VI | EN
Câu đối của Nguyễn Thượng Hiền (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 58-64)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 58-64)

CÂU ĐỐI CỦA NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

NGUYỄN TIẾN ĐOÀN - NGUYỄN THANH

Hội Văn học nghệ thuật Thái Bình

Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868 - 1925), tự Đỉnh Thần, hiệu Mai Sơn, quê làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, là một nhà chí sĩ yêu nước và là một nhà văn xuất sắc.

Năm 1959, Nhà xuất bản Văn học đã xuất bản cuốn Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền do nhóm soạn giả Lê Thước, Hà Văn Đại, Vũ Đình Liên… tuyển chọn và biên soạn. Năm 2004, Nhà xuất bản Lao Động và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây đã xuất bản cuốn Nguyễn Thượng Hiền tuyển tập thơ - văn do Chương Thâu sưu tầm và biên soạn. Ngoài ra thơ, văn, câu đối của Nguyễn Thượng Hiền còn được tuyển chọn giới thiệu trong các bộ tổng tập văn học và được đưa vào sách giáo khoa dùng cho nhà trường ở các bậc học.

Tuy nhiên, một phần tư liệu về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thượng Hiền vẫn chưa được công bố một cách đầy đủ. Gần đây chúng tôi được một người bạn gửi tặng một bản phô tô 4 trang chữ Hán chép tay (có đóng dấu Thư viện Quốc gia ký hiệu D3219 ?). Dòng đầu tiên của trang thứ nhất viết (Danh gia đối liễn, Liên Bạt Nhị giáp Nguyễn Đỉnh Thần dĩ hạ). Bốn trang tư liệu này chép 38 câu đối của Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền vốn chưa được các công trình tuyển chọn thơ văn Nguyễn Thượng Hiền giới thiệu. Do vậy chúng tôi xin phiên âm dịch nghĩa tài liệu này để bạn đọc cùng tham khảo.

Phiên âm:

TẶNG HƯƠNG TÍCH TỰ TĂNG

Thiên sơn đáo nhãn thanh như tẩy

Nhất thuỷ trừng tâm bạch dục vô.

Dịch nghĩa:

TẶNG NHÀ SƯ CHÙA HƯƠNG TÍCH(1)

Mắt nhìn nghìn núi xanh như rửa

Lòng trong nước suối sạch bùn nhơ.

滿

TẶNG TÁ LÝ PHAN HUY DŨNG

Đương hoa phán sự hương sinh bút

Dẫn nguyệt lưu tân ngọc mãn hồ

TẶNG ÔNG TÁ LÝ PHAN HUY DŨNG

Xét việc như hoa thơm ngọn bút

Mời trăng giữ khách ngọc đầy bầu.

TẶNG NỘI CÁC TRƯƠNG TRỌNG HỮU

Tứ hải giai truyền hồng hạnh cú

Nhất sinh đa bạng tử vi cư

TẶNG NỘI CÁC TRƯƠNG TRỌNG HỮU

Bốn biển lan truyền lời tốt đẹp

Một đời những dựa chốn cung vi

窗角易

TẶNG HẢI DƯƠNG TRẦN SINH

Yêu khách nam song trường ngũ nguyệt

Kết lư đông hải mộng tam sơn

TẶNG TRẦN SINH Ở HẢI DƯƠNG

Tháng năm mời khách rượu nam song

Nhà cỏ biển đông mộng đỗ cao

KINH KỲ THƯ BÍCH

Hốt ức thanh sơn quy mộng viễn

Độc ư trần thế tiểu thanh đa

NHÀ SÁCH Ở KINH KỲ

Bỗng nhớ lui về với núi xanh, giấc mơ ấy xa vời

Riêng cõi trần này nhiều tiếng cười quá

ĐỀ TIỂU ĐƯỜNG

Mộng khởi lâu đài hoa tác vũ

Tuý dư lâm hác nguyệt như sương

ĐỀ Ở NGÔI NHÀ NHỎ

Tỉnh dậy lâu đài hoa làm cơn mưa

Say khướt núi rừng trăng mờ như sương

千花

ĐỀ HÌNH BỘ ĐÔNG SẢNH

Xuân phong bất nộ thiên hoa tiếu

Thu thủy vô tâm tứ hải bình

ĐỂ Ở ĐÔNG SẢNH BỘ HÌNH

Gió xuân chẳng giận nghìn hoa hé

Thu thủy vô tâm bốn biển bình

VÃN HIỆP BIỆN TRẦN ĐÌNH TÚC

Tùng cúc do lưu cao sĩ vịnh

Giang sơn bất cải lão thần tư

VIẾNG ÔNG HIỆP BIỆN TRẦN ĐÌNH TÚC

Tùng cúc còn lưu thơ vịnh bậc cao sĩ

Lòng vị lão thần không đổi thay với non sông

1 -

2 -

THƯ TỊNH THẤT NHỊ CÚ

1- Thiên thụ bích vân tình nhập họa

Nhất liêm hồng vũ hiểu thôi thi

2- Thính điểu mộng hồi tu trúc ngoại

Phần hương tâm tại cổ thư trung.

VIẾT HAI CÂU Ở TỊNH THẤT

1- Mây biếc nghìn cây, hòa bức họa

Mưa hồng rèm cửa, sáng làm thơ

2- Nghe chim hót, mộng về ngoài khóm trúc

Đốt hương tâm tưởng ở trong sách cổ.

1-

2-

3-

ĐỀ SƠN PHÒNG TAM

1- Hạo nguyệt mai hoa hương cổ ốc

Lịch dương thu ảnh đạm cô sơn

2- Thiên hác thụ thanh tiều tử vũ

Nhất sơn hoa khí tửu nhân phong

3- Độc bãi Nam Hoa tâm tự thuỷ

Mộng lai Đông Hải khí vi vân.

ĐỀ BA CÂU Ở CĂN PHÒNG TRÊN NÚI

1- Hoa mai dưới trăng sáng nhớ mùi hương nhà cũ

Bóng thu trong ánh chiều màu ngọc cô sơn nhàn nhạt

2- Tiếng cây vang nghìn hang động, đó là cơn mưa của người hái củi

Khí sắc hoa trên núi, gió đưa mùi rượu của người (dân bản)

3- Đọc hết bộ Nam Hoa kinh(2) lòng trong tựa nước

Mộng về Đông Hải hơi nước thành mây.

1-

2-

滿 `

3-

ĐỀ SƠN XÁ TAM

1- Thập lý giang hoa song yến ảnh

Tứ canh sơn nguyệt vạn tùng thanh

2- Thử tâm bất trụ đồng minh nguyệt

Mãn nhãn tương nghi hữu cúc hoa

3- Hồ sơn bốc ẩn mai hoa quốc

Phong vũ hoài nhân cúc tửu hoa.

ĐỀ BA CÂU Ở NHÀ TRÊN NÚI

1- Mười dặm sông hoa đôi bóng én

Canh tư trăng núi vạn thông reo

2- Lòng này chẳng ở cùng trăng sáng

Tràn mắt ta say có cúc hoa

3- Chọn chỗ ở ẩn nơi núi non sông hồ vùng có hoa mai

Nhớ người sương gió trở về ủ rượu đúng mùa cúc nở.

1-

2-

ĐỀ TĂNG XÁ NHỊ CÚ

1- Chí kim thủy giác thiền lý diệu

Ư thử năng linh thi mộng thanh

2- Thanh sơn sơ địa truyền tam muội

Bạch xã tôn phong tịnh lục trần

ĐỀ HAI CÂU Ở TĂNG XÁ

1- Đến nay mới hiểu lý luận thiền học là kỳ diệu

Nơi đây có thể làm cho thơ và mộng đều trong sáng

2- Nơi truyền bá tam muội(3) thuở đầu là chốn núi xanh

Phong cách tôn nghiêm của Bạch xã(4) làm trong sạch lục trần(5)

1- 滿

2-

ĐỀ THƯ XÁ NHỊ CÚ

1- Hà phong mãn tháp độc giai sử

Trúc nguyệt đương song lai khả nhân

2- Ngọc chi xuất thế thiên niên thuỵ

Tiên hạc hoành thu vạn lý tâm

ĐỀ HAI CÂU Ở NHÀ SÁCH

1- Đọc sử hay như có mùi hương đầy giường chiếu

Người tốt đến, đó là trăng đưa bóng trúc tới bên song

2- Nấm ngọc chi ra đời là dấu hiệu nghìn năm tốt lành

Hạc tiên bay ngang mùa thu giục giã lòng muôn dặm

1-

2-

ĐỀ HẠC CHÂU BIỆT THỰ NHỊ CÚ

1- Khứ sơn bất viễn đa châu thảo

Dữ nguyệt đồng lai hữu khả nhân

2- Đới hoa hiểu hấp tình giang thuỷ

Cách trúc xuân thinh tiểu viện oanh

ĐỀ HAI CÂU Ở BIỆT THỰ HẠC CHÂU(6)

1- Tới núi không xa nhiều cỏ quý

Theo trăng cùng đến có người thân

2- Múc nước sông trong tưới hoa từ sáng sớm

Cách khóm trúc nghe tiếng xuân qua chim oanh nơi viện nhỏ.

NGẪU HỨNG

Nhất xa mạch thượng Phan An quả

Tam tải tường đông Tống Ngọc hoa.

NGẪU HỨNG

Một cỗ xe trên đường nhận đầy quả như Phan An(7)

Ba năm ở tường đông nhận đầy hoa như Tống Ngọc(8)

ĐỀ GIẢ SƠN THỦY

Yếu điền thương hải vô cùng hận

Thả bổ kiền khôn hữu hạn xuân

ĐỀ HÒN NON BỘ

Uất hận đến vô cùng cần lấp biển

Thanh xuân thời có hạn, đất trời bù

祿

HẠ TẠ QUANG LỘC BÁT THẬP THỌ

Thanh sơn bạch phát hy triều ẩn

Thụy quế phương lan lục địa tiên

MỪNG ÔNG TẠ QUANG LỘC THỌ TÁM MƯƠI

Núi xanh đầu bạc ẩn đời thịnh

Quế ngọt lan thơm tiên cõi trần

1-

2-

ĐỀ KINH TRUNG HOẠN XÁ NHỊ CÚ

1- Ngâm thành trực dục lăng phong khứ

Du bãi hà đương tải nguyệt quy

2- Hiểu lộ đề oanh song khuyết thụ

Xuân phong quy mã nhị kiều hoa

ĐỀ HAI CÂU NƠI LÀM QUAN Ở TRONG KINH

1- Thơ đã thành muốn xông thẳng vào gió bay đi

Cuộc chơi qua rồi sao còn muốn chở trăng về

2- Rặng cây hai bên cửa khuyết chim oanh hót trong sương sớm

Hoa hai bên cầu, ngựa trở về là lúc gió xuân nổi.

ĐỀ HỮU NHÂN HOẠN XÁ

Cao trai độc sử tâm như kính

Thanh hoạn tài hoa nhật tự niên

ĐỀ NHÀ QUAN CỦA BẠN

Hiên vắng đọc sách lòng như gương sáng

Quan thanh trồng hoa đẹp ngày tựa năm.

ĐỀ LONG THÀNH THƯ TRAI

Lạc dương tiêu trí hoa đương hộ

Giang tả phong lưu yến thượng đường

ĐỀ Ở PHÒNG SÁCH THÀNH THĂNG LONG

Cảnh trí tiêu biểu thành Lạc Dương(9)là nhà nào cũng có hoa

Có bậc phong lưu ở Giang Tả(10) thì chim yến làm tổ ở trong nhà

TẶNG PHAN HUY DŨNG TÂN THĂNG CHI KHÁNH

Gia tại thanh sơn đam tĩnh cửu

Nhân như ngọc thụ đắc xuân đa

MỪNG PHAN HUY DŨNG MỚI THĂNG CHỨC

Đam mê sự yên tĩnh đã lâu nên nhà ở chốn non xanh

Được mùa xuân tưới tắm nhiều nên con người đẹp như cây ngọc

TẶNG NHỊ GIÁP HOÀNG BÍNH

Hỷ văn cựu vũ phùng xuân tảo

Thùy hướng thanh sơn đắc nguyệt đa

TẶNG ÔNG HOÀNG GIÁP HOÀNG BÍNH

Mừng nghe mưa cũ gặp xuân sớm

Ai dõi non xanh ánh nguyệt tràn

ĐÔNG CÁC LÃO LÊ DUY THỤY

Khách lai ái thính năng ngôn điểu

Nhân tĩnh thường khan xứng ý hoa

ÔNG GIÀ LÊ DUY THỤY Ở ĐÔNG CÁC

Khách đến thường yêu chim biết nói

Người ưa tĩnh mịch thích xem hoa

TẶNG HỮU NHÂN

Bất như yểm quyển sơn nghinh khách

Thả phục hàm bôi nguyệt tiếu nhân

TẶNG BẠN

Không gấp sách lại, để cho núi đón khách

Thì lại ngậm chén để cho trăng cười người

題 道 院

月 地 雲 天 同 太 古

茶 香 經 卷 入 清 朝

ĐỀ ĐẠO VIỆN

Nguyệt địa vân thiên đồng thái cổ

Trà hương kinh quyển nhập thanh triêu

ĐỀ Ở ĐẠO VIỆN

Trời đất mây trăng đều thái cổ

Trà hương kinh sách nhập mai trong

香 江 別 業 為 友 人 作

双 阙 晴 雲 千 户 柳

一 江 春 水 二 橋 煙

HƯƠNG GIANG BIỆT NGHIỆP VỊ HỮU NHÂN TÁC

Song khuyết tình vân thiên hộ liễu

Nhất giang xuân thủy nhị kiều yên

LÀM THƠ TẶNG BẠN Ở NHÀ RIÊNG BÊN SÔNG HƯƠNG

(Có) rặng liễu của nghìn hộ trong mây tạnh nơi cửa vua

(Và) làn khói của hai cây cầu một dòng sông xuân chảy

戶 部 宦 舍春 旦 偶 題

HỘ BỘ HOẠN XÁ XUÂN ĐÁN NGẪU ĐỀ

Nam cực sơn xuyên như hảo hoạ

Đông phong đài tạ hữu thanh thi

NGÀY XUÂN NGẪU ĐỀ Ở NHÀ QUAN BỘ HỘ

Núi sông ở chót phía nam như bức tranh đẹp

Đài tạ lộng gió đông lại có thơ hay

1 -

2 -

ĐẠI NGHĨ TẶNG TÂN HÔN NHỊ CÚ

1- Thái phượng ngân tiêu thiên ngoại lữ

Đào hoa hồng tửu ý trung nhân

2- Tiên động tùng vân triêu hoán tửu

Ngọc lâu hoa vũ dạ đàm kinh

SOẠN THAY TẶNG BUỔI TÂN HÔN HAI CÂU

1- Phượng màu, sáo bạc bạn ngoài trời

Hoa đào, rượu hồng mới là ý trung nhân

2- Buổi sớm đã gọi rượu khi mây còn mơ màng trong động tiên

Ban đêm rì rầm đọc kinh khi hạt mưa còn đẫm trên hoa trong lầu ngọc.

 

Chú thích:

(1) Hương Tích tức chùa Hương thuộc Mỹ Đức, Hà Nội. Từ đây trở xuống hết phần chữ Hán đến phần phiên âm rồi đến phần dịch nghĩa.

(2) Nam Hoa kinh: sách của Trang Tử.

(3) Tam muội: thuật ngữ nhà Phật: lấy sự yên tĩnh, xa lánh tà loạn làm cứu cánh, tìm thoát khỏi mọi ràng buộc của xã hội

(4) Bạch xã: tức Bạch Liên xã, chỉ nhóm tu hành của pháp sư Huệ Viễn đời Tấn, tu hành tại chùa Đông Lâm trên núi Lư Sơn. Chùa có trồng sen trắng.

(5) Lục trần hay lục căn: thuật ngữ nhà Phật chỉ: nhãn (mắt); nhĩ (tai); tỵ (mũi); thiệt (lưỡi); thân (mình); ý (ý kiến, ý muốn). Đây là gốc rễ bản năng của con người.

(6) Hạc Châu: tên làng thuộc phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Khi Nguyễn Thượng Hiền làm Đốc học Nam Định có làm một ngôi nhà nhỏ ở đây.

(7) Phan An: tức Phan Nhạc, tự An Nhân, người đời Tấn vốn người hào hoa, thuở trẻ thường ôm đàn đến Lạc Dương, các cô gái thường vây quanh tung những quả cây vào người chàng.

(8) Tống Ngọc: Người nước Sở thời Chiến Quốc, là học trò của Khuất Nguyên. Thương thày bị ruồng bỏ đã viết tác phẩm Cửu biện để tỏ rõ chí mình, quý trọng nghĩa khí của ông nhiều người mang hoa đến tặng.

(9) Lạc Dương là thành phố nay thuộc tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) từng là nơi đóng đô của nhiều triều đại phong kiến Trung Hoa.

(10) Giang Tả: chỉ vùng đất tả ngạn sông Trường Giang nay thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), từng có nhiều người tài./.

                                                                                (Tạp chí Hán Nôm, Số 3(100) 2010; Tr. 58-64)

Nguyễn Tiến Đoàn - Nguyễn Thanh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm