VI | EN
Ảnh hưởng của Nho gia đối với Hoàng Việt luật lệ (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(88) 2008; Tr.3-17)
Số 3(88) 2008

ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIA ĐỐI VỚI HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ

HÀ THÀNH HIÊN - HÁCH ĐÌNH ĐÌNH

Viện Triết học Trung Quốc

Nước Việt Nam từ sau khi giành được độc lập, các vương triều phong kiến đều rất coi trọng việc chế định pháp lệnh và pháp luật, tư tưởng triết học trong pháp luật cũng tương đối phong phú. Hồng Đức pháp điển của triều Lê và Gia Long pháp điển của triều Nguyễn là hai bộ luật rất nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Trong lịch sử pháp chế của thế giới sách này cũng chiếm một vai trò quan trọng nhất định. Các điều luật trong Hồng Đức pháp điểnGia Long pháp điển rất phong phú, có căn cứ lý luận và cơ sở triết học cơ bản. Nhìn chung, những lý luận triết học chính trị phần lớn bắt nguồn từ Nho gia, đều là vì những luận chứng có tính hợp lý và tính hợp pháp chuyên chế quân chủ và quyền uy của hoàng đế phong kiến. Đồng thời những điều luật trong pháp lệnh, pháp luật từ các phương diện cụ thể cũng phản ánh được tình hình đặc thù trong nước và tình hình cuộc sống thực tế xã hội của Việt Nam. Ví dụ như coi trọng phụ nữ, tinh thần chấp pháp nghiêm minh, phản ánh được dân tộc Việt Nam vốn có những đặc sắc về tập quán pháp luật. Điều này có khác một chút so với Trung Quốc. Quan niệm truyền thống trọng nam khinh nữ của Nho gia Trung Quốc khi vào đến Việt Nam đã thể hiện rõ xu hướng suy giảm; bất luận trong pháp luật hay trong cuộc sống thực tế, vai trò của người phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay đều được xác định.

Pháp chế phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho gia một cách sâu sắc, đến triều Nguyễn (1802-1945) thì đạt đến đỉnh cao. Vua Gia Long (1802-1819) chế định Hoàng Việt luật lệ, một tập hợp lớn về pháp luật phong kiến. Có thể nói, ảnh hưởng của tư tưởng Nho gia đối với pháp luật Việt Nam chủ yếu được thể hiện trong Hoàng Việt luật lệ. qua mấy điểm cơ bản sau: Lễ pháp kết hợp, khoan nghiêm tương tề(1); chấp pháp nghiêm minh, pháp luật hóa thân tình; gia tộc chuẩn mực, luân lý pháp trị; duy trì bảo vệ đặc quyền, đẳng cấp phân minh.

Hoàng đế Gia Long để khẳng định chế độ chuyên chế quân chủ, duy trì bảo vệ quyền uy của hoàng thất, củng cố quyền lực thống trị đối với nhân dân,
năm 1811 đã lệnh cho quan Tổng tài Nguyễn Văn Thành(2) biên soạn san định luật lệ. Nguyễn Văn Thành đã kê khảo lệnh điển các triều, tham chiếu Hồng Đức pháp điển của đời Lê và Luật lệ đại Thanh của Trung Quốc, biên soạn thành Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Gia Long pháp điển), vào năm 1815 và được vua Gia Long đích thân ban.

Hoàng Việt luật lệ gồm 22 quyển 398 điều, là bộ sách lớn, tập hợp các điều luật, rất rõ ràng và phong phú. Hoàng Việt luật lệ so với Hồng Đức pháp điển hệ thống đầy đủ hơn, nội dung tỷ mỉ xác thực, cách dùng từ ngắn gọn súc tích, điều quy định tinh tế hơn. Đồng thời phản ánh đầy đủ hiện thực khách quan sự tiến bộ trong tư tưởng lập pháp và cách thức lập pháp cùng với xu hướng ngày càng phức tạp trong mối quan hệ xã hội triều Nguyễn Việt Nam. Hoàng Việt luật lệ ngoài những điều kế thừa từ Hồng Đức pháp điển, còn hấp thụ những tinh hoa từ Đại Thanh luật lệ, Đại Minh luật, Đường luật sơ nghĩa. Tuy nhiên chủ yếu vẫn là tham khảo và đối chiếu từ sách Đại Thanh luật lệ, nhưng có căn cứ vào tình hình trong nước và dân tộc Việt Nam để chọn lọc, vì vậy mang bản sắc mới mẻ của riêng mình và chiếm một vai trò tương đối quan trọng trong lịch sử pháp luật của thế giới. Vua Gia Long cũng rất hài lòng đối với bộ luật này. Trong Ngự chế Hoàng Việt luật lệ tự, nhà vua khen rằng: “Đại điển sáng rực như ánh nhật nguyệt mà không chỗ nào bị ẩn lấp, điều nghiêm truy hỏi trừng trị lẫm liệt như lôi đình sấm sét mà không thể sai phạm được”.

Nội dung cơ bản của tư tưởng pháp luật Nho gia là duy trì bảo vệ lễ trị, dùng lễ là chủ yếu, lễ pháp kết hợp; đề xướng đức trị, đức là chính hình là phụ trợ, khoan dung nhưng lại nghiêm khắc; coi trọng nhân trị, nhân trị và pháp trị cùng kết hợp. Hoàng Việt luật lệ đã lấy tư tưởng pháp luật Nho gia làm căn cứ lý luận dùng để chỉ đạo các phương pháp ứng dụng và nguyên tắc lập pháp của điều luật. Có thể nói Hoàng Việt luật lệ là sự thể hiện tập trung nhất tư tưởng Nho gia trong pháp luật phong kiến Việt Nam.

I/ Lễ pháp kết hợp, khoan nghiêm tương tề

Chúng ta đều biết, hạt nhân của tư tưởng chính trị Nho gia chính là chủ trương lễ trị, đề xướng đức trị nhân chính, nhất định cần tuân thủ chuẩn tắc thì mới hợp với lễ, đó chính là tư tưởng căn bản của lập pháp phong kiến. Trong ứng dụng cụ thể, thì quán triệt nguyên tắc lễ pháp kết hợp, dùng đức là chính hình phạt chỉ là bổ trợ, khoan dung nhưng lại nghiêm khắc.

Vua Gia Long đã vận dụng tư tưởng lễ trị của Nho gia trong công việc chế định Hoàng Việt luật lệ, và đã phát biểu rằng: “Trẫm nghĩ: Thánh nhân cai trị thiên hạ đều dùng luật pháp để xử tội, dùng đạo đức để giáo hóa họ. Hai điều ấy không thiên bên nào bỏ bên nào. Thật vậy, sống trong xã hội, con người với những ham muốn vô bờ, nếu không có luật pháp để ngăn ngừa thì không có cách gì để dẫn dắt người ta vào đường giáo hóa mà biết được đạo đức. Cho nên lời xưa có nói: Pháp luật là công cụ giúp cho việc cai trị thêm tốt đẹp. Lời đó há chẳng phải là chuyện không thực đâu?”(3).

1. Dùng lễ để chỉ đạo chế định pháp luật

Tam cương ngũ thường đã thể hiện được các loại quan hệ xã hội giữa con người và con người trong suốt thời kỳ phong kiến, nó lại là những quy phạm và nguyên tắc đạo đức cơ bản của xã hội phong kiến, mà việc duy trì bảo vệ quân quyền lại chính là hạt nhân của nó. Vì vậy lễ cương thường luôn luôn trở thành căn cứ chủ yếu của lập pháp phong kiến. Hoàng Việt luật lệ cũng không ngoại lệ, quy định rõ ràng “thập ác”十恶, “vị thường xá sở bất nguyên”为常赦所不原(cho dù có đặc xá cũng không thể tha thứ). “Thập ác” chỉ ra mười trọng tội không thể tha miễn: tội mưu phản, mưu đại nghịch, phản bội, ác nghịch, bất đạo, đại bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nội loạn. Mười tội danh này từ Tần Hán về sau đã dần dần hình thành, Bắc Tề gọi là “trọng tội thập điều” chính thức đưa vào luật, luật nhà Tùy sửa đổi thành “thập ác”. Từ đó trải qua các triều Đường, Thanh, trừ có triều Nguyên thì đổi thành “chư ác” 诸恶(4) ra, thì các vương triều hầu như không có gì thay đổi. Sở dĩ đại tội thập ác không thể tha miễn, chính là ở chỗ hành vi của nó phạm đến quy phạm lý luận cơ bản Nho gia về kỷ cương của quân thần, cha con, vợ chồng, uy hiếp đến sự ổn định của xã hội phong kiến và việc củng cố chế độ chuyên chế quân chủ.

2. Lễ điển, lễ văn đều được đưa vào luật

Chế định của Hoàng Việt luật lệ ngoài tiếp thu phương diện chỉ đạo về lễ ra vẫn còn một số điều luật dường như là phiên bản của lễ điển. Ví dụ như Danh lệ luật “bát nghị” là làm theo “bát tịch” trong Chu lễ, thu quan, tiểu tư khấu《周礼·秋官·小司寇》trở thành quy định đặc quyền trong việc miễn giảm hình phạt cận thần, thân tộc của đế vương phong kiến. “Thất xuất tam bất khứ” 七出三不去(7 điều nên bỏ, 3 điều không nên bỏ)(5) trong Hộ hôn luật, nguồn gốc chính là ở Đại đái lễ kýKhổng Tử gia ngữ. Có một số chỗ Hoàng Việt luật lệ đã trực tiếp đưa hành vi không tuân thủ lễ vào định tội là vi phạm pháp luật. Như trong Hoàng Việt luật lệ quyển 9 chương Lễ luật nghi chế điều Thất nghi quy định: “Phàm người trợ giúp tế tự, yết bái viên lăng và triều hội, nếu hành lễ sai lầm và mất nghi thức thì bị phạt một tháng lương. Nghi lễ chính thức nên dùng mà không dùng, lại theo lễ nghi không chính thức, cùng bị phạt một tháng lương”(6).

Cũng có những điều luật diễn dịch theo nguyên tắc của lễ. Như trong Hoàng Việt luật lệ quyển 1 Danh luật lệ, về quy định nhận chuộc người già, trẻ nhỏ, tàn tật, lúc phạm tội còn nhỏ già và bệnh tật, về cơ bản là bắt chước theo quy tắc “Tam xá chi pháp” 三赦之法(nhất xá viết ấu nhược, nhị xá viết lão mạo, tam xá viết xuẩn ngu(7)) trong Chu Lễ và “Điệu mạo bất hình” 悼耄不刑trong Lễ ký. Ngoài ra về luật gia đình trong Hoàng Việt luật lệ tội phân chia tài sản ở riêng là một trong những tội bất hiếu: “Phàm ông bà cha mẹ còn sống, cháu con giữ lễ thì không được có của riêng. Khi cư tang là anh em thì hầu bên cha mẹ, nếu tách hộ khẩu, chia tài sản thì đều là việc làm bất hiếu cả. Cho nên có tội phạt 100 trượng, 80 trượng, nhưng vẫn phải để chung hộ tịch, của cải, nếu ông bà cho phép chia của cải, thì không nói làm gì, còn như ông bà thưa lên quan thì con cháu bị buộc tội. Trong thời hạn để tang mà cháu trưởng đi thưa kiện thì cháu con bị bắt tội, còn nếu ông bà đã di chúc chia của thì cháu trưởng cũng không được đi thưa kiện. Đó cũng là điều thông tình đạt lý vậy” (Chú thích rằng: Khi ông bà cha mẹ còn sống, con cháu không được vì tài sản mà tỏ ra thiếu lễ độ, cho dù ông bà cha mẹ không còn nữa thì anh em khi ở cùng nhau càng phải thể hiện lễ độ hơn đối với các bậc trưởng bối. Trong thời gian để tang anh em còn phải tiếp đãi người thân, nếu phân chia ngay tài sản, thì đều quy vào tội bất hiếu. Có tội phạt 100 trượng, hoặc 80 trượng,đồng thời lệnh thu hợp tài sản và phải về sống cùng nhau. Chú thích còn nói rằng: đợi ông bà cha mẹ cho phép được phân chia thì mới phân chia, nếu ông bà đã cho phép được phân chia thì các bậc tôn trưởng, tất cũng không nên có ý kiến gì, thế là thông tình đạt lý vậy. Đưa ra điều luật như thế, chính là cách dạy người ta chữ hiếu)(8). Cũng chính tính pháp luật hóa trong Lễ ký điển lễ nói rằng khi cha mẹ còn sống thì không được có tài sản riêng. Những quy định trên đây của Hoàng Việt luật lệ thể hiện tư tưởng tôn trọng người già, yêu thương trẻ nhỏ, thương xót người bệnh tật, và đặc biệt là thể hiện rõ được việc đề xướng hiếu đạo trong Nho gia.

3. Định tội và đưa ra khung hình phạt

Căn cứ theo lễ chế của Nho gia, giữa quan hệ họ hàng thân thích, thân hay sơ cũng có phân biệt, già trẻ cũng có tôn ty trật tự. Vì thế, nếu kẻ thấp hèn mà phạm tội đối với người đáng được tôn trọng, kẻ dưới mà phạm tội đối với bề trên, thì căn cứ theo từng trường hợp mà đưa ra khung hình phạt khác nhau. “Phàm như nô tỳ mắng gia trưởng thì bị phạt tội chết, mắng hàng kỳ thân của gia trưởng và ông bà ngoại của gia trưởng thì bị phạt 80 trượng và đi tù 2 năm, đại công bị 80 trượng, hàng tiểu công bị phạt 70 trượng, hàng ty ma bị phạt 60 trượng. Nếu kẻ làm công mắng gia trưởng thì phạt 80 trượng và đi tù 2 năm. Mắng hàng kỳ thân và ông bà ngoại gia trưởng phạt 100 trượng, mắng hàng đại công phạt 60 trượng, mắng hàng tiểu công phạt 50 roi, mắng hàng ty ma phạt 40 roi, bị thưa lên quan là bị tội". (Đó là nói rõ, khi trao đi đổi lại e có sự nghe lầm, cho nên phải chính người ấy nghe, có thể vì tình mà bỏ qua, hay có ý giấu đi, cho nên phải chính người ấy thưa lên. Chú thích rằng: nô tỳ với gia trưởng, danh phận khác biệt xa, cho nên mắng chửi gia trưởng tức sẽ bị hình phạt treo cổ)(9).“Lại như mắng nội ngoại hàng ty ma anh, chị, bị phạt 50 roi; anh chị hàng tiểu công, bị phạt 60 trượng; hàng anh chị đại công, bị phạt 70 trượng; hàng tôn thuộc (gồm ty ma, tiểu công, đại công) mỗi hàng tăng một bậc. Nếu mắng anh chị em họ hàng ruột thịt phạt trăm trượng, mắng hàng chú bác, cô, ông bà ngoại, mỗi hàng tăng một bậc so với mắng anh chị và những người ấy nghe thưa lên thì bị tội. Em mắng chị dâu, chiếu luật đánh lộn của người thường, tăng 1 bậc hình phạt”(10). Có thể thấy kẻ dưới mà có hành vi phạm thượng, mức độ quan hệ càng thân thiết thì xử phạt càng nặng.

Nho gia chủ trương lễ pháp cùng bổ trợ cho nhau, nhằm hữu hiệu hóa việc duy trì bảo vệ trị an lâu dài cho quốc gia và sự ổn định cho xã hội. Lễ nghiêng về việc đề phòng phạm tội, dẫn dắt dân hướng đến điều thiện, nên mới nói là “ngăn cấm trước khi sự việc phát sinh”(11). Pháp luật lại nghiêng về trừng trị tội ác, cấm người làm điều phi nhân bất nghĩa, nên nói là “ngăn cấm sau khi sự việc đã phát sinh”(12). Lễ và pháp đều có căn nguyên xã hội giống nhau, bản chất đều thể hiện lợi ích và ý chí của giai cấp thống trị, nhưng nội dung của lễ rộng hơn, như đi sâu vào đời sống và có tác dụng điều chỉnh đối với xã hội, nghiêm khắc và ràng buộc tinh thần của nhân dân. Hơn nữa lễ vốn là lễ giáo và đức hóa, cùng kết hợp với tình hình trong nước về tôn trọng tông pháp và lý luận, nên càng dễ dàng nhận được sự tiếp nhận của tất cả công chúng trong xã hội. Lễ pháp cùng bổ trợ cho nhau, lấy lễ làm cái chủ đạo, lấy pháp luật làm khuôn mẫu, lấy lễ làm cái nội hàm, lấy pháp luật làm cái ngoại mạo; lấy lễ để làm thay đổi tâm tưởng và quan điểm của người dân, khiến dân hiểu được về lễ, dùng pháp luật để biểu dương điều thiện, răn giới tà ác, làm cho người dân ý thức được uy nghi của pháp luật;dùng lễ để thương yêu chăm sóc dân chúng, thúc đẩy thi hành pháp luật, đồng thời dùng pháp luật để ổn định quốc gia, duy trì bảo vệ an toàn của quốc gia; dùng lễ để trị quốc, cảm hóa lòng dân, khiến cho người dân phải ủng hộ việc thực thi pháp luật của quốc gia, đồng thời dùng pháp luật để quy phạm đạo đức, khiến cho người dân xây dựng lên được đạo đức quan chân chính(13).

II/ Chấp pháp nghiêm minh, pháp luật hóa thân tình

Trong chế độ pháp luật, Nho gia chủ trương thể hiện rõ nguyên tắc “dung ẩn” 容隐. “Dung ẩn” hay còn gọi là “Thân thân tương ẩn” 亲亲相隐(họ hàng thân thích thì cùng che dấu tội cho nhau). Đây cũng là một điều quan trọng trong pháp luật phong kiến. cách thức cùng bao che, dấu diếm, yểm trợ cho nhau giữa những người họ hàng thân thuộc này cũng là một loại hành vi phạm tội, nhưng có thể giảm nhẹ tội hoặc miễn trừ hành vi trách nhiệm hình sự của chủ thể. Khổng Tử chủ trương “cha dấu tội cho con, con dấu tội cho cha”(14), tôn kính đặt ra cơ sở luân lý cho chế độ “dung ẩn”. Đến Tuyên Đế triều Hán, pháp luật được chính thức xác định chế độ “dung ẩn”. Chế độ này sau khi trải qua sự phát triển của các vương triều phong kiến, ngày càng trở nên hoàn bị, đến “Hình pháp Trung Hoa dân quốc” năm 1935, vẫn còn bảo lưu chế độ đó.

Bề ngoài, chế độ “dung ẩn” là trái với quy định, nhưng bản chất lại phản ánh một cách sâu sắc tư tưởng đạo đức luân lý Nho gia. Nhìn từ góc độ quốc gia, lợi ích quốc gia là số một, không cho phép hòa lẫn bất cứ một yếu tố thân tình nào: nhưng từ góc độ đương sự để mà xem xét, quan hệ máu mủ thân tình nó quan trọng hơn bất kể mối quan hệ nào khác. Từ máu mủ thân tình mà hình thành nên nền tảng một gia đình, đó chính là giá đỡ vững chắc của con người trước khi vươn mình ra xã hội. Tư tưởng Nho gia đề cao đạo hiếu và những lễ nghĩa liên quan làm cho quan hệ máu mủ thân tình cùng với gia đình chuẩn mực được khẳng định một cách đầy đủ. Hiếu đạo chính là cảm giác được bảo vệ mang tính tự nhiên của con người đối với họ hàng thân thuộc. Chế độ “dung ẩn” trong pháp chế lấy duy trì bảo vệ hiếu đạo chính là điều cơ bản nhất, sơ khai nhất về sự khoan dung và nhìn nhận một cách thẳng thắn vào tình cảm yêu thương bảo vệ họ hàng thân thuộc. Nó làm cho trong pháp chế có đặc điểm của yếu tố thân tình. Đem cái mâu thuẫn về tình cảm con người và quốc pháp làm nên một sự điều hòa thích đáng. Hiếu đạo là mấu chốt quan trọng duy trì các mối quan hệ gia đình gắn bó. Vì thế mà trong thời đại chủ nghĩa gia tộc chuẩn mực, chế độ “dung ẩn” có những nhân tố hợp lý của nó. Trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới hôm nay, cũng bao gồm nội dung của chế độ “dung ẩn”.

Do lập pháp của triều Nguyễn ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho gia, vì thế trong diễn đàn chính trị, kẻ thống trị cũng biểu dương lấy hiếu để trị thiên hạ, nên Hoàng Việt luật lệ thà vì hiếu mà khuất pháp thừa nhận thân thuộc của “dung ẩn”, bảo lưu nguyên tắc phát huy hiếu đạo nuôi dưỡng tình thân. Hoàng Việt luật lệ quyển 1, danh luật lệ điều thân thuộc cùng chứa chấp che dấu nhau quy định:“Biết người phạm tội mà che dấu ở trong nhà, và chỉ đường nuôi dưỡng, đổi chỗ giấu giếm và biết quan lại đang ra lệnh truy nã, mà tiết lộ sự việc khiến người kia chạy trốn, thì giảm tội nhân một bậc. Việc che dấu, tiết lộ này là chỉ cho người thường, chưa phải là thân thuộc như người ở chung một nhà, cùng chung của cải, ở chung, không giới hạn là khác hay cùng làng, không kể có tình thân hay không về tang phục. Trường hợp người thân thuộc bậc đại công trở lên, mà tang phục rất trọng, ông bà ngoại, cha mẹ vợ của cháu, rể, vợ chồng của cháu, anh em của cháu, vợ của anh em mang ơn lớn, nếu phạm tội đều cho phép che dấu cho nhau. Nô tỳ, người làm công vì gia trưởng là nghĩa nặng, cũng được che dấu, có che dấu cũng không bàn; nhưng gia trưởng lại không được phép che dấu cho nô tỳ, người làm công, vì bổn phận gánh vác, phải trị tội họ, không được che dấu lỗi lầm. Nếu dò biết pháp quan đang truy nã mà tiết lộ sự việc hay ngầm báo tin tức, khiến tội nhân đang ẩn trốn nơi gần phải chạy đi nơi xa khác cũng không buộc tội. Những người ở hàng tiểu công trở xuống, bổn tông bên ngoại, chế độ tang chế rất nhẹ, có vị trí xa đối với gia đình; cho nên dung chứa che dấu và tiết lộ thì giảm ba bậc hình phạt so với thường dân. Những việc này đều là việc bình thường của tình người, vốn là lẽ tự nhiên; cho nên tình nghĩa của luật làm dày phong tục khuyến khích luân lý kỷ cương. Nếu mưu phản, gây rối, đại nghịch, thì nghĩa lớn đã tắt, thân thuộc không kể ở chung hay không ở chung, có chế tang phục hay không, chỉ dung chưa giấu, tiết lộ thì y điều luật trị tội, vì thế nên không áp dụng luật này”(15).Quyển 2 phần Danh lệ điều 17: "Người phạm tội còn phải ở nhà nuôi dưỡng cha mẹ ghi rõ: Phàm người phạm tử tội không được ân xá theo bình thường mà ông bà nội, cha mẹ già trên 70 tuổi hay tàn tật (bại liệt nặng) cần được chăm lo phụng dưỡng mà trong gia đình tội nhân đó không còn ai trưởng thành (từ 16 tuổi trở lên) nghĩa là không khác gì con trai duy nhất thì pháp quan phải điều tra kỹ lưỡng, kê khai rõ tội danh người ấy phạm (cũng như nguyên do) để căn cứ vào tâu lên vua, chờ quyết định. Nếu phạm tội đi tù, lưu đày mà ông bà cha mẹ già không có người chăm sóc nuôi dưỡng thì xử 100 trượng, tội còn lại thì cho nhận giá chuộc, cho ở nhà nuỗi dưỡng cha mẹ (quân nhân phạm tội cũng vậy)”(16).

Ngoài ra, pháp luật còn cho phép người thân báo thù. Trong Ngũ luân, vua và cha là người thân cận và đáng kính nhất, nên trách nhiệm cũng là quan trọng nhất. Nói về việc báo thù cho cha, đó là mối thù không đội trời chung, ngủ cỏ gối đất, khổ sở khôn nguôi, hao tâm tổn sức, nhất quyết một lòng báo thù cho cha. Việc báo thù cho huynh đệ, thì mối quan hệ đã xa hơn một chút, báo thù nặng hay nhẹ, mau hay chóng cũng không giống nhau. Vì thế khi luật pháp xử phạt thì tội nặng nhẹ cũng có phân tầng thứ rồi. Nói chung giết người thì phải đền tội, nhưng vì báo thù cho cha mà giết người, thì chỉ phạt 60 trượng, hơn nữa vì tức thời nóng vội mà báo thù giết người thì không bị xử phạt. Hoàng Việt luật lệ quyển 15 chương Hình luật ẩu đả điều Ông bà bị đánh quy định: “Nếu ông bà cha mẹ bị người khác đánh, con cháu tức thì ra tay bảo vệ, nhân đó đánh trả lại người kia, không thương tích thì không sao, nếu gẫy từ một răng trở lên đến thương tật nặng thì đều xử theo luật người thường, giảm ba bậc tội. Nếu người đó bị tàn tật thì cũng được giảm đi lưu đầy ba nghìn dặm thành đi tù hai năm. Con cháu thấy người thân bị kẻ khác đánh, nếu không đánh lại thì không cứu đỡ được, cho nên đánh lại để cứu người thân, chứ không phải mặc tình ngang ngược đánh họ với ác ý trầm trọng. Bốn chữ "tức thì, cứu hộ" là thấy tình thế gấp rút, bất đắc dĩ mà ra tay là thế. Cho nên nói: thoáng một giây là đánh lại ngay tức thì cứu hộ chứ không phải nhằm đánh người tức thì. Tội đánh để cứu người thì được xử giảm nhẹ tội. Nếu đánh kẻ đó bị chết thì không thể không trả giá nên xử theo luật đánh lộn. Còn như giết chết thì không kể dùng vật khác như mũi nhọn hay không đều bị xử treo cổ, cố sát thì bị chém. Nếu ông bà cha mẹ bị người khác giết chết, con cháu không thưa lên quan xét xử mà tự ý giết, hành hung kẻ kia thì phạt 60 trượng. Còn ông bà khi bị người ta giết, con cháu tức thì hành hung, giết kẻ kia chết tức thì không kể. Cho nên lời chú nói: thoáng chốc thì xử theo luật tự ý giết, nên Kinh Lễ nói vì báo thù cha mẹ chứ chẳng phải như kẻ bàng quan gặp việc lạnh nhạt không phản ứng. Việc đánh lại kia là phục thù vì nghĩa, cho nên tự ý giết không phải là nhẹ, nên thấy người thân bị giết mà phẫn nộ kích động tức thì dùng vật nhọn báo thù, ấy là tình nghĩa chính đáng, có tội gì?”(17) Những điều này đều là những ứng dụng cụ thể trong tinh thần chấp pháp nghiêm minh, pháp luật hoá thân tình của Nho gia.

III/ Luân lý pháp trị, gia tộc chuẩn mực

Trong thể chế pháp luật của Việt Nam, điều chỉnh để chế độ phụ quyền làm hạt nhân trong quy phạm pháp luật về quan hệ nghĩa vụ quyền lợi của gia tộc, chiếm một địa vị rất lớn. Thực chất của loại pháp quy này và nhiệm vụ trung tâm chính là ở chỗ duy trì bảo vệ đặc quyền chế độ gia trưởng, gia tộc, củng cố chế độ gia đình gia trưởng. Vì thế tôn ty trật tự thân sơ trên quan hệ máu mủ có ảnh hưởng trực tiếp đối với thể chế hành vi xâm hại quyền dân sự và việc định phạt tội. Điều đó gọi là: “phục chế nhập luật” 服制入律(chế độ tang phục đều được đưa vào luật). Chế độ tang phục trong thời đại phong kiến của Trung Quốc là dùng tang phục của mình để xác định phạm vi thân thuộc, chỉ ra mức độ thân thuộc. Triều Nguyễn ở Việt Nam khi lập pháp cũng mượn và chiếu theo những điều đó để làm. Chế độ tang phục vốn thuộc lễ chế, nó thể hiện rõ ở các “nghi lễ”, trong hội điển và sách Quan tư lễ官私礼. Từ triều Tấn trở về sau, bắt đầu đưa ngũ phục 五服(5 loại tang phục) vào luật. Hoàng Việt luật lệ cũng liệt kê biểu đồ về chế độ tang phục, trong biểu đồ tang phục có “Tang phục tổng đồ” 丧服总图(biểu đồ tổng thể về chế độ tang phục), “Bản tông cửu tộc ngũ phục chính phục chi đồ” 本宗九族五服正服之图(biểu đồ tang phục chính của 5 loại tang phục đối với bản tông cửu tộc), “Thê vị phu tộc phục đồ” 妻为夫族服图(biểu đồ của người vợ để tang cho thân tộc của nhà chồng), “Thiếp vị gia trưởng tộc phục chi đồ” 妾为家长族服之图(biểu đồ của người vợ lẽ, thiếp để tang cho thân tộc của gia trưởng), “xuất giá nữ vị bản tông hàng phục chi đồ” 出嫁女为本宗降服之图(biểu đồ của con gái đi lấy chồng đối với việc để tang bản tông), “Ngoại thân phục đồ” 外亲服图(biểu đồ để tang bên ngoại), “Thê thân phục đồ” 妻亲服图(biểu đồ tang phục đối với người thân của vợ), “Tam phụ bát mẫu phục đồ” 三父八母服图(biểu đồ tang phục cho ba cha tám mẹ). Sau hệ thống các biểu đồ lại có chương chuyên về chế độ tang phục. Chế độ tang phục phân thành Trảm thôi 3 năm, Tề thôi có gậy 1 năm, Tề thôi không có gậy 1 năm, Tề thôi 5 tháng, Tề thôi 3 tháng, Đại công 9 tháng, Tiểu công 5 tháng, Ty ma 3 tháng. Tang chế trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành Hoàng Việt luật lệ, là một trong những tiêu chuẩn để định tội và đưa ra khung hình phạt cho kẻ phạm tội. Ví dụ như tội làm tổn thương và xâm phạm giữa những người thân thuộc, thì căn cứ theo máu mủ thân sơ, tôn ti trật tự già trẻ, để chế định ra một loạt quy định đặc thù. Nguyên tắc chung là bậc tôn trưởng sát thương nô tỳ hay trẻ nhỏ, quan hệ càng thân thiết thì hình phạt càng được giảm nhẹ, quan hệ càng xa thì hình phạt càng nặng. Còn về tội gian phi, bất luận tôn ti trưởng ấu, quan hệ càng thân thì hình phạt càng nặng. Từ đó có thể thấy tang chế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc định hình lượng tội.

Quan hệ tang chế lấy chế độ gia trưởng phụ quyền làm trung tâm, trưởng tộc trong xã hội phong kiến có địa vị tôn quý đặc biệt. Kẻ thống trị nhận thức được vai trò xã hội có gia trưởng tộc trưởng, nên đã dùng thủ đoạn luật pháp để ban cho gia trưởng, tộc trưởng điều chỉnh các công việc trong nhà, giải quyết các vấn đề tranh chấp trong gia tộc, bao gồm đầy đủ chức năng kỷ cương, pháp luật của triều đình. Nhờ có sự tiếp tay của kẻ thống trị, nên gia trưởng, gia tộc đối với các thành viên trong nhà, trong dòng họ có quyền trừng phạt rất lớn, ví dụ như: cưỡng chế bồi thường lễ phục, xóa bỏ họ hàng quê quán phương xa, dùng hình phạt trên thân thể con người cho đến khi chết…

Thời Nguyễn, mâu thuẫn giai cấp gay gắt, quốc gia càng cần đến việc quản lý mọi người của gia trưởng, gia tộc, để ổn định xã hội, củng cố chính quyền. Ngoài quốc pháp ra, các xã các thôn lại có những quy định riêng của xã thôn ấy. Hiện tượng đó so với các vương triều đã qua càng thêm nổi cộm. Việt Nam có một câu tục ngữ quen thuộc: “Hương quy thắng ư vương pháp” (phép vua thua lệ làng), phản ánh rõ tình hình thực tế xã hội lúc đó.

Pháp luật triều Nguyễn duy trì bảo vệ quyền lực và địa vị trong gia đình gia trưởng phong kiến, biểu hiện cụ thể ở chỗ: thứ nhất, pháp luật thừa nhận gia trưởng có quyền chủ hôn, mệnh lệnh của cha mẹ là một điều kiện quan trọng để tác thành hôn nhân, pháp luật còn quy định một cách rõ ràng về thứ tự của người chủ hôn. Thứ 2, pháp luật xác nhận gia trưởng có quyền giáo dục dạy bảo. Nho gia cho rằng: con không được giáo dục là do lỗi của người cha. Gia trưởng có quyền giáo dục dạy bảo con trai con gái, mà con cái có nghĩa vụ phải nghe lời dạy bảo, và nếu con cái vi phạm hay trái lời mệnh lệnh của gia trưởng thì hành vi ấy xem là bất hiếu, vì lẽ đó mà trong luật pháp cũng bị trừng phạt. Hoàng Việt luật lệ quyển 16 chương Luật tố tụng điều Cháu con vi phạm lời dạy bảo quy định: “Phàm con cháu vi phạm lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ, và đối với các bậc được phụng dưỡng có điều thiếu xót thì phạt 100 trượng. (Lời dạy bảo phải nghe theo mà cố tình vi phạm làm hại đến gia đạo là quá lắm, phụng dưỡng mà cố ý làm thiếu sót, nếu ông bà có thưa lên quan thì sẽ bị tội)”(18). Thứ ba, pháp luật quy định gia trưởng có quyền về tài sản. Phàm kẻ dưới hay trẻ nhỏ nếu chưa được gia trưởng cho phép mà tự động sử dụng của cải của nhà thì phải xử theo luật, căn cứ vào mức độ dùng nhiều hay ít mà phạt đánh nặng hay nhẹ. Thứ tư, thông qua các quy định của pháp luật để bảo vệ sự uy nghiêm của gia trưởng, biểu hiện rõ ở sự hiếu đạo của con cháu. Ví dụ trong Hoàng Việt luật lệ quyển 9 chương Lễ luật nghi chế điều Nặc phụ mẫu tang, đối với tang lễ của quan lại và trăm họ, đều có quy định rất rõ ràng và tỉ mỉ. Thứ năm, đối với hành vi xâm phạm quyền lực hay địa vị của kẻ bề dưới hoặc trẻ nhỏ đối với gia trưởng, pháp luật đều xử phạt nặng. Ví dụ trong Hoàng Việt luật lệ quyển 16 chương Mạ lị điều Nô tì mắng gia trưởng quy định: “Phàm nô tì mắng gia trưởng thì bị phạt treo cổ”(19). Nếu mắng hàng thân thuộc của gia trưởng đều bị trừng phạt. Pháp luật không chỉ coi trọng việc xử phạt hành vi xâm phạm địa vị và quyền lực của kẻ bề dưới và trẻ nhỏ đối với gia trưởng, thậm chí gia trưởng khi phạm pháp nô tì cũng không được đi khai báo tội đó với quan phủ. Đó chỉ là nói về việc một bộ phận nhỏ duy trì bảo vệ quyền uy và địa vị của gia trưởng trong xã hội. Thông qua những điều pháp luật quy định trên đây ta thấy được sự duy trì bảo vệ một cách hiệu quả lực lượng thống trị quốc gia và thế lực gia tộc không thể tan rã, thích ứng với nhu cầu thiết yếu của chế độ thống trị chuyên chế.

Để duy trì bảo vệ được quy phạm đạo đức luân lý của gia tộc, tầng lớp thống trị triều Nguyễn còn pháp luật hóa thêm nguyên tắc kỷ cương của người chồng đối với người vợ trong Nho gia. Hoàng Việt luật lệ quyển 14 chương Hình luật nhân mệnh điều Chồng đánh chết thê thiếp có tội quy định: “Phàm thê thiếp hoặc đánh lộn hoặc mắng ông bà, cha mẹ chồng, người chồng nhân đấy tự tiện giết chết thì phạt 100 trượng, vì thê thiếp mà đánh ông bà cha mẹ chồng là tội đáng chém, mắng là tội đáng treo cổ. Thế là có tội đáng chết. Chỉ nghe ông bà cha mẹ đích thân thưa lên thì quan trị ngay, không được tự tiện giết. Nếu chồng đánh mắng thê thiếp, nhân đấy thê thiếp tự tử thì không bàn. Trong phạm vi đạo đức gia đình, thê thiếp có lỗi lầm, không kể lớn nhỏ mà người chồng đánh, không gây thương tích đều miễn bàn, tự tử coi rẻ mạng mình thì người chồng không có tội. Nếu ông bà cha mẹ đã qua đời, hoặc có việc gì khác mà vợ không đến, rồi chồng tự tiện giết đi thì vẫn bị xử treo cổ”(20). Con gái sau khi lấy chồng rồi thì phải theo chồng, coi nhà chồng là nhà của mình, đối với mỗi người thân trong gia đình nhà chồng đều nảy sinh những mối quan hệ thân thuộc nhất định, tôn trưởng của chồng chính là tôn trưởng của mình, người vợ mà có hành vi không tôn trọng tôn trưởng của gia đình chồng tức là vi phạm luân lý đạo đức, cần phải xử lý nghiêm khắc. Nhưng vợ chồng nếu tình nghĩa đã đoạn tuyệt, người vợ và quan hệ thân thuộc với gia đình chồng dần dần nhạt đi, thì không bị xử phạt theo luật này nữa. Mục đích của hôn nhân chính là sự kế thừa nối tiếp tổ tông, dòng giống, gia tộc là trung tâm, nếu hôn nhân không đạt được điều đó, thì tự khắc sẽ bị triệt tiêu. Cho nên Hoàng Việt luật lệ quy định “thất xuất” (7 điều nên bỏ), ngoài hạng mục trộm cắp là quan hệ thất đức mang tính chất cá nhân ra, thì những điều khác liên quan đến gia tộc. Hồng Đức pháp điển triều Hậu Lê quy định tài sản của ông bà cha mẹ để lại chia đều cho con trai con gái, thừa nhận quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ sau khi ly hôn… Điều đó đã phản ánh xã hội Việt Nam tôn trọng tập tục truyền thống của người phụ nữ, nó có tác dụng tích cực, nhưng tinh thần tôn trọng người phụ nữ này đến Hoàng Việt luật lệ ở triều Nguyễn đã dần dần biến mất.

IV. Duy trì bảo vệ đặc quyền, đẳng cấp rõ ràng

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, sự phân biệt đẳng cấp giữa người quý phái và kẻ bần tiện thể hiện rất rõ nét. Khái niệm về quân tử tiểu nhân, kẻ giàu người nghèo trong Nho gia vẫn là tư tưởng trung tâm của xã hội, pháp luật vẫn luôn thừa nhận sự đối lập trong mối quan hệ giữa cái xấu xa và cái nổi trội, thừa nhận địa vị xã hội không bình đẳng, mức sống chênh lệch giữa chúng, và hơn nữa là ưu ái ban cho tầng lớp quan lại sĩ đại phu mọi quyền hành. Thông qua nguyên tắc pháp trị này để thực hiện sự khác biệt giữa kẻ giầu người hèn, kẻ dưới không được lăng nhục người trên, duy trì trật tự và ổn định xã hội. Cho nên kẻ thống trị không chỉ đưa điều đó áp đặt vào trong lễ giáo, mà còn quy định vào cả trong pháp điển để trở thành pháp luật. Ngoài ra còn có thêm một số chế tài hình sự đối với kẻ vi phạm đẳng cấp chế độ, vì mức độ cưỡng chế của những quy phạm đó vô cùng mạnh mẽ và to lớn. Nhà cửa, xe cộ, trang phục, đồ dùng… tất cả đều là tiêu chí quan trọng để phân biệt giữa kẻ giàu và người nghèo. Hoàng Việt luật lệ quyển 9 chương Lễ luật nghi chế điều Nhà cửa trái với hình thức có quy định rõ ràng: “Phàm những phẩm vật thuộc về phòng xá, xe cộ, y phục của quan và dân, có những thứ bậc khác nhau. Nếu người làm quan dùng sai thì phạt 100 trượng, bãi chức, không kể thứ bậc. Nếu người không làm quan thì phạt 50 roi, tội buộc vào gia trưởng, thợ khéo cũng bị phạt 50 roi. Các món đồ làm sai hình thức thì phải sửa lại. Nếu người thợ tự thú trước thì thoát được tội”(21). Đối với hành vi vượt quyền đẳng cấp giới hạn, pháp luật ngoài xử phạt tội người đó ra còn xử phạt cả gia trưởng, đồng thời phải bồi thường 50 lạng bạc để làm gương cho những kẻ có hành vi vượt quá quyền hạn. Trong triều Nguyễn, phục sức màu vàng, màu đỏ son (sơn son thiếp vàng), lụa rồng vuốt đã trở thành tiêu chí tối cao trong đồ dùng hoàng thất của kẻ thống trị, nó có một ý nghĩa đặc biệt tôn quý. Hoàng Việt luật lệ đối với điều này có quy định cụ thể rõ ràng: “Ai trong quan lại, quân dân tiếm dụng trang phục dùng màu vàng chính, màu vàng lửa (đỏ), màu vàng xẫm, vàng nhạt, và hình mãng, hình rồng, cá bay, sao ngưu đẩu, đồ dùng mà vàng son, hay sắc vàng thì đều chiếu theo luật Tiếm dụng Long Phụng văn mà xét xử, và phục trang đồ đựng kia đều gom vào nhà quan hết. (Đồ đựng thì cấm tiếm dụng màu vàng, còn màu đỏ son có pha vàng trang sức thì không cấm)”(22). “Màu vàng, màu hương mùa thu lụa rồng 5 vuốt, lụa rồng đứng, quan dân không được phép dùng”(23). Không chỉ có thế, pháp luật thậm trí còn cấm dân gian không được phép chế tạo sản xuất các loại đồ dùng sắc phục có ý nghĩa phân biệt đẳng cấp này, nếu không sẽ bị pháp luật trừng trị. “Màu sắc trang phục quan nhất phẩm, yên dây cương, các đồ dùng ngoài việc cho phép dệt làm cho nhà quan phủ dùng ra, tư gia trở xuống không được chế tạo mà dùng, thợ mà làm thì y theo luật mà trị tội”(24).

Về trang phục của quan dân cách ăn mặc, đội như thế nào, phòng xá cao thấp rộng hẹp, điêu khắc, nóc nhà, màn trướng, tính chất của các đồ dùng thường ngày, to nhỏ, họa tiết, đến diện tích của mồ mả, độ cao, bia đá… Hoàng Việt luật lệ đều có những quy định rất cụ thể, không có cái gì là không thể hiện sự phân biệt đẳng cấp giàu nghèo.

Về phương diện quan hệ kế thừa của hôn nhân gia đình, pháp luật cấm tôn ti họ hàng, hay sang hèn lấy nhau. Hoàng Việt luật lệ quyển 7 chương Hộ luật hôn nhân điều Tôn ti họ hàng mà cùng lấy nhau quy định: “Theo chế độ để tang, người thân bên ngoại phải để tang, trừ cháu ngoại của ông bà ngoại, tôn thuộc ti thuộc mà làm sui gia là cậu của mẹ với cháu ngoại gái, dì của mẹ với cháu gái của dì, và lấy cùng ở chung một nhà chị em khác cha, lấy con gái của chồng trước. Bốn hạng vừa nói trên là quan hệ luân lý với nhau, cho nên lấy nhau thì buộc tội theo luật về bà con lấy nhau, xử tội theo thân thuộc gian dâm với nhau. Lấy chị em của mẹ thì xử treo cổ. Lấy cháu ngoại gái và chị em cùng mẹ khác cha, con gái của chồng trước, đều bị phạt 100 trượng, đi tù 3 năm. Về bà con bên ngoại không có chế độ để tang tôn thuộc: một là chị em cô cậu của cha mẹ, hai là chị em của cha mẹ, ba là dì của cha mẹ, bốn là dì họ của cha mẹ, năm là cô của mẹ, sáu là cô họ của mẹ, bảy là cô họ của mình, tám là dì của mình, hết thảy không được kết hôn với nhau. Về bà con bên ngoại, ti thân không có chế độ tang phục: một là cháu ngoại gái của mình, hai là chị em của rể, ba là chị em của vợ, của cháu con. Ba hạng này dù không có chế độ để tang, nhưng cũng đủ tôn ti mỗi phận nên cũng không được làm sui gia. Nếu ai làm trái thì phạt 100 trượng. Nếu chị em hai dì cô cậu của mình dù không dính đến tôn ti, nhưng thân thuộc không xa lắm, lại có chế độ để tang, cho nên cũng không được làm sui gia. Nếu cưới nhau thì phạt 80 trượng, phải li dị, trả về tông tộc, trai gái cùng bị xử tội, tiền cưới cho vào nhà quan”(25). Hoàng Việt luật lệ quyển 7 chương Hộ luật hôn nhân điều Sang hèn làm sui gia quy định: “Phàm gia trưởng cưới vợ cho nô bộc là con gái nhà lành, thì bị phạt 80 trượng, chủ hôn nhà gái giảm 1 bậc tội. Không biết thì không có tội. Nô bộc tự cưới thì tội cũng thế. Gia trưởng biết chuyện thì giảm hai bậc tội. Sự việc xuất phát từ nô tỳ nhưng biết mà không ngăn cấm thì không thể trốn tội được. Vì việc cưới ấy mà gia trưởng đem con gái nhà sang kia cho vào sổ hạng làm nô bộc, như vậy là bắt sang đem vào chỗ hèn, tình thế càng nặng, cho nên phạt 100 trượng trở lên để ai nấy biết rõ là không thể mạo nhận chuyện sang hèn được. Việc đem nô tỳ giả mạo làm nhà sang để cùng nhà sang làm vợ chồng, nếu gia trưởng làm thì bị phạt 90 trượng, nếu nô tỳ giả mạo làm nhà sang thì tội cũng như vậy. Giả mạo bởi gia trưởng thì bắt tội gia trưởng, bởi nô tỳ thì bắt tội nô tỳ. Phải li dị để cải chính sang ra sang, hèn ra hèn, nghĩa là người con gái nhập tịch làm nô tỳ phải tách ra sửa lại làm lương nhân mới được”(26).

Triều Nguyễn còn thực hiện chế độ kế thừa con chính, giữa con chính và con thứ cũng có sự phân biệt đẳng cấp rõ rệt. Nếu gia trưởng không căn cứ theo để lập tự thì sẽ bị trừng phạt theo pháp luật. Hoàng Việt luật lệ quyển 6 chương Hộ luật hộ dịch điều Lập con chính trái phép quy định: “Phàm lập con chính, con trưởng trái phép thì phạt 80 trượng. Người vợ chính trên 50 tuổi mà không có con thì mới lập con dòng nhánh làm con trưởng. Không lập con trưởng thì tội cũng phạt 80 trượng. Nếu nuôi dưỡng người đồng tông làm con, mà cha mẹ nuôi người này không có con, đứa con nuôi lại bỏ cha mẹ nuôi đi thì phạt 100 trượng, trả về nhà cha mẹ đẻ cai quản. Nếu cha mẹ nuôi kia có con, mà cha mẹ đẻ không có con nữa nay muốn trở về thì cho phép. Còn con nuôi khác họ mà làm nổi loạn tông tộc thì phạt 60 trượng. Nếu lấy con nuôi hay người khác họ làm con nối dòng thì tội như trên, người con nuôi cũng trả về họ hàng cũ của nó. Nhặt con rơi dưới 3 tuổi nuôi dưỡng, tuy khác họ nhưng cho phép nhận nuôi theo họ nó (không được vì không có con mà lập con nuôi làm con thừa tự nối dõi). Nếu sau khi đứa bé thành người, cha mẹ đẻ đến nhận thì không chuẩn cho. Người cùng tông, tôn ti có thứ bậc, như lấy em tự anh, lấy cháu con tự chú ấy là làm loạn ngôi thứ, chiêu mục, mất trật tự tôn ti. Tội làm loạn thứ bậc trong tông tộc, cũng ngang như trên, phạt 60 trượng. Người con nuôi trở về với tông cũ, đổi lại lập lên người nối dõi để chính lại ngôi thứ. Nếu nhà thường dân mà nuôi con trai con gái con nhà lành làm nô lệ thì phạt 100 trượng, thả cho họ về nhà của mình”(27). Những quy định này, mục đích chủ yếu là duy trì bảo vệ lợi ích kinh tế và địa vị chính trị của những người không cùng giai cấp, không cùng tầng lớp xã hội.

Hoàng Việt luật lệ rất coi trọng việc duy trì bảo vệ đặc quyền của hoàng thân quý tộc, chế định ra chế độ “bát nghị” 八议(28) (xử 8 trường hợp đặc biệt). Quy định “bát nghị” này có đặc quyền riêng, tức là nếu người nào phạm tội chết, cơ quan tư pháp không được tự tiện hành quyết, cần phải tấu lên vua toàn bộ quá trình phạm tội của họ và xem họ ứng với nghị nào để cho nhà vua phán quyết. Nhưng nếu phạm vào tội “thập ác”, thì sẽ không được hưởng đặc quyền của “bát nghị”. Đối tượng đặc quyền của “bát nghị” chính là: thân, cố, công, hiền, năng, cần, quý, binh, tất cả đều thuộc về hoàng thân quốc thích, công thần quý tộc và quan lại sĩ đại phu - đều là các nhân vật ở tầng lớp trên của xã hội.

Đương nhiên, điều cốt lõi trong Hoàng Việt luật lệ chính là duy trì bảo vệ sự uy nghiêm của hoàng đế, cung điện của hoàng đế là nơi không thể tuỳ tiện vào được. Hoàng Việt luật lệ quyển 10 chương Binh luật cung vệ điều Tự tiện vào cửa cung điện quy định: “Phàm ai tự tiện vào Ngọ Môn, Tử Cấm Thành, Đông Ba, Tây Ba, cửa Thần Vũ và vườn cấm, không có chức vụ gì mà vào nơi đó thì mỗi nơi như vậy phạt 10 trượng. Tự tiện vào cửa cung điện phạt 60 trượng, đi tù 1 năm. Tự tiện vào nơi vua ăn uống, chỗ vua ở thì xử tội treo cổ”(29). Lăng tẩm của Hoàng đế là nơi không thể tùy tiện giẫm đạp, Hoàng Việt luật lệ quyển 9 chương Lễ luật tế tự điều Lăng mộ các đời vua quy định: “Phàm lăng tẩm vua chúa các đời và phần mộ của các trung thần, liệt sĩ, tiên hiền, ở nơi nào thì hữu ty nơi đó phải bảo trì, không được đốt làm rẫy hay canh tác hoặc thả trâu dê chó hay các gia súc khác lên đó. Nếu ai vi phạm phạt 80 trượng”(30). Các nơi tế tự của vua chúa cũng không được tự tiện huỷ hoại và làm hư tổn, cho dù là cố ý hay không cố ý hủy hoại, đều chiếu theo luật trừng phạt một cách tương ứng.

Đời thứ hai triều Nguyễn, Hoàng đế Minh Mạng (tại vị 1820 - 1833), rất giỏi về kiến thức lịch sử, tinh thông Nho học kinh điển, tuân thủ theo truyền thống Nho giáo, kiên trì nguyên tắc thuận theo ý trời và tôn kính người quân tử. Vua Minh Mạng đồng thời với việc ra sức tuyên dương Nho học, còn chú ý đem tư tưởng Nho gia quán triệt vào trong đời sống xã hội, khiến nó trở thành kim chỉ nam cho tất cả mọi người. Vua Minh Mạng đã lấy "tam cương ngũ thường" 三纲五常trong Nho gia để quy nạp thành “huấn dụ thập điều”, ban hành khắp thiên hạ, yêu cầu nhà nhà truyền nối, người người ca tụng, cùng nhau thực hiện, nhật nguyệt thấm nhuần, cùng hướng tới điều thiện. “Huấn dụ thập điều” 训谕十条bao gồm: một là Đôn nhân luân 敦人伦, hai là Chính tâm thuật 正心术, ba là Vụ bản nghiệp务本业, bốn là Thượng tiết kiệm尚节俭, năm là Hậu phong tục厚风俗, sáu là Huấn đệ tử 训弟子, bảy là Sùng chính học崇正学, tám là Giới dâm thắc戒婬忒, chín là Thận pháp thủ 慎法守, mười là Quảng thiện hành广善行. Trong đó điều quan trọng nhất đó là Đôn nhân luân, coi trọng tam cương ngũ thường; tôn trọng và sùng bái Nho học; tuân thủ pháp luật pháp lệnh triều Nguyễn. Yêu cầu chung là toàn quốc trên dưới phải một lòng hiếu đễ, trung tín, nhân nghĩa, lễ trí để ước thúc lấy bản thân mình, làm việc theo tam cương ngũ thường, làm nhiều việc thiện, học làm người lương thiện. Do hoàng đế là người có quyền uy tối thượng, trí cao, nên “Huấn dụ thập điều” của Hoàng đế Minh Mạng trên thực tế có tính chất pháp lệnh pháp luật, nó trực tiếp kế thừa tinh thần cơ bản của Hoàng Việt luật lệ, thể hiện một cách cụ thể pháp chế pháp luật triết học luân lý chính trị về tu thân dưỡng tính, chế độ đẳng cấp, tam cương ngũ thường trong Nho gia.

PHẠM NGỌC HƯỜNG dịch

(Theo "Nho gia tư tưởng đối Hoàng Việt luật lệ đích ảnh hưởng", tham luận tại Hội thảo quốc tế về Nho giáo" tại Việt Nam năm 2007).

 

Chú thích:

(1)Khoan dung nhưng lại nghiêm khắc.

(2)Chức quan đứng đầu cơ quan soạn sách.

(3)Trích trong Ngự chế Hoàng Việt luật lệ tự.

(4)Các tội ác.

(5)Trong Hộ hôn luật điều Xuất thê cho biết: cho dù vợ ở trong 7 điều nên bỏ, cũng không nên bỏ, và đối với chồng không có trạng thái nghĩa tuyệt, mà tự tiện bỏ vợ thì phạt 80 trượng. Dù phạm 7 điều là: không có con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, nói nhiều, trộm cắp, ghen tuông, ác tật. Nhưng có 3 điều không bỏ để tang 3 năm, trước nghèo sau giầu, có người cưới cũng không ưng mà bỏ thì giảm hai bậc tội, cho về đoàn tụ.

(6)Hoàng Việt luật lệ quyển 1 Danh luật lệ.

(7)Một là tha trẻ nhỏ, hai là tha người già cả, ba là tha kẻ ngu đần.

(8)Hoàng Việt luật lệ quyển 6 Luật gia đình.

(9)Hoàng Việt luật lệ quyển 16 Hình luật mạ lị (luật hình về mắng chửi, làm nhục).

(10)Hoàng Việt luật lệ quyển 16 Hình luật mạ lị (luật hình về mắng chửi, làm nhục)

(11)Cổ nghị: ‘Trị an sách’.

(12)Cổ nghị: ‘Trị an sách’.

(13)Trương Tấn Phiên: Sự chuyển đổi giữa truyền thống và cận đại trong pháp luật Trung Quốc. Nhà xuất bản Pháp luật Bắc Kinh, 1999, tr.34.

(14)Luận ngữ - Tử Lộ: “Diệp công tử vấn Khổng Tử ”.

(15)Danh luật lệ điều 31 Thân thuộc tương vị dung ẩn.

(16)Danh luật lệ điều 17 Phạm tội tồn lưu dưỡng thân.

(17)Hoàng Việt luật lệ quyển 15 Hình luật chương Đấu ẩu điều 22 Tổ phụ bị ẩu.

(18)Hoàng Việt luật lệ quyển 16 chương Luật tố tụng điều Tử tôn vi phạm hiếu lệnh.

(19)Hoàng Việt luật lệ quyển 16 Mạ lị chương Nô tì mạ gia trưởng.

(20)Hoàng Việt luật lệ quyển 14 Hình luật nhân mệnh chương Phu ẩu tử hữu tội thê thiếp điều.

(21)Hoàng Việt luật lệ quyển 9 Lễ luật nghi chế chương Phục xá vi thức.

(22)Hoàng Việt luật lệ quyển 9 Lễ luật nghi chế chương Phục xá vi thức.

(23)Hoàng Việt luật lệ quyển 9 chương Lễ luật nghi chế điều Phục xá vi thức.

(24)Hoàng Việt luật lệ quyển 9 chương Lễ luật nghi chế điều Phục xá vi thức.

(25)Hoàng Việt luật lệ quyển 7 chương Hộ luật hôn nhân điều Tôn ti vị hôn.

(26)Hoàng Việt luật lệ quyển 7 chương Hộ luật hôn nhân điều Lương tiện vi hôn.

(27)Hoàng Việt luật lệ quyển 6 chương Hộ luật hộ dịch điều Lập đích tử vi pháp.

(28)Hoàng Việt luật lệ quyển 2, điều 3 Bát nghị (nghị thân, nghị cố, nghị công, nghị hiền, nghị năng, nghị cần, nghị quý, nghị tân).

(29)Hoàng Việt luật lệ quyển 10 chương Binh luật cung vệ điều Cung điện môn thiện nhập.

(30)Hoàng Việt luật lệ quyển 9 chương Lễ luật tế tự điều Lịch đại Đế vương lăng tẩm./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 3(88) 2008; Tr.3-17)

Hà Thành Hiên - Hách Đình Đình
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm