VI | EN
Giới thiệu khái quát về mảng thư tịch y dược Hán Nôm Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 29 - 40)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 29 - 40)

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ
MẢNG THƯ TỊCH Y DƯỢC HÁN NÔM VIỆT NAM

ThS. NGUYỄN THỊ DƯƠNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Sách y dược viết bằng chữ Hán chữ Nôm là một phận không nhỏ trong kho thư tịch Hán Nôm. Hiện tại chúng vẫn được lưu giữ trong các thư viện và rải rác trong dân gian. Tuy được coi là những tài liệu quý song chúng vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống. Ngay từ cuối thế kỷ XIX đã có luận văn của một người Pháp làm tại Paris viết về y học ở Việt Nam(1). Sau đó cho tới tận cuối những năm 40 của thế kỷ XX mới bắt đầu xuất hiện một vài luận văn Tiến sĩ của người Việt về đề tài này(2). Song có thể thấy hầu như các công trình trên tuy có đề cập đến nguồn tài liệu y dược Hán Nôm nhưng chúng đều được tiến hành dưới góc độ y học, rất hiếm bài viết đi vào khảo sát, đánh giá về trữ lượng và giá trị mảng tư liệu này. Năm 1948 Trần Hàm Tấn - trợ bút của Viện Đông phương bác cổ công bố bài “Notes bibliographiques sur la pharmacopée sino-vietnamienne” (Môn thuốc Hoa Việt) trong tờ Dân Việt Nam, số 2/1948. Song bài viết chỉ đơn thuần thống kê những sách y dược Hán Nôm được lưu giữ ở trường Viễn đông Bác cổ lúc bấy giờ, gồm 90 tên sách(3). Đến năm 1959 một học giả người Pháp - Maurice DURAND có bài “Médecine sino-vietnamienne, bibliographie”(4) (Thư mục về y học Hán Việt). Tuy nhiên có thể nhận thấy là bài viết chỉ nhắc tới những cuốn sách kinh điển của y học Hán Việt (Tố vấn, Linh khu, Nạn kinh, Mạch quyết, Kim quỹ, Thương hàn) và điểm một số xuất bản phẩm y dược vào các năm 1954, 1955 như là bản dịch Hoàng đế Nội kinh Tố vấn của Nguyễn Tử Siêu, Đông y thực hành (Phụ khoa, Nhi khoa), Dược tính từ điển... chứ không hề nói tới những văn bản y dược viết bằng chữ Hán chữ Nôm. Mãi tới năm 1999 mới xuất hiện một bài trực tiếp đề cập tới thư tịch y dược cổ truyền Việt Nam, bài viết có nhan đề Mấy nét đáng chú ý của thư tịch y dược cổ truyền Việt Nam của nhà nghiên cứu Hán Nôm Lâm Giang công bố trên Tạp chí Hán Nôm(5). Bài viết này đã đưa ra những con số khái quát về mảng thư tịch y dược lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Theo tác giả thì “số sách y dược cổ truyền lên tới gần 500 đầu sách, trong đó trên 50% là sách về tạp bệnh, từ 12 đến 15% là sách về sản khoa và nhi khoa, trên 10% là sách về dược khoa, cùng với những sách chuyên khoa khác...”. Song nội dung bài viết không đi vào giới thiệu từng mảng chủ đề đã thống kê mà chỉ so sánh thư tịch y dược Việt Nam với thư tịch Trung Quốc ở ba khía cạnh là quá trình hình thành phát triển, quy mô biên soạn và cách biên soạn.

Bài viết dưới đây thông qua tài liệu Hán Nôm viết về y dược lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Việt Nam và Bảo tàng Hà Tây(6) nhằm bước đầu thống kê một cách cụ thể hơn và đưa ra những nét nhận xét khái quát về trữ lượng và giá trị của mảng tư liệu này.

1. Thống kê

Trong bộ sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Nxb. KHXH, H. 1993, phần Sách dẫn mục Y dược học cho biết sách viết về dược lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 106 tên sách, sách viết về y có 292 tên sách, tổng cộng là 398 tên sách. Trong quá trình tiếp xúc với mảng tài liệu y dược tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm chúng tôi thống kê được cả thảy 391 tên sách(7), tại Bảo tàng Hà Tây có 65 tên sách và Thư viện Quốc gia 48 tên sách. Dưới đây chúng tôi xin trình bày cụ thể theo hai mảng dược thư và y thư.

1.1. Dược thư

Có thể chia thành hai loại: chuyên thư về dược (cả quyển viết về dược) và sách có ít nhất một mục đề cập tới dược. Ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (TVHN) có nhiều chuyên thư về dược hơn cả (khoảng 37 tên sách trong tổng số 107 tên sách có liên quan tới dược). Ở Thư viện Quốc gia (TVQG) theo khảo sát bước đầu có 4 tên sách trong tổng số 6 tên sách viết về dược và Bảo tàng Hà Tây (BTHT) có 4 tên sách trong tổng số 24 tên sách về dược. Nội dung bàn về tính chất, công dụng dược phẩm, phân loại dược phẩm, cách bào chế dược phẩm nói chung, về các vị Trung dược, Nam dược... Các tài liệu còn lại có đề cập tới dược nằm lẫn trong các tác phẩm y thư. Có trường hợp liên quan tới các chứng bệnh được đề cập. Chẳng hạn y thư nói về thai sản thì có mục những dược phẩm thai phụ kiêng dùng hoặc khi bàn về chứng đậu ở tiểu nhi thì cũng có mục dược tính về đậu khoa, hay sách Y thư ngoại khoa thì có dẫn những dược phẩm dùng cho ngoại khoa. Song cũng có những trường hợp tạp chứng tạp bệnh hoặc y lí thì dược phẩm được giới thiệu với tính chất chung hơn (dược tính nói chung hoặc cách bào chế). Về ngôn ngữ văn tự thì được thể hiện bằng chữ Hán, chữ Nôm hoặc Hán và Nôm trong đó Hán và Nôm nhiều hơn cả, chủ yếu dưới dạng ca, phú, thơ bốn chữ, thơ lục bát. Có vài tác phẩm thể hiện dưới dạng văn sách. Có lẽ vì dược phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với người thày thuốc (có hiểu thấu đáo dược thì mới dùng phương dược để trị bệnh được) cho nên dược học cũng là một phần chủ đề cho các khóa thi Y khoa.

Về tác giả của mảng dược thư này thì đa phần là khuyết danh. Tác phẩm dược thư có ghi tên tác giả chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Dược thư ở Việt Nam nổi tiếng có Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, Lĩnh Nam bản thảo của Hải Thượng Lãn Ông.

Nhìn chung các sách dược cổ truyền ở Việt Nam đều dựa trên các sách bản thảo Trung Quốc. Bên cạnh đó các tác phẩm dược này còn giới thiệu cả những vị thuốc của riêng Việt Nam (Nam dược) mà một trong hai gương mặt tiêu biểu của nền y học cổ truyền Việt Nam - thiền sư Tuệ Tĩnh từng đưa ra chủ trương “Thuốc Nam trị bệnh người Nam”. Vậy trên thực tế các y gia Việt Nam đã sử dụng Nam dược như thế nào khi đặt trong mối tương quan với Đông dược (thuốc Bắc)? Nó có được các y gia đánh giá cao và chọn dùng khi xử phương hay không? Vấn đề này có lẽ cũng rất đáng được đi vào nghiên cứu tìm hiểu.

1.2. Y thư

Tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mảng này có khoảng hơn 360 tên tài liệu, TVQG 42 tên tài liệu, BTHT 41 tên tài liệu. Nội dung hết sức phong phú, gồm y lí, tạp phương/tạp trị, nhi khoa, sản-phụ khoa, đậu chứng, mạch học, châm cứu, thiệt khoa, nhãn khoa, ngoại khoa, dưỡng sinh, nam - lão khoa... Trong đó các chủ đề được nhắc tới nhiều nhất qua các sách là nhi khoa, tạp chứng, phụ - sản khoa, đậu chứng, y lí, mạch học (xin xem bảng bên dưới). Các chủ đề còn lại rất ít, như tài liệu về châm cứu thì TVHN có 7 tên sách, BTHT và TVQG mỗi nơi chỉ lưu giữ được một đầu sách. Hay về nhãn khoa, TVHN có 5 đầu sách, BTHT và TVQG mỗi nơi hiện có 1 đầu sách...

Những chủ đề được đề cập nhiều nhất trong mảng y thư Hán Nôm

 

Chủ đề / Thư viện

Y lí

Tạp chứng

Nhi khoa

Phụ - sản khoa

Đậu chứng

Mạch

TVHN

39

66

104

84

66

43

BTHT

24

37

23

22

22

4

TVQG

6

18

8

6

6

9

Tổng cộng

69

121

135

112

94

56

* Về y lí (69 tên tài liệu)

Các tài liệu về y lí hầu như đều được viết bằng chữ Hán, luận bàn về những vấn đề cơ bản của y học như khí huyết, âm dương ngũ hành, tiên thiên, hậu thiên, đặc điểm cơ thể người, ngũ vận lục khí, lục phủ ngũ tạng, thiên can địa chi, kinh lạc, mối quan hệ Y - Dịch, bệnh nguyên, trị pháp, dược pháp... Một số ít mục được diễn ra chữ Nôm. Các tác phẩm tiêu biểu có thể kể tới Y học yếu giải 醫學要解 của Chu Văn An (tên sách này nằm trong Thanh Trì Quang Liệt Chu thị di thư 清池光烈朱氏遺書 (ký hiệu A.843, quyển hạ, trang 152 -213), Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh 海上懶翁醫宗心領 (Lê Hữu Trác 黎有卓), Y học thuyết nghi 醫學說疑 (Bùi Thúc Trinh 裴叔貞), Vân Khê y thư yếu lục 云溪醫書要錄 (Nguyễn Địch 阮迪), Truyền trung minh lý lục (Lâm Đáp Anh ) v.v...

Mảng sách này được biên soạn chủ yếu dựa trên các sách Trung Quốc. Các tác giả được tham khảo nhiều có thể kể tới Lý Đông Viên, Chu Đan Khê, Trương Tử Hòa, Triệu Hiến Khả, Cung Đình Hiền, Phùng Triệu Trương, Trương Giới Tân, Lý Niệm Tổ... Thông qua các sách tham khảo của Trung Quốc, ta có thể đi sâu vào một số vấn đề nghiên cứu. Chẳng hạn như tìm hiểu tác phẩm nào xuất hiện ở Việt Nam sớm nhất và những tác phẩm nào được người Việt Nam sử dụng nhiều nhất... sẽ là cơ sở giúp hình dung phần nào mức độ ảnh hưởng của y học Trung Quốc tới Việt Nam. Chúng tôi hy vọng sẽ sớm trở lại tìm hiểu vấn đề này.

* Về tạp trị/tạp phương gia truyền (121 tên tài liệu)

Nếu như với mảng chủ đề về y lí, do đặc trưng riêng đòi hỏi người biên soạn lẫn người đọc phải có trình độ khá cao thì nhóm tạp trị/ tạp phương có số lượng nhiều hơn có lẽ là bởi tính ít phức tạp và ngắn gọn của nó. Chủ yếu có hai dạng:

Dạng thứ nhất là phân chia chứng bệnh theo môn loại. Mỗi chứng bệnh trong từng môn loại được lí giải, phân tích sơ lược nguyên nhân bệnh bằng vài câu văn (Hán hoặc Nôm), sau đó đưa ra phương thuốc (như các sách Bách bệnh kiêm trị, Nam Dương tập yếu, Tiên Phù Đặng gia y trị toát yếu, Tổng toản y tập...)

Dạng thứ hai đi vào giới thiệu trực tiếp các phương trị các bệnh khác nhau mà không chia theo môn loại nào. Dạng này xuất hiện nhiều ở những tác phẩm khuyết danh.

Ở chủ đề tạp trị/tạp phương thì ngoài những phương thuốc trích dẫn từ các sách Trung Quốc, ở một số sách có ghi là bí phương gia truyền. Liệu những phương thuốc gia truyền của người Việt có gì khác với phương thuốc Trung Quốc hay không? Trả lời được câu hỏi này sẽ cho thấy phần nào sự khác biệt giữa hai nền y học và có lẽ đó chính là một nét đặc sắc của nền y học cổ truyền Việt Nam. Vấn đề này đòi hỏi dành nhiều thời gian dày công nghiên cứu. Chúng tôi hy vọng trong tương lai sẽ có một chuyên khảo riêng về vấn đề này.

* Về các chuyên khoa

- Nhi khoa (135 tên sách)

Tuy số chuyên thư về nhi khoa hiện còn lưu giữ được không nhiều nhưng tổng số tài liệu có liên quan nhi khoa lại chiếm số lượng lớn hơn cả, bởi vì trẻ em luôn là một đối tượng được các y gia thời xưa đặc biệt chú trọng nên được nhiều sách đề cập. Trong số 17 chuyên thư có một số là sách chép hoặc in lại từ sách Trung Quốc như Hoạt ấu tâm pháp đại toàn 活幼心法大全 (Nhiếp Thượng Hằng 懾尚恒), Nhi khoa bí yếu 兒科秘 (La Ân Phạm Hiên), Ấu ấu tập thành 幼幼集成 (Trần Phúc Chính)..., một số biên tập dựa trên các y thư Trung Quốc (Y học nhập môn 醫學入門, Thọ thế bảo nguyên 壽世保元 ...). Phần còn lại hay đi cùng với phụ khoa hoặc là một mục trong các sách y dược với tiêu đề “Nhi khoa” “Tiểu nhi khoa”, “Tiểu nhi môn”, “Trị tiểu nhi môn”, “Tiểu nhi tâm lĩnh khoa”, “Bí truyền trị tiểu nhi chứng”... Về nội dung thì ngoài các chứng bệnh thường gặp ở trẻ thì chứng đậu chẩn được nhắc tới khá nhiều. Cách chăm sóc trẻ sơ sinh cũng đặc biệt được chú trọng và đã có những bài diễn Nôm về cách chăm sóc trẻ khi mới chào đời. Có sách khi nói về cách dụng dược cho trẻ em còn nhắc nhở với đối tượng này phàm các chứng không nên dùng bắc sâm mà chỉ nên dùng nam sâm. Ở một số cuốn, ngoài phương dược còn đưa ra cả các bùa chú để trị bệnh, ví dụ như các sách Tiểu nhi diễn ca 小兒演歌, Hoạt thế lương phương 活世良方, Toát yếu trị tiểu nhi môn 撮要治小兒, Y lí tạp biên 醫理雜编...

- Phụ khoa (112 tên sách ):

Số chuyên thư về phụ khoa hiện còn tại TVHN là 18, BTHT 3, TVQG 1. Trong các chuyên thư về phụ khoa thì vấn đề thai sản, chủng tử (cầu tự thai tiền, sản hậu) được đề cập khá nhiều. Về mảng này riêng Nguyễn Gia Phan đã soạn ba sách Thai sản điều dưỡng phương pháp, Thai sản điều lí phương pháp, Lý âm thông lục trong đó sách Thai sản điều lí phương pháp vốn được soạn theo yêu cầu của phủ chúa Trịnh.

Về sách phụ khoa của Trung Quốc được lưu hành ở Việt Nam chúng tôi thấy hiện có các tác phẩm Trúc Lâm tự phụ khoa bí phươngVạn thị phụ nhân khoa của Vạn Toàn (Mật Trai) mà ở TVHN lẫn BTHT đều lưu giữ. Nhưng sách của họ Vạn phổ biến hơn, được dẫn trong các y thư ở Việt Nam nhiều hơn và cũng đã từng được chép lại với tên La Điền Vạn thị phụ nhân khoa (kí hiệu VHb.130, VHb.131 [TVHN]).

- Đậu chứng (94 tên sách)

Đây là mảng đề tài có số lượng chuyên thư lớn hơn cả (50 tài liệu, trong đó tại TVHN là 43), chủ yếu là sách dành riêng cho đối tượng trẻ em. Với số lượng như vậy, chứng tỏ đây là chủ đề được nhiều người quan tâm. Song có điều là đại đa số những tác phẩm này đều là khuyết danh, không rõ xuất xứ. Chỉ có 2, 3 cuốn sao in lại từ sách Trung Quốc, vài cuốn có tên soạn giả Việt Nam (có cả thầy thuốc của Thái y viện cũng tham gia như Thái y viện Luân Trung bá với Tân san đậu khoa minh kính, Thái y viện Nguyễn Sĩ với Gia truyền chẩn đậu tập, Quảng Yên tỉnh Lương y ti Y thuộc Trần Đức Hinh với Đậu khoa...). Trong mảng đề tài này một số được viết bằng chữ Hán, một số soạn bằng chữ Nôm (có thể kể ra một số tác phẩm như Chẩn đậu diễn ca, Chẩn đậu gia truyền quốc âm, Trị đậu quốc ngữ ca, Đậu chứng biến truyền pháp ca, Đậu khoa thuyết ước ca...). Đặc biệt phần viết về đậu chứng nằm lẫn trong các sách khác thì thường được viết bằng chữ Nôm. Nguyên nhân, quá trình diễn tiến của bệnh, di chứng sau bệnh đậu cũng như cách thức điều trị, phép chủng đậu, cách dụng dược... đều được đề cập. Đa phần đều có kèm hình vẽ, minh họa vị trí nốt đậu trên từng bộ phận cơ thể người. Về phép chữa trị thì ngoài những phương thuốc ta còn bắt gặp một vài trường hợp dùng hình thức cúng lễ để mong giải trừ bệnh đậu (như mục Nhương đậu khoa chầu văn, trong sách Thi văn tạp biên, kí hiệu VHv.2844 (TVHN); hay bài Luyện lục cung chẩn đậu văn trong sách Văn chầu (AB.624, TVHN)... Ở một số sách viết về đậu chứng thường có phụ kèm một số chứng khác như ma chẩn...

- Mạch học (56 tên sách)

Mạch học là một phần quan trọng của y học phương Đông (một trong “Tứ chẩn” - vọng, văn, vấn, thiết) và cũng là một môn vô cùng vi diệu, rất khó nắm bắt nên được các y gia quan tâm khá nhiều. Trong số hơn 20 cuốn chuyên thư về mạch thì hiện thấy 2 cuốn sao chép lại nguyên bản từ sách Trung Quốc. Nhìn chung thì nội dung về mạch học được đề cập trong sách Hán Nôm ở Việt Nam chủ yếu trích theo các sách mạch của Lý Đông Viên, Trương Thái Tố, Vương Thúc Hòa, Trương Giới Tân (Kì kinh bát mạch, Tần Hồ mạch học), Phùng Triệu Trương (Mạch quyết tập yếu)... Bắt mạch không chỉ để xem tình trạng sức khỏe bệnh tật, mà qua đó cũng còn có thể biết được các vấn đề khác của người bệnh như cha mẹ, vợ chồng, con cái, công danh sự nghiệp... (mạch Thái Tố). Có lẽ chính bởi sự huyền diệu của nó nên chủ đề mạch học được các y gia Việt Nam diễn Nôm khá nhiều, hẳn là để cho người học, người đọc dễ nắm bắt, dễ nhớ. Ngoài các đầu sách hoàn toàn dùng Nôm như Mạch kinh tuyển yếu quốc ngữ ca, Quốc ngữ mạch... thì có rất nhiều các mục chữ Nôm lẫn trong các y thư (không phải chuyên thư về mạch) như Mạch pháp quốc ngữ ca, Quốc ngữ mạch quyết, Chẩn mạch yếu pháp, Huyền diệu mạch đầu ca quát, Mạch dược tinh giải ca, Bát lí hậu bệnh mạch ca, Cửu đạo hậu bệnh mạch, Tạp bệnh sinh tử hậu ca, Tạp bệnh sinh tử mạch quyết, Đông Viên mạch quyết, Thái tố mạch quyết, Ngũ ngôn thai mạch quyết, Thúc Hòa mạch quyết quốc âm... Nội dung trình bày về các loại mạch, tính chất đặc trưng các dạng mạch, mạch các chứng bệnh, phép chẩn mạch (có phân biệt mạch ở người trưởng thành và trẻ em, mạch thai phụ)... Có trường hợp còn vẽ cả sơ đồ các dạng mạch. Thiết nghĩ, đi sâu tìm hiểu những văn bản diễn Nôm về mạch nói riêng, cũng như những văn bản diễn Nôm về y dược ở Việt Nam nói chung sẽ gợi mở nhiều điều thú vị. Vì dùng văn tự của riêng người Việt để diễn giải sách y dược Trung Quốc thì chắc chắn qua đó sẽ thể hiện được sự tiếp nhận, sự nhận thức đối với nguồn thư tịch Trung Quốc của các y gia Việt Nam.

2. Nhận xét

2.1 Đánh giá về trữ lượng - giá trị

Dược thư bao gồm dược lí và dược phương. Ở đây chúng tôi chủ yếu lấy tiêu chí về dược lí là chính vì dược phương thì hầu như sách y nào cũng có. Tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mảng dược thư có 107 tên sách trên tổng số 391 tên sách, chiếm khoảng hơn 27% trữ lượng. Trong khi đó số sách nói về dược tại Bảo tàng Hà Tây là 24 trên tổng số 65 đầu sách, chiếm gần 37% trữ lượng; tại Thư viện Quốc gia là 7 trên tổng số 47 đầu sách, chiếm gần 15% trữ lượng. Về y thư, tại TVHN hiện có chừng hơn 360 tên tài liệu, chiếm chừng 92% trữ lượng; tại TVQG: 43 trên tổng số 48 đầu sách chiếm hơn 89% trữ lượng, BTHT 41 trên tổng số 65 đầu sách, chiếm 63 % trữ lượng.

Cuốn y thư Việt Nam sớm nhất hiện còn có lẽ là cuốn Y học yếu giải tập chú di biên của Chu Văn An người đời Trần do người cháu của Chu Văn An tự Bỉnh Nhiên hiệu Long Thái phụng lục năm Quang Thuận thứ 7 (1466), và được Chu Quang Lượng chép lại năm 1856 (ký hiệu A.843, (TVHN). Ngoài những tác phẩm khuyết danh đồng thời không rõ thời gian biên soạn thì các văn bản y dược Việt Nam chủ yếu có niên đại đời Nguyễn.

Về quy mô biên soạn thì ngoài bộ sách đồ sộ nhất là Y tông tâm lĩnh của Hải Thượng Lãn Ông (28 tập, 66 quyển), số còn lại thường chỉ dưới 10 quyển: Vạn phương tập nghiệm (Ngô Văn Tĩnh, 8 quyển), Vệ sinh yếu chỉ (Bùi Thúc Trinh, 8 quyển), Y học thuyết nghi (Bùi Thúc Trinh, 7 quyển), Bảo sinh diên thọ toản yếu (Đào Công Chính, 5 quyển), Bảo anh lương phương (Nguyễn Trực, 4 quyển), Hộ nhi phương pháp tổng lục (Nguyễn Gia Phan, 4 quyển), Đậu khoa (Trần Đức Hinh, 2 quyển), Vân Khê y thư yếu lục (Nguyễn Địch, 2 quyển)... Như vậy có thể thấy Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm là nơi lưu giữ lượng thư tịch y dược đồ sộ hơn cả. Những thư tịch này chính là nguồn tư liệu quan trọng để tìm hiểu về nền y học Việt Nam xưa trước khi có sự xâm nhập của Tây y.

Vấn đề khai thác nguồn tư liệu y dược Hán Nôm xưa nay chỉ thấy có sách của những tác giả nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác mới được dịch ra Quốc ngữ để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập. Còn khá nhiều tác phẩm của một số tác giả khác vẫn chưa được biên chú giới thiệu như các tác phẩm của Nguyễn Gia Phan, Nguyễn Địch, Bùi Thúc Trinh... Đặc biệt như trường hợp Bùi Thúc Trinh, ông soạn sách y học ngoài việc để tiện dụng cho bản thân và gia môn còn có mục đích khác nữa là để truyền dạy học trò. Cho nên, tìm hiểu về những bộ sách này sẽ không chỉ giúp ta hiểu được những kiến thức về y học nói chung, mà còn biết được phần nào cả về một số vấn đề giảng dạy y học ngày xưa, về những kiến thức cơ bản về y học mà người theo học y cần nắm vững. Kho thư tịch y dược Hán Nôm có số lượng khá lớn song có đặc điểm là phần nhiều không rõ xuất xứ. Có lẽ tìm hiểu nghiên cứu những tác phẩm của những tác giả cụ thể là điều nên làm trước hết. Qua tìm hiểu một số y thư có xác định rõ tác giả, chúng tôi nhận thấy ngoài việc trình bày kiến thức y học thì các sách này thỉnh thoảng còn phụ chép nhiều y án, kể lại những đợt bệnh dịch mà tác giả chứng kiến, trong đó nêu cách xử lí bệnh của các thầy thuốc... Trong bối cảnh sử liệu Việt Nam ít đề cập tới y học thì đây thực sự là những tài liệu quý giá cung cấp thêm nhiều thông tin bổ ích liên quan tới y học của ta thời xưa.

2.2. Phân loại nguồn tư liệu y dược Hán Nôm

2.2.1. Sao chép, in lại nguyên bản sách Trung Quốc

Trong kho sách Hán Nôm nói chung cũng như sách y dược nói riêng có một số sách không phải do người Việt Nam soạn thảo mà là sao chép, in lại y nguyên sách Trung Quốc. Hiện tại có những tên sách chỉ còn bản in hoặc bản chép tay sao chép lại, song cũng có những cuốn tồn tại cả bản in lại lẫn bản sao chép lại của người Việt Nam. Có thể nêu ra một số trường hợp như Tỉnh y lục thư ôn dịch luận 醒醫六書瘟疫論 của Ngô Hựu Khả 吴又可 (Trung Quốc), tại TVHN hiện giữ 5 bản in trong đó kí hiệu AC.526 và VHv.1565 có cùng ván in do từ chỉ Thọ Xương in năm 1848; kí hiệu AC.55 và VHv.2836 có chung ván in ở đền Linh từ, giáp Đoài, xã Cổ Vũ in lại năm 1876 và kí hiệu AC.272 cũng in năm 1876, tàng bản tại Huyền Chân quán. Hay như sách Y học nhập môn 醫學入門 - tác phẩm y học do Lí Đĩnh 李梃先生 người đời Minh biên chú - bản in tại Phật sơn Thiên Bảo lâu 佛山扁寶樓 năm 1575 cũng được nhiều cơ sở in ấn ở Việt Nam in lại như Thành Văn đường 成文堂 in năm Tự Đức thứ 12 (1859) (kí hiệu AC.569/1-5), Phúc Văn đường 福文堂 (kí hiệu AC.227/1-4). Ngoài ra cũng theo Thư mục còn có bản chép tay năm 1917 (kí hiệu VHv.1528/a1-6 do Phan Ái chép theo bản của Phúc Văn đường... Hoặc sách Cứu thiên tỏa ngôn 救扁瑣言 của Phí Khải Thái 費啟泰 đời Thanh, được Cẩm Văn đường 錦文堂 (Hà Nội) in lại năm Tự Đức thứ 34 (1881) theo nguyên bản của Phúc Văn đường, chứng tỏ sách này được in ở Việt Nam ít nhất là hai lần.... Về số sách y dược Trung Quốc được sao in tại Việt Nam, theo thống kê ban đầu của chúng tôi, Bảo tàng Hà Tây là nơi lưu giữ nhiều hơn cả (38 đầu sách trên tổng số 65), Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 34 tên sách, Thư viện Quốc gia 3 tên sách.

Sự tồn tại của những sách y học Trung Quốc ở Việt Nam có thể gợi mở cho chúng ta tìm hiểu con đường thâm nhập của sách y dược học Trung Quốc vào Việt Nam cũng như các vấn đề liên quan tới y học thời xưa giữa hai nước.

Một vấn đề khác mang tính chất văn hóa khu vực. Nằm trong khu vực đồng văn, chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán-trong đó có y học, không chỉ có Việt Nam mà còn có Nhật Bản, Hàn Quốc. Nếu tiến hành tìm hiểu những sách y dược Trung Quốc lưu hành ở Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc để xem mối liên hệ của từng nền y học với nền y học Trung Quốc và đồng thời so sánh, đối chiếu tình hình ở ba nước với nhau sẽ là một đề tài thực sự hữu ích.

2.2.2. Sách do người Việt Nam biên soạn

Qua tiếp cận bước đầu với mảng thư tịch y dược Hán Nôm do người Việt biên soạn chúng tôi thấy nội dung khá đa dạng, đặc biệt là y thư. Một sách có thể gồm nhiều chủ đề khác nhau và chứa đến hai hoặc ba tên sách khác. Cho nên việc thống kê trên đây của chúng tôi hẳn là chưa thể đầy đủ được. Ngoại trừ một số ít có ghi rõ tên người biên soạn hoặc người chép, còn lại đa phần các sách không thể biết tác giả là ai. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu qua về mảng sách có tác giả và mảng sách tác giả khuyết danh.

2.2.2.1. Mảng sách có tên tác giả

Trong số 391 đầu sách y dược tại Viện nghiên cứu Hán Nôm chúng tôi thống kê được 62 tác phẩm có ghi rõ tên người biên soạn (hoặc người chép). Nội dung các sách này phần nhiều viết về y lí, bệnh lí, tạp chứng, các chuyên thư về mạch, đậu, nhi khoa, thai sản, bản thảo, châm cứu, nhãn khoa, ôn dịch... Về tác giả có thể quy vào ba nhóm sau:

Nhóm 1 gồm có các quan chức làm trong Thái y viện 太医院 hoặc Y ti 醫司 (như tác giả của Tân san đậu khoa minh kính , (kí hiệu VNb.87) là Thái y viện Nhập thị nội nhưng Thiêm tri lục cung thị mạch Thừa chánh sứ Du Trung bá 太醫院入侍仍佥知六宮侍脈承政使輸忠伯; tác giả của Truyền trung minh lí lục 傳中明理錄 (kí hiệu A.2811) là Lâm Đáp Anh 林答英 - Lê triều Thái y viện đại sứ 黎朝太醫院大使林答英先生; tác giả của Gia truyền chẩn đậu tập 家傳痘疹集 là Nguyễn Sĩ - Thái y viện Sự Lộc hầu 太醫院事禄侯. Hay tác giả của Tứ duy tập 四惟集 là Tuấn Dị tiên sinh 俊異先生-Thừa lại Y ti viện 承吏醫司院... Các sách khác như Y truyền chỉ yếu 醫傳旨要, Y học nhập môn ca 医學入門歌, Bảo sinh diên thọ toản yếu 保生延壽纂要 cũng đều có người thuộc Thái y viện đảm nhiệm hoặc tham gia...

Nhóm 2 gồm các Nho sĩ đồng thời am hiểu cả y học hoặc quan tâm tới y học. Các tác giả nhóm này có thể kể đến Lê Hữu Trác 黎有卓, Trạng nguyên Nguyễn Trực 阮直 (biên soạn Bảo anh lương phương 保婴良方), Tiến sĩ Nguyễn Gia Phan 阮嘉潘 - Giám sát Ngự sử đạo Sơn Tây 山西監察御史 (với Hộ nhi phương pháp tổng lục 護兒方法總錄, Lí âm thông lục 理陰通錄...), Tiến sĩ - Nho Lâm bá Ngô Văn Tĩnh 進士儒林吴文靖, Tiến sĩ Nguyễn Nho 進士阮儒 , Y viện Tú tài Nguyễn Địch 醫院秀才阮迪 (tác phẩm Vạn phương tập nghiệm 萬方集驗) hay các trường hợp khác như Bùi Thúc Trinh 裴叔貞, Lê Đức Vọng 黎德望, Đào Công Chính 陶公正...

Nhóm 3 gồm những người có ghi tên trong sách nhưng tên tuổi của họ không mấy quen thuộc như Bùi Gia (Bách bệnh kiêm trị 百病兼治), An Thọ Bút 安壽筆 (Ngũ vận lục khí quốc ngữ ca 五運六氣國語歌), Phạm Đãi Dụng 范待用 (Phạm Đãi Dụng gia truyền phương dược 范待用家傳方药), Đan Phong cư sĩ Lê Đỗ tử 丹峰居士黎杜子 (Nam dược tập nghiệm quốc âm ca 南藥集驗國音歌) v.v...

2.2.2.2. Mảng sách không ghi tên tác giả

Có thể nói trong số tài liệu viết về y dược thì lượng sách không ghi tên tác giả chiếm phần lớn. Đặc điểm nổi bật của mảng này là rất ít đề cập đến y lí mà nội dung chính thường viết nhiều về tạp chứng (có thể chia theo môn loại hoặc không). Nội dung thường đơn giản, chỉ liệt kê các phương thuốc trị các chứng bệnh (hoặc cũng có thể phân tích nguyên nhân chứng bệnh một cách ngắn gọn rồi đưa phương thuốc). Các phương thuốc này có thể là các cổ phương hoặc các phương gia truyền. Cách trình bày đôi lúc có phần lộn xộn.

Không chỉ trình bày nhiều nội dung khác nhau trong một cuốn sách mà đôi khi còn xen lẫn cả những chủ đề không thuộc y học như thơ phú, bói toán, địa lý, kinh Phật... (như các sách Thi văn tạp biên 詩文雜编 ký hiệu VHv.2844, phần đầu là các bài thơ phú, phần sau viết về chứng đậu; hay trường hợp Y lí tạp biên 醫理雜编 (VHb.37) thì 18 tờ đầu là các dạng bùa dùng để trấn trạch, trấn hung thần..., phần còn lại là tạp phương chữa bệnh nhi khoa, phụ khoa và các chứng bệnh thường gặp). Ở một số sách thì ngoài phương dược còn nêu ra cả phép chữa bệnh bằng cách dùng bùa chú (phù dược) như các sách Hoạt nhân bị yếu 活人備要 (TVHN), Thọ thế phương đan 壽世方丹 (TVHN), Y lí tạp biên 醫理雜编 (TVHN), Y phương chú pháp tạp biên 医方咒法雜编 (TVHN), Tiểu nhi diễn ca 小兒演歌 (TVQG), Hoạt thế lương phương 活世良方 (TVQG), Toát yếu trị tiểu nhi môn 撮要治小兒門 (TVQG).

Tuy tạp lẫn nhưng mảng sách này cũng có giá trị ở chỗ ghi chép nhiều phương thuốc gia truyền, những phương thuốc hiệu nghiệm trong dân gian (nghiệm phương) mà nếu biết chắt lọc thì đó thực sự là những bài thuốc quý giá phục vụ đời sống hiện tại.

2.3. Về hình thức ngôn ngữ văn tự

Nhìn chung, thư tịch y dược Việt Nam hiện còn phần nhiều là sách chép tay, với quy mô biên soạn thường nhỏ, gọn, súc tích để tiện mang theo bên người và dễ nắm bắt. Rất nhiều sách được biên soạn theo kiểu “toát yếu”, “toản yếu”, “tiện lãm”, “bị yếu”, “tập yếu”, “yếu lục”, “chỉ yếu”...

Thư tịch y dược Hán Nôm được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm nhưng thực tế, nếu xét kỹ về văn tự sẽ có 4 dạng chính là dạng được viết hoàn toàn bằng chữ Hán, dạng hoàn toàn bằng chữ Nôm, dạng chủ yếu là Hán có xen Nôm và dạng chủ yếu Nôm có xen Hán. Ngoài ra còn có một số ít trường hợp được trình bày theo kiểu trên Hán dưới Nôm. Trong các dạng trên thì mảng viết hoàn toàn bằng chữ Nôm và mảng Hán xen Nôm có thể nghiên cứu ở nhiều phương diện. Số lượng sách y dược viết bằng chữ Nôm hoặc xen Nôm tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm theo con số thống kê ban đầu của chúng tôi là 133 đầu sách. Những tài liệu này không chỉ có giá trị ở phương diện ngôn ngữ văn tự (chữ Nôm của người Việt) mà qua đó còn có thể tìm hiểu được quá trình tiếp nhận đối với nguồn thư tịch Trung Quốc của các y gia Việt Nam (được diễn đạt qua văn tự của chính người Việt). Dùng chữ riêng của dân tộc để cắt nghĩa, diễn giải cho dễ hiểu, dễ nhớ, cũng là để phổ biến rộng rãi các bài thuốc trong dân chúng. Có trường hợp còn sử dụng cả những thể loại phổ biến trong dân gian như hát văn (chầu văn) để cầu giải trừ bệnh tật thay vì những dùng những câu niệm chú của đạo Phật, Lão mà thỉnh thoảng ta vẫn gặp trong các sách của Trung Quốc (bài Nhương đậu khoa chầu văn 穰痘科嘲文 trong sách Thi văn tạp biên, VHv.2844 TVHN, tờ 60 a,b). Hay trường hợp khác là một phương thuốc được kê bằng chữ Nôm và thành phần toàn là những vị cỏ, lá (thuốc nam) trong sách Y lí tạp biên (VHb.37) cũng đem lại những điều khá lí thú... Đây chính là một trong những nét đặc trưng riêng - đó chính là tính dân gian- của y học cổ truyền Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy mặc dù bị tàn phá, thất thoát bởi binh biến, thiên tai, thư tịch y dược viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hiện còn ở Việt Nam có nội dung khá phong phú. Nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, trong đó có y học Trung Hoa - một nền y học vĩ đại - thì rõ ràng là y học Việt Nam xưa không thể thoát ly khỏi nền y học Trung Quốc. Ngoài những sách thuộc loại kinh điển y gia thì các sách y dược được trích dẫn và lưu truyền nhiều ở Việt Nam là Y học nhập môn, Cảnh Nhạc toàn thư, Thọ thế bảo nguyên, Phùng thị cẩm nang, Lôi Công bào chế, Bản thảo cương mục v.v... Tuy nhiên ngoài những kiến thức y học kinh điển mà các y gia Việt Nam tiếp thu của Trung Quốc thì trong quá trình trước tác, biên soạn, các y gia Việt Nam cũng đã thể hiện được nét riêng của mình. Điều này thể hiện trước hết ở tinh thần tiếp thu có đánh giá phê phán và áp dụng một cách sáng tạo với điều kiện khí hậu và thể chất con người Việt Nam (như trường hợp các tác phẩm Y tông tâm lĩnh, Y học thuyết nghi, Vân Khê y thư yếu lục...). Và với việc chữ Nôm được sử dụng trong nhiều tác phẩm y dược-xét về vai trò của ngôn ngữ viết đã thể hiện “sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia và vấn đề xây dựng bản sắc dân tộc”(8).

Trên đây mới là kết quả khảo sát tư liệu ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia và Bảo tàng Hà Tây, được coi là những cơ sở hiện giữ nhiều sách y dược Hán Nôm hơn cả. Song tư liệu y dược Hán Nôm còn được lưu giữ ở nhiều địa phương khác, đặc biệt là mảng sách y dược Hán Nôm của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chưa được trình bày ở đây. Do đó cần tập hợp, kiểm kê số sách ở các địa phương để có được một diện mạo đầy đủ hơn về mảng thư tịch y dược Hán Nôm Việt Nam. Trên cơ sở đó lập ra kế hoạch bảo quản và tiến hành khai thác nghiên cứu.

Thư tịch y dược Hán Nôm là một phần di sản đúc kết trí tuệ về lĩnh vực y học mà cha ông ta để lại. Đó chính là nguồn tư liệu quý giá để tìm hiểu nền y học cổ truyền của ta xưa. Có một thực tế là ở Việt Nam phép chữa bệnh theo y học cổ truyền vẫn luôn song song tồn tại cùng với phương pháp chữa bệnh theo Tây y, nhưng dường như việc khai thác nghiên cứu nguồn thư tịch y dược Hán Nôm để ứng dụng vào đời sống hiện tại thì còn rất khiêm tốn. Có lẽ trước hết là do trở ngại về ngôn ngữ văn tự. Ngày xưa trong mỗi gia đình có được cuốn y thư, nhất lại là của gia truyền thì được coi là “gia bảo” và truyền từ đời này sang đời khác và thực tế hiện nay trong dân gian, một số gia đình vẫn còn giữ được sách y dược Hán Nôm. Song đáng tiếc là con cháu đời nay lại ít biết được thứ “gia bảo” mình đang lưu giữ là gì... Để những “gia bảo” này không bị mai một và phát huy được giá trị của chúng thì việc tiếp tục sưu tầm, bảo quản và tiến hành khai thác là hết sức cần thiết. Có như vậy thì những giá trị tinh thần của cha ông mới không bị ngưng đọng và nguồn mạch dân tộc mới không bị đứt đoạn.

 

Chú thích:

(1)La médecine en Annam (Y học ở Annam) MANGIN. A - Thèse à Paris. Imprimeur de la faculté de Médecine, Paris, 1887, 88 tr.

(2)Có thể kể tới Dương Bá Bành: Histoire de la médecine du Vietnam (Lịch sử y học Việt Nam [qua những văn bản Hán Nôm], Hanoi 1947, 86 tr.

Lê Văn Long: Les maladies des femmes dans la médecine vietnamienne (Những chứng bệnh phụ nữ trong y học Việt Nam), Thèse de doctorat, Hanoi, 1952.

Phạm Trọng Lượng: Variole et les maladies infantiles d’après conception sino - vietnamienne. Leurs traitements (Đậu mùa và những chứng bệnh trẻ em theo quan niệm Hán - Việt, Cách điều trị), Thèse de la Faculté de Médecine de Hanoi, 1952, 90 tr.

(3)Dân Việt Nam: Kí hiệu C.1118 M, số kí hiệu vi phim BV478 (tại Thư viện Quốc gia Việt Nam).

(4)Trong Bulletin de l’EFEO, số 49 năm 1959, tr.671-674 (Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội).

(5)Xin xem bài trong Tạp chí Hán Nôm số 3 (40)-1999, tr.61-66.

(6)Thực ra còn có một số nơi tại Hà Nội như Viện Văn học, Viện Sử học, Viện Thông tin Khoa học xã hội... cũng lưu giữ một vài cuốn sách viết về y dược nhưng không nhiều vả lại hầu như cũng trùng với số tư liệu chúng tôi thu thập ở ba cơ sở trên nên không đề cập trong phạm vi bài viết này. Ngoài ra, lượng sách y dược Hán Nôm lưu giữ tại các cơ quan có liên quan tại các địa phương, hoặc nằm rải rác trong dân gian chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận, hy vọng được giới thiệu trong một dịp khác.

(7)Sở dĩ có sự chênh lệnh giữa con số thống kê thư mục và con số thống kê của chúng tôi là vì có trường hợp thư mục đưa vào không phải là sách y dược (như số thứ tự 3710 tên sách là Tiên Hưng phủ chí), có trường hợp cùng một sách có nội dung giống nhau, nhưng có hai kí hiệu được đưa vào, như các mục 4503, 4504 (Y truyền chỉ yếu)....

(8)Xin xem Michelle Thompson: Scripts and Medical Scripture in Vietnam: Nôm and Classical Chinese in the Historic Transmission of Medical Knowledge in Pre-Twentieth Century in Vietnam (Chữ viết và văn ngữ y học ở Việt Nam: Chữ Nôm và chữ Hán trong lịch sử truyền bá tri thức y học ở Việt Nam trước thế kỉ XX), trong Nghiên cứu chữ Nôm (Kỉ yếu Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm), H. 2006, tr.255-270./.

 

Tài liệu tham khảo

- Trần Nghĩa: Cần phân biệt sách Hán Nôm Việt Nam với sách Hán Nôm nước ngoài do ta sao chép hoặc in lại, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (8)-1990, tr.27-41.

- Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa, François Gros (đồng chủ biên), ba tập, Nxb. KHXH, H. 1993.

- Nguyễn Thị Dương: Bàn thêm đôi điều về tác gia Hán Nôm Nguyễn Địch, Hội nghị Thông báo Hán Nôm học 2006.

- Nguyễn Thị Dương: Bùi Thúc Trinh và những tác phẩm y học, Tạp chí Hán Nôm số 4 (83)-2007, tr.42-48.

- Lâm Giang: Mấy nét đáng chú ý của thư tịch y dược cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Hán Nôm, số 3 (40)-1999, tr.61-66.

Lâm Giang: Những tác phẩm y học của Nguyễn Gia Phan, Tạp chí Hán Nôm số 1 (34)-1998, tr.32-38.

Nguyễn Thị Dương: Vài nét về đóng góp của Nho sĩ Việt Nam đối với việc tạo lập và truyền bá văn bản y học Hán Nôm, International Conference on Confucianism in Vietnam - Confucian Thoughts in Vietnam: Studies from an interdisciplinary perspective.

- Notes bibliographiques sur la pharmacopée sino-vietnamienne (Môn thuốc Hoa Việt) trong tờ Dân Việt Nam, số 2/1948. Kí hiệu C.1118 M (Dân Việt Nam), số kí hiệu vi phim BV478 (tại Thư viện Quốc gia Việt Nam).

- Médecine Sino - Vietnamienne, Bibliographie (Thư mục về y học Hán Việt), trong Bulletin de l’EFEO, số 49 năm 1959, tr.671-674 (Thư viện Trường Viễn đông Bác cổ).

- Michelle Thompson: Scripts and Medical Scripture in Vietnam: Nôm and Classical Chinese in the Historic Transmission oh Medical Knowledge in Pre-Twentieth Century in Vietnam (Chữ viết và văn ngữ y học ở Việt Nam: Chữ Nôm và chữ Hán trong lịch sử truyền bá tri thức y học ở Việt Nam trước thế kỉ XX), trong Nghiên cứu chữ Nôm (Kỉ yếu Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm), H. 2006.

Các văn bản y dược Hán Nôm tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia và Bảo tàng Hà Tây.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009; Tr. 29 - 40)

Nguyễn Thị Dương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm