sử (1 bài: Xuân sơn dạ nguyệt), 24. Lí Xương Phù (1 bài: Lữ du thương xuân). Tổng cộng diễn âm thơ của 24 tác giả thời Đường, gồm 81 nhan đề (trong đó riêng nhan đề Cung trung hành lạc của Lí Bạch gồm 03 bài), tổng cộng dịch Nôm tất cả 83 bài thơ Đường.

Tuy nhiên, khi xem kĩ từng tác phẩm, tác giả, sách ghi chép có nhầm lẫn. Về tên bài, do hình thể văn tự gần giống nhau, sách chép nhầm tên một số tác phẩm: bài Tống Đỗ Thiếu Phủ chi nhậm Thục Xuyên bị chép nhầm thành Tống Đỗ Thiếu Phủ chi nhậm Thục Châu, bài Vọng Tần Xuyên chép nhầm thành Vọng Tần Châu. Tác giả Đái Thúc Luân chép nhầm thành Tải Kính Luân. Xét về tác quyền, sách cũng ghi chép sai sót. Cụ thể là các bài: Hỗ tụng đăng phong đồ trung tác và Lục Hồn sơn trang là tác phẩm của Tống Chi Vấn, không phải của Thẩm Thuyên Kì; các bài: Đề Chung Nam sơn, Sơn cư thu minh, Quy Tung Sơn tác, Chung Sơn biệt nghiệp, Quá Hương Tích tự là của Vương Duy, không phải của Mạnh Hạo Nhiên; bài: Tống Trương tử úy Nam Hải và Đăng Tổng Trì các là của Sầm Tham, không phải của Mạnh Hạo Nhiên; bài: Túy hậu tặng Trương Húc là của Cao Thích, không phải của Mạnh Hạo Nhiên; bài Vọng Tần Xuyên là của Lí Kì, không phải của Đỗ Phủ; bài: Tầm Nam Khê Thường đạo sĩ là của Lưu Trường Khanh, không phải của Trương Quân.

Sau khi xác định rõ tác giả của các bài, đính chính tên bài và tên tác giả, các tác giả và tác phẩm được diễn Nôm trong phần này như sau: 1. Vương Tích (2 bài: Dã vọng, Thái vi), 2. Vương Bột (1 bài: Thánh tuyền yến), 3. Vương Quýnh (2 bài: Tòng quân hành, Tống Đỗ Thiếu Phủ chi nhậm Thục Xuyên), 4. Lạc Tân Vương (1 bài: Tại ngục vịnh thiền), 5. Trần Tử Ngang (3 bài: Vãn thứ Lạc Hương huyện, Xuân dạ biệt cố nhân, Xuân nhật đăng Cửu Hoa quán), 6. Đỗ Thẩm Ngôn (6 bài: Bồng Lai tam điện thị yến phụng sắc vịnh Chung Nam sơn, Thu dạ yến lâm tân Trịnh Minh phủ trạch, Hạ nhật quá Thất Sơn trai, Họa Tấn Lăng Lục Thừa tướng Tảo xuân du vọng, Họa Khang Ngũ Vọng nguyệt hữu hoài), 7. Thẩm Thuyên Kì (1 bài: Hàm Sơn, Dạ túc Thất Bàn lĩnh), 8. Tống Chi Vấn (2 bài: Hỗ tụng đăng phong đồ trung tác, Lục Hồn sơn trang), 9. Lí Bạch (14 bài: Cung trung hành lạc - tam thủ, Thu tứ, Kim Lăng, Khẩu chiếm tặng trưng quân Lư Hồng công thời bị triệu, Tặng hành trưng quân Thiếu Dương, Tặng Mạnh Hạo Nhiên, Giang Hạ biệt Tống Chi Đễ, Độ Kinh Môn tống biệt, Tống hữu nhân, Tầm Ung tôn sư ẩn cư, Phỏng Đái thiên tiên đạo sĩ bất ngộ, Quá Thôi Bát Trượng thủy đình), 10. Tạ Thiếu (2 bài: Thu đăng Tuyên Bắc lâu, Tạ công đình), 11. Mạnh Hạo Nhiên (6 bài: Động Đình, Dữ chư công tử đăng Nghiễn sơn, Quy Chung Nam sơn, Chu trung hiểu vọng, Đề Nghĩa công thiền phòng, Dạ độ Tương thủy), 12. Vương Duy (5 bài: Đề Chung Nam sơn, Sơn cư thu minh, Quy Tung Sơn tác, Chung Sơn biệt nghiệp, Quá Hương Tích tự), 13. Sầm Tham (2 bài: Tống Trương tử úy Nam Hải, Đăng Tổng Trì các), 14. Cao Thích (1 bài: Túy hậu tặng Trương Húc), 15. Đỗ Phủ (21 bài: Đăng Duyện Châu thành lâu, Xuân nhật hoài Lí Bạch, Nguyệt, Sơ nguyệt, Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt, Thập lục dạ ngoạn nguyệt, Thập thất dạ đối nguyệt, Đảo y, Lạc nhật, Hiểu vọng, Bộ chư công tử trượng bát mãn huề kĩ nạp lương vãn tế ngộ vũ, Dã vọng, Đăng Nhạc Dương lâu, Tần Châu tạp vịnh, Chu trung dạ tuyết hữu hoài Lư tử tứ thị ngự đệ, Đối tuyết, Vãn tình, Xuân dạ hỉ vũ, Huỳnh hỏa, Động phòng, Cầm đài), 16. Lí Kì (1 bài: Vọng Tần xuyên), 17. Tổ Vịnh (1 bài: Tô thị biệt nghiệp), 18. Vương Loan (1 bài: Thứ Bắc Cố sơn hạ), 19. Khâu Vi (1 bài: Đăng Nhuận Châu thành), 20. Trương Vị (1 bài: Đồng Vương Trưng quân Động Đình hữu hoài), 21. Thường Kiến (1 bài: Phá Sơn tự hậu thiền viện), 22. Trương Quân (1 bài: Nhạc Dương lâu vãn cảnh), 23. Lưu Trường Khanh (1 bài: Tầm Nam Khê Thường đạo sĩ ), 24. Tiền Khởi (1 bài: Họa Vạn Niên Thành thiếu phủ Ngụ Trực), 25. Vi Ứng Vật (1 bài: Tống Phần Thành Vương Chủ bạ), 26. Tư Không Thự (1 bài: Vân Dương quán dữ Hàn Thân túc biệt), 27. Đái Thúc Luân (1 bài: Trừ dạ túc Thạch Đầu dịch), 28. Bạch Cư Dị (1 bài: Thảo), 29. Vu Lương Sử (1 bài: Xuân sơn dạ nguyệt), 30. Lí Xương Phù (1 bài: Lữ du thương xuân). Tất cả gồm 30 tác giả, 83 bài thơ Đường. Với phần này, ta biết đến Trần Tế Xương không chỉ với tư cách một nhà thơ mà còn là một dịch giả thơ Đường.

Tuy nhiên, có vài điều có thể gây nghi vấn. Trước hết, đó là sự dụng công khá lớn để có thể có được những dịch phẩm này. Để chọn ra hơn tám mươi bài thơ ngũ ngôn của hơn ba mươi tác giả, người diễn âm hẳn phải tìm đọc và cân nhắc từ một lượng tác giả và tác phẩm lớn hơn nhiều lần. Liệu với bản tính của mình (ham chơi thành “bệnh”), ngay việc cố học cố nhớ cho đúng những cấm kỵ trường quy ông còn chẳng làm nổi (tám khoa chưa khỏi phạm trường quy), liệu ông có dư dả thời gian để miệt mài đọc chọn và dịch một lượng tác phẩm lớn như vậy? Thứ nữa, về ngôn ngữ văn chương và tài năng dịch thuật, không thấy có bài thơ nào được dịch đạt tới mức xuất sắc nổi bật, tuy rõ ràng người dịch cũng tỏ ra có vốn liếng học vấn và khá nhuần nhị trong ngôn ngữ biểu đạt. Cuối cùng, về nội dung của hơn tám mươi bài thơ được chọn, không rõ ràng trong định hướng chủ đề - đề tài, cảm hứng sáng tạo, không nhằm chỉ vào các nhà thơ hàng đầu của nền thơ Đường mà có cả những tác giả, tác phẩm “thường thường bậc trung”. Đến nay, đây là sách Hán Nôm duy nhất chép các bản dịch thơ Đường gắn với Trần Tế Xương. Vì thế, không có nhiều cơ sở để hoàn toàn tin tưởng rằng các bản dịch thơ Đường trên đây là của Trần Tế Xương.

Phần thứ ba: Bắt đầu từ tờ 62b đến tờ 95a. Mở đầu ghi: “Thiên Nam Hương Sơn Quan Âm Phật chân kinh tân dịch nhị thập nhị đoạn天南香山觀音佛真經新譯二十二斷” (22 đoạn dịch mới sách Quan Âm Phật chân kinh ở Hương Sơn, cõi trời Nam). Không ghi tên tác giả. Phần này dịch 22 đoạn sách Quan Âm Phật chân kinh, hình thức là diễn ca theo thể lục bát. Đoạn đầu tiên: “Tổng tự đại ý 總叙大意”, nội dung cụ thể như sau:

“Rộng xem tông giáo năm châu,

Sắc không không sắc huyền đâu lại huyền.

Tại người tu luyện cho kiên,

Tinh thần ý khí căn nguyên đó mà.

Tha hồ quỷ quái yêu ma,

Chi chi chi cũng lòng ta dẹp dần.

Dụng công thân độ được thân,

Độ nhân độ thế tự gần đến xa.

Lạc Hồng đất nước Nam ta,

Bốn ngàn năm lẻ dần dà văn minh.

Tự xưa thần giáo đã đành,

Xem trong Phật giáo chân kinh còn truyền.

Hương Sơn một động phúc thiên,

Bể Nam dấu cũ như in rành rành.

Vừa đời Vĩnh Lạc nhà Minh,

So vào Nam Việt sử xanh đời Trần”.

Xem nội dung và cách hành văn của đoạn trên, dễ nhận thấy thời gian dịch tác phẩm sớm nhất cũng chỉ khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Dưới đề mục các đoạn hoặc xem trong nguyên văn thảng hoặc có một vài cước chú hoặc lời đánh giá (phê), song số lượng không nhiều. Sau đoạn 22 là bài thơ “đề từ 題辭”, cuối cùng ghi: “Chân kinh tân dịch chung tất真經新譯終畢” (hết phần chân kinh tân dịch).

Trần Nghĩa trong Thư mục đề yếu cho biết đây là bản dịch của Giá Hiên Kiều Oánh Mậu dịch Nôm và viết lời tựa năm Duy Tân Kỉ Dậu [1909]. Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn một bản Hương Sơn Quan Thế Âm chân kinh tân dịch香山觀世音真經新譯, kí hiệu AB.271, in từ bản khắc gỗ, niên đại đề bên phải bìa sách: “Ngày kí vọng [16] tháng mười năm Kỉ Dậu niên hiệu Duy Tân”, “Khởi bút từ 23 tháng chín đến 16 tháng mười thì xong bản thảo, ngày 18 xong lời tựa, 19 thì viết xong”; bìa phải ghi: “ngày 28 tháng mười một năm 1909, Giá Sơn thủ đề”. Mở đầu sách là bài Hương Sơn chân kinh dịch thành kính đề (Kính đề nhân dịch xong cuốn Hương Sơn chân kinh) do Kiều Oánh Mậu viết vào sáng mồng 1 tháng mười một. Đây chính là bài Đề từ ở cuối tác phẩm ghi trong Vị Thành giai cú tập biên. Sau bài thơ là lời tựa của Kiều Oánh Mậu, viết “sau ngày vọng ba ngày [ngày 18] tháng mười năm Kỉ Dậu, niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 [1909]. Sau lời tựa là chính văn cuốn sách, phân là 22 đoạn song trong nhan đề không dùng chữ “đoạn” hay “hồi”, “tiết”, chỉ ghi “đệ nhất…”, “đệ nhị…” đến “đệ nhị thập nhị…” và sau đó là nhan đề từng đoạn. Cuối đoạn 22 ghi: “Cả thảy 48 tờ, 700 câu thơ. Phó bảng khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức, nguyên Bắc Giang Đốc học Giá Sơn Kiều Oánh Mậu kính dịch. Hết chân kinh tân dịch”. Tờ cuối cùng “Phụ đề thơ về Hương Sơn”, gồm thơ của “Đồng Giang Phó bảng Phan Văn Ái kính đề”, thơ của “Khắc Niệm Phó bảng Dương Danh Lập” - 2 bài, thơ của “Mĩ Đức Quản đạo Đặng Trần Hanh đề”, tất cả 4 bài. Cuối cùng ghi: “Quang lộc Thiếu khanh, sung Liêm phỏng sứ, Phó bảng khoa Nhâm Thìn Đông Bạch Đàn Viên Phạm Văn Thụ kính duyệt”, “Bắc Giang Đốc học Trần Xuân Thiều cẩn chú”, “Nguyên An Lão [huyện] doãn về hưu trí là Hương Đình Vương Đan Quế tiếm bình”. Toàn sách kể cả Phụ lục gồm 19 tờ [36 trang], trừ các phần tựa và phụ lục, nội dung hoàn toàn tương đồng với bản Chân kinh tân dịch trong Vị Thành giai cú tập biên, rõ ràng tác phẩm này là của Kiều Oánh Mậu, không phải của Trần Tế Xương.

Phần thứ tư: bắt đầu từ tờ 95b đến tờ 204b. Sau 22 đoạn diễn Nôm Quan Âm Phật chân kinh là phần ghi chép các bài thơ ca dân gian, chủ yếu là các bài thơ, văn vần, xen trong các cặp câu hoặc cuối bài đều có lời giải thích. Chẳng hạn bài thơ mở đầu:

“Rắp toan cưỡi ngựa ra về,

Chàng ra câu đối thiếp đề câu thơ.

Mải vui ngồi chốn áng cờ,

Tưởng nhân duyên ấy bao giờ cho quên.

Chàng về giữ lấy bút nghiên,

Đừng tham nhan sắc mà quên học hành.

Một mai chiếm được khoa danh,

Trước nhà rạng nghiệp, sau mình vinh danh”.

Lời chú viết bằng chữ nhỏ cuối bài như sau: “Thử mĩ nhân, danh sĩ tương đắc nhi châm quy chi từ dã 此美人名士相得而箴規之辭也” (Đây là lời khuyên răn của người mĩ nữ tương đắc dành cho bậc danh sĩ vậy). Đoạn cuối sách là một số câu đố dân gian, tất cả các câu đố đều có lời giải chua chữ nhỏ ở phía dưới.

Như vậy, Vị Thành giai cú tập biên có thể phân là 4 phần lớn như đã mô tả và phân tích ở trên. Phần thứ nhất mang tên Vị Thành giai cú tập biên, phần này ghi do “Nam Định Vị Xuyên Tú tài Phương Tương Trần Cao Xương Tử Thịnh trước tập”. Tuy nhiên, xét nội dung ghi chép, trong phần này có xen một số tác phẩm của các tác giả khác, không hoàn toàn chỉ là tác phẩm của Trần Tế Xương. Phần phê bình (phê) các bài không phải của Tú Xương, song không rõ tác giả của chúng là ai. Trong số các cước chú (không tính “Phụ lục”), có ba lần người viết tự xưng là “ta” hoặc “tôi” (dư), cho thấy tác giả của phần lớn các cước chú là Trần Tế Xương. Xem kĩ các cước chú, có một số cước chú không phải do Trần Tế Xương viết, tiêu biểu như cước chú ở các bài Hoài nhân, Khổ lạo, Quy nông tức sự. Không chỉ vậy, các cước chú ở ba bài này còn cho thấy, người biên tập cuốn sách, hay chí ít là phần này không phải Trần Tế Xương như ghi ở phần đầu.

Phần “Phụ lục” có 4 tác phẩm, mở đầu là 3 bài thơ của Từ Diễn Đồng, tiếp đó là bài Năng nhẫn bất năng hạnh. Năng nhẫn bất năng hạnh là một bản kể hạnh, mà theo tác giả thì nó được diễn từ một tích cổ ra Nam âm. Trong lời cước chú, người viết xưng là “tôi” (dư), song phần này thuộc “Phụ lục”, trước đó đều là thơ của tác giả khác, cho nên có nhiều khả năng bản hạnh này không phải của Trần Tế Xương. Tác phẩm này văn chương khá lưu loát, tề chỉnh, hẳn cũng không phải là tác phẩm do người chép sách này sáng tác.

Xét tổng thể bộ sách nhan đề ở ngoài bìa sách là Vị Thành giai cú tập biên, không ôm trọn được nội dung toàn sách, đáng tin rằng nó chỉ là tiêu đề của phần đầu tiên. Như vậy, đầu sách Vị Thành giai cú tập biên, từ tờ 1a đến tờ 29, không phải do Trần Tế Xương biên tập; sách chép chủ yếu là các bài thơ Nôm, trong đó về cơ bản đáng tin là tác phẩm của Trần Tế Xương song cũng có lẫn một số ít tác phẩm của các tác giả khác. Bản kể hạnh viết bằng thể lục bát ở cuối phần này phong cách xa lạ với các tác phẩm khác của Trần Tế Xương, không chắc là do Trần Tế Xương sáng tác.

Phần thứ hai là “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm Bát thập tam thủ”, phần này ghi do “Vị Xuyên Tú tài Trần Cao Xương Tử Thịnh diễn tập”, tức là ghi rõ do Trần Tế Xương diễn âm và biên tập. Nội dung, dịch 83 bài thơ Đường như tiêu đề đã ghi, tuy nhiên phần này vẫn có những điểm không hoàn toàn thống nhất và một số nhầm lẫn nhỏ; thêm nữa sách Vị Thành giai cú tập biên chép không hoàn toàn nhất quán, đôi chỗ có nhầm lẫn về vấn đề tác quyền hoặc không minh bạch hóa về tác quyền, lại xét thêm về tính cách Trần Tế Xương, xét tác giả các bài thơ Đường được chọn dịch, nội dung, đề tài cùng ngôn ngữ biểu đạt và tài năng dịch thuật, theo chúng tôi, phần dịch thơ Đường này chưa hoàn toàn đáng tin là của Trần Tế Xương.

Phần thứ ba “Thiên Nam Hương Sơn Quan Âm Phật chân kinh tân dịch nhị thập nhị đoạn” (22 đoạn dịch mới sách Quan Âm Phật chân kinh ở Hương Sơn, cõi trời Nam) hoàn toàn chỉ là chép bản dịch Nôm lục bát của Kiều Oánh Mậu, do Phạm Văn Thụ duyệt, cùng phần chú của Trần Xuân Thiều, và một số lời bình của Vương Đan Quế.

Phần thứ tư không có tiêu đề, không ghi người biên chép, không có cơ sở xác tín để khẳng định đó là các tác phẩm do Trần Tế Xương sưu tập và bình giải.

2. Quốc văn tùng kí

Quốc văn tùng kí國文叢記, bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu AB.383, bản chụp Nc.363. Toàn sách 224 tờ. Sách do Hải Châu Tử biên tập (海株子編輯). Phần Mục lục đầu sách ghi là: “Trong tập này xuyết thập của những bậc danh nhân sau này…”, rồi liệt kê các tác giả, bắt đầu từ Trưng Nữ Vương, Ỷ Lan phu nhân, Nguyễn Thị Dung (Trịnh chúa phi), Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Trần Khánh Dư đến Phan Đình Chi, Trần Kế Xương 陳繼昌, tất cả 62 tác giả. Tuy nhiên sau Lời dẫn, phần mở đầu quyển thượng chỉ bắt đầu bằng bài thơ Bán than của Trần Khánh Dư, kế đó là bài Hịch đánh quân Nguyên của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (dịch Nôm),… Điều đó cho thấy tính không nhất quán của cuốn sách.

Riêng về trường hợp Trần Kế Xương, cuối Lời dẫn ghi: “… Rồi đến ông Trần Kế Xương, người làng Vị Xuyên, tỉnh Nam Định, đỗ Tú tài đời vua Thành Thái năm thứ mười hai (1891), cũng hay thơ Nôm lắm, vậy chép riêng ra một bộ Tú Xương thi tập (kiến hậu)”.

Bắt đầu từ tờ 68b đến tờ 87b ghi “Tú Xương thi tập”, cước chú: “Nam Định tỉnh, Tú tài Trần Kế Xương” ([của] Tú tài Trần Kế Xương, người ở Vị Xuyên, tỉnh Nam Định). Phần này mở đầu bằng bài Thi hỏng (3 bài): 1. Thi hỏng (3 bài), 2. Than ốm, 3. Ghẹo hai kĩ nữ (2 bài), 4. Mùa hè mặc áo bông, 5. Tự tiếc, 6. Vịnh tiến sĩ giấy, 7. Than đạo học nho, 8. Học lộ than mình, 9. Vịnh tết trung thu, 10. Vịnh đèn kéo quân, 11. Đề Nam âm thi tập, 12. Cô hầu gửi thăm quan lớn, 13. Cô hầu gửi cho nhân tình, 14. Không vay mà giả, 15. Sơ ông chầu văn hai cô lên đồng, 16. Ông lão vay gái, 17. Áng đánh vật, 18. Cảnh buồn, 19. Bực mình, 20. Gửi thơ thăm vợ, 21. Gái nuôi chồng, 22. Thuật hoài, 23. Bàn đèn thuốc phiện, 24. Trách nhân tình, 25. Người ăn chơi cờ bạc thua, 26. Gái chửa hoang gửi cho người tình, 27. Lấy lẽ thứ tư, 28. Tự cười mình, 29. Than nghèo (3 bài), 30. Tự đắc, 31. Gái đi tu, 32. Thương ai, 33. Gửi cho nhân tình (2 bài), 34. Đêm dài, 35. Vịnh thơ tết, 36. Xuân nhật ngẫu hứng, 37. Lúc túng, 38. Nhớ bạn, 39. Vịnh bạn, 40. Nước lụt, 41. Cô Tây đi tu, 42. Hỏi thăm người quen, 43. Đi thi, 44. Cười mình, 45. Say rượu, 46. Sớm hôm tức cảnh, 47. Vay sư, 48. Gửi thăm bạn phải giam, 49. Lạc đường, 50. Chơi hát ả đào, 51. Tự thuật, 52. Ông lão cổ nhân, 53. Ông hàn sợ vợ bỏ, 54. Vịnh người tát nước, 55. Gửi cho cố nhân, 56. Vị Hoàng hoài cổ, 57. Gần tết than việc nhà, 58. Mừng ông Cử Bùi lấy vợ kế, 59. Ngẫu hứng, 60. Đại hạn, 61. Gửi cho ông Thủ khoa Phan, 62. Lấy lẽ, 63. Quan tại gia, 64. Trung thu ngắm trăng, 65. Lo xa, 66. Ngẫu vịnh, 67. Gửi cho bạn, 68. Chiêm bao (2 bài), 69. Đêm buồn, 70. Đổi khao thi, 71. Tự ngụ, 72. Vịnh tòng, 73. Được đồng tiền, 74. Năm mới chúc nhau (4 bài), 75. Kết pháo, 76. Tài trống chầu, 77. Cậu ấm gửi cho vợ, 78. Ả đào lấy khách, 79. Bảo chim câu, 80. Khẩn điền (4 bài), 81. Ngày tết tặng cô đào, 82. Nhớ bạn, 83. Dạ hoài, 84. Đi đò gặp nhau, 85. Muốn tới Bồng Lai. Tất cả 85 đề mục, 99 bài.

Tiếp sau là “Bổ di” bắt đầu bằng bài Chín mươi tự thọ của “Cụ Bùi Bỉnh Uyên”. Từ tờ 92b dưới nhan đề bài Vị đạt tự thán ghi: “Tú Xương dĩ hạ” (Dưới đây là thơ Tú Xương), đến hết tờ 98a gồm các bài: 1. Vị đạt tự thán, 2. Vô oán, 3. Gửi cho cô đào, 4. Không phòng, 5. Tái giá - Làm lẽ ông già, 6. Gái hóa lấy chồng quan, 7. Nói dữ, 8. Lãng ngâm, 9. Thu lữ, 10. Trung thu bộ nguyệt, 11. Trùng cửu đăng cao, 12. Cửu nguyệt tích vũ, 13. Sơ đông, 14. Thúy Sơn hoài cổ, 15. Vị Hoàng hoài cổ, 16. Nguyên đán, 17. Không ngủ, 18. Hí nguyệt, 19. Kĩ than thân (2 bài), 20. Mộng xuân, 21. Viễn hoài, 22. Vấn hữu, 23. Đình áng người mẹ con ta, 24. Điệu nội, 25. Thay lời thuốc phiện nói. Phần này gồm 25 đề mục, 26 bài.

Cuối tờ 98b lại ghi thơ Tú Xương (Tú Xương dĩ hạ), đến tờ 100b gồm các bài: 1. Chúc năm mới, 2. Rủ chơi xuân, 3. Đọc sách đêm xuân, 4. Hỏi xuân, 5. Thưởng xuân, 6. Xuân tình, 7. Xuân đán vũ cảm tác (4 bài), 8. Hỏi trăng hỏi nước, 9. Chinh phụ. Cả thảy 9 đề mục, 12 bài.

Cuối tờ 101b, đến 102b gồm các bài: 1. Thằng hề, 2. Hoa súng tự trào, 3. Chừa rượu, 4. Chừa gái, 5. Than nghèo (3 bài). Cả thảy 5 đề mục, 7 bài.

Tờ 104 là Quốc văn tùng kí - hạ, vẫn ghi: “Hải Châu tử biên tập”. Ở tờ 107 có hai câu đối:

“Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo/ Nhân tình bạc thế lại xoa vôi”.

“Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh/ Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ”.

Hai đôi câu đối này vốn được coi là của Trần Tế Xương xong ở đây không ghi tác giả.

Tờ 121b ghi bài Hỏng thi phú (Tú tài Trần Kế Xương), tờ 199b-2001 có bài Bài hát trăng, Bài hát trời; tờ 200b đến 201b có các bài: Bài hát tết dán câu đối, Nợ phong lưu, Cậu Mán, Bài hát tiền (của Tú Xương), tờ 202b đến 203a có các bài: Hát ả đào, Tự thuật. Cả thảy 9 bài.

Tổng hợp trong Quốc văn tùng kí có 153 bài ghi rõ là của Trần Kế Xương. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng trong tập này có lẫn một số bài của Nguyễn Khuyến, Phạm Ứng Thuần, Đinh Chương Dương, Từ Diễn Đồng, Đoàn Như Chương, Vũ Đình Khôi, Vũ Tích Cống, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Tử, Châu Nguyễn, Nguyễn Công Trứ, tất cả là 20. Số còn lại đến nay còn được chấp nhận khoảng 56 bài(6). Ý kiến này có lẽ cần cân nhắc lại, vì trong tập có 153 tác phẩm, nếu có cơ sở hoàn toàn xác tín để chứng minh trong sách chép lẫn 20 tác phẩm của các tác giả khác, số còn lại vẫn là 133 bài, không nên khinh suất loại bỏ quá nửa số bài còn lại.

3. Việt túy tham khảo

Việt túy tham khảo越粹參考, bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu AB.386. Trang đầu ghi là do “Đằng Châu cư sĩ Nguyễn Thiệu tập biên”. Sách mở đầu bằng bài Thơ bán than của Trần Khánh Dư, kết thúc bằng Bài ca gửi thăm bạn thân (không ghi tác giả). Toàn sách 53 tờ.

Từ tờ 12a đến 18b ghi các bài thơ của Tú Xương. Bắt đầu phần thơ ở tờ 12a, ghi: “Dưới đây là tập thơ của Tú tài Nguyễn Tế Xương, người xã Vị Xuyên, tỉnh Nam Định” (Nam Định tỉnh, Vị Xuyên xã, Tú tài Nguyễn Tế Xương thi tập dĩ hạ). Chữ “Nguyễn” sau có người sửa sang bên phải là “Trần”. Thơ Tú Xương trong phần này gồm các bài: 1. Buồn đêm dài (2 bài), 2. Khi túng, 3. Nhớ anh em bạn thân, 4. Vịnh vợ anh em bạn, 5. Nước lụt năm Bính Ngọ, 6. Trông bảng thi, 7. Thương người trái duyên, 8. Cô Tây đi tu, 9. Hỏi thăm ông ấm, 10. Vịnh người đi thi, 11. Đau mắt, 12. Chưa may áo, 13. Ngụ mình, 14. Rượu say, 15. Trời hôm, 16. Tặng người vay nợ sư không được, 17. Đưa cho bạn phải giam ở trong nhà pha, 18. Lạc đường, 19. Buồn đêm dài, 20. Chữ nho, 21. Vịnh cô lái buôn, 22. Vịnh cô đầu, 23. Vịnh người gái góa muốn kết duyên một người tài phú, 24. Tức cảnh ngụ mình, 25. Vịnh nhà hát tuồng, 26. Được đồng tiền. Tất cả gồm 26 tiêu đề, 27 tác phẩm.

Tờ 30a đến 31a chép 1 bài phú, đó là bài Phú hỏng thi, dưới nhan đề có ghi: “Của ông Tú Xương”. Như vậy, phần ghi chép tác phẩm Tú Xương gồm Tất cả 27 đề mục, 28 bài. Trong số này, có một số bài đã được xác định là thơ của các tác giả khác, như bài “Cô Tây đi tu của Phạm Ứng Thuần, Chiều hôm của Từ Diễn Đồng, Lạc đường của Đinh Chương Dương”(7). Trừ đi các bài đã xác định rõ tác giả, tác phẩm do Tú Xương sáng tác chép trong tập này nhiều nhất là 25 bài.

4. Nam âm thảo

Nam âm thảo南音草, bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu VHv.2381. Tên ngoài bìa tập sách là Nam âm thảo南音草, phía trái bìa sách ghi: “Hà Nam, Lam Cầu Lê gia sao tập di biên” (là di sách sao tập, di biên của nhà họ Lê ở Lam Cầu, Hà Nam), tuy nhiên trang chính thức lại ghi: “Cổ xúy nguyên âm, lối văn thơ Nôm, in lần thứ nhất”, rồi kế đó là bài tựa của Nguyễn Đông Châu 阮東周. Sau lời tựa là nội dung chính của tập sách, ghi: “Cổ xúy nguyên âm, một là thơ luật, thất ngôn ngũ ngôn”. Như vậy, thực chất sách này tên là Cổ xúy nguyên âm. Sách viết dạng khải-hành, gồm 196 tờ. Nội dung chính là diễn giảng về dạng thức cách luật các thể thức thơ ca, sau đó dẫn các ví dụ bằng các bài thơ của nhiều tác giả khác nhau, như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… Nhiều bài dẫn không ghi rõ tác giả. Trong sách chép một số bài của Trần Tế Xương xong chỉ có bài “Làm ruộng - Bốn bài”, ghi rõ là của “Ông Tú Xương” (Tờ 34a - 34b). Các bài không ghi rõ là của Tú Xương song có thể tin là của Tế Xương vì chúng từng xuất hiện trong các tập Vị Thành giai cú tập biên và Quốc văn tùng kí (chẳng hạn các bài: Than đạo học, Học trò than mình, Đèn kéo quân, Trách nhân tình, Chửa hoang…), được chép rải rác ở nhiều tờ khác nhau, số lượng ước chừng khoảng trên 20 bài.

Ngoài các sách trên, Thư mục đề yếu cho biết trong Thi văn tập lục và Tiên đan gia bảo cũng có tác phẩm của Tú Xương.

Thi văn tạp lục詩文雜錄: Sách có hai kí hiệu: bản VHv.2469 và A.2299. Bản VHv.2469 không thấy tên sách, mở đầu (tờ 1a) là hàng chữ “Hiển thánh tứ khai tâm linh phù thức như hậu顯聖賜開心靈符式如後” (Hiển thánh ban bùa thiêng khai tâm, dạng thức như sau), sau đó là nội dung. Tờ 2a ghi bài Tế tử khấp nhạc mẫu trướng văn 婿子泣岳母帳文 (Trướng văn của con rể khóc mẹ vợ), sau nhan đề ghi là “Thi văn tạp lục詩文雜錄” bằng kiểu bút sắt, hẳn là thêm vào sau, cho thấy sách này vốn không hề có nhan đề, là tập sách ghi chép vụn vặt lẻ tẻ nên người làm thư mục đặt tiêu đề cho nó là Thi văn tạp lục với ý là sách “ghi chép hỗn tạp các tác phẩm thơ văn”. Ở tờ 41a ghi “Tập thơ của Trần Kế Xương, Tú tài ở Vị Hoàng, Nam Định” (南定渭潢秀才陳繼昌詩集), từ tờ 41a đến 42a ghi các bài: 1. Chúc xuân tiết (4 bài), 2. Tiến sĩ giấy, 3. Trung thu ngoạn nguyệt, 4. Dại khôn, 5. Ngày tết, 6. Lạc đường, 7. Lo xa, 8. Vịnh xuân, 9. Vịnh hạ, 10. Vịnh thu, 11. Vịnh đông. Tất cả gồm 11 nhan đề, 14 bài. Các bài này về cơ bản đều từng được ghi trong Vị Thành giai cú tập biên và Quốc văn tùng kí. Về bốn bài vịnh các mùa xuân, hạ, thu, đông, tác giả Tú Xương toàn tập dẫn theo Văn đàn bảo giám cho là tác phẩm của Ngô Chi Lan, đồng thời cho biết “Trong Nam âm thảo cũng có ghi rõ tác giả của bốn bài vịnh này: bài thơ của nữ Học sĩ đời Lê là Ngô Thị Lan (tờ 38b)”(8). Liên quan đến sáng tác của nữ Học sĩ Ngô Chi Lan thời Lê sơ, đến nay ta chỉ được biết một số rất ít tác phẩm, trong đó có 4 bài viết về bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Bốn bài này vốn được ghi sớm nhất trong phần Kim Hoa thi thoại của Truyền kì mạn lục, song là thơ thất ngôn bát cú chữ Hán, nội dung không giống bốn bài thơ chép trong Thi văn tạp lục(9).

Khảo sát một cách tổng quan các thư tịch Hán Nôm có ghi chép tác phẩm của Trần Tế Xương, có thể nhận thấy tác phẩm của Trần Tế Xương hiện còn được chép trong nhiều sách khác nhau, tập trung nhất là Vị Thành giai cú tập biên, Quốc văn tùng kí, kế đó là các sách Việt túy tham khảo, Nam âm thảo, Thi văn tạp lục. Đáng chú ý trong các sách, tác phẩm của Trần Tế Xương đều bị chép lẫn tác phẩm của các tác giả khác, hoặc không minh bạch hóa về tác giả, khiến độ tin cậy về tác quyền không cao. Việc minh bạch hóa về tác quyền, tập kết, hệ thống hóa, giới thiệu các trước tác của Trần Tế Xương vì thế tuy là việc làm thiết thực và hết sức có ý nghĩa nhưng như là một sự bất khả kháng, mức độ xác tín vẫn chỉ là rất tương đối mà thôi.

Chú thích:

(1) Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, François Gros - Trần Nghĩa đồng chủ biên, 3 tập, Nxb. KHXH, H. 1993.

(2) Dưới nhan đề bài này có cước chú: “Ngờ là tác phẩm của Tam nguyên Yên Đổ”.

(3) Bài này tàn khuyết, chỉ còn 4 câu.

(4) Bài này tàn khuyết, chỉ còn hai câu.

(5) Các chữ “tính” trong bài này đều bị viết sai thành chữ “quan ”.

(6) Xem Đoàn Hồng Nguyên: Tú Xương toàn tập, Nxb. Văn học, 2010, tr.27.

(7) Đoàn Hồng Nguyên, Sđd, tr.29.

(8) Đoàn Hồng Nguyên, Sđd, tr.28.

(9) Ngoài bản Thi văn tạp lục này còn có bản Thi văn tạp lục kí hiệu A.2299, cũng không thấy ghi tên sách, mở đầu bằng bài Chính khí ca của Văn Thiên Tường, kết thúc bằng một số câu đối. Trong sách ghi chép hỗn độn, có thơ về nhị thập tứ hiếu, thơ vịnh Kiều của Hà Quyền Tốn Phủ, Thanh Tâm Tài nhân thi tập tự, các câu đối viếng tang, v.v… Cuốn này nội dung và hình thức đều khác cuốn Thi văn tạp lục ở trên, trong sách không hề có bài thơ nào của Tú Xương.

Theo Thư mục đề yếu, tác phẩm của Trần Tế Xương ngoài các tác phẩm đã đề cập trên đây, còn được chép trong Tiên đan gia bảo. Tiên đan gia bảo, bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu VHv.2970. Đầu sách có bài chí của Nhàn Vân Đình, theo đó tác giả sách này là Vũ Luyện, hiệu là Ninh Tĩnh chủ nhân. Sách này chép nhiều tác phẩm theo các thể loại của các tác giả khác nhau, phần chiếm số lượng lớn nhất là các câu đối, trướng văn… mừng thọ, điếu viếng. Trong sách này không chép tác phẩm nào của Tú Xương./.

(Tạp chí Hán Nôm, số 3 (112) 2012 (tr.11 - 27)

Trần Ngọc Vương - Phạm Văn Ánh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm