VI | EN
Giới thiệu Lời tựa và Lời bạt của Luận ngữ tinh hoa (Tạp chí Hán Nôm, số 1 (110) 2012 (tr.50 - 53)
(Tạp chí Hán Nôm, số 1 (110) 2012 (tr.50 - 53)

GIỚI THIỆU LỜI TỰA VÀ LỜI BẠT

LUẬN NGỮ TINH HOA

ThS. TRẦN TIẾN KHÔI

Đại học Thăng Long, Hà Nội

Hiện nay trong Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ quyển sách rất có giá trị thuộc kinh điển Nho gia. Đó là công trình trích tuyển Luận ngữ có tên Luận ngữ tinh hoa (論語精華), ký hiệu VHv.775 (trùng với ký hiệu, VHv.776, VHv.501), sách được khắc in vào năm Duy Tân thứ 8 (1914) trên giấy bản khổ 22,5x12,1cm, lề phải trên có khắc hình đuôi cá, bên dưới là bán phần dòng chữ Hán nội dung của từng mục, dưới cùng đánh số trang riêng biệt của mục đó. Sách có nội dung gồm: Lời tựa () 2 tờ (1A, 1B, 2A, 2B), Lời bạt () thứ nhất 2 tờ, Lời bạt thứ hai 1 tờ, lời Tịnh ngôn (并言)(1) 4 tờ (Phần 1 gồm 3 trang viết theo lối lệ thư, giới thiệu về thân thế sự nghiệp, phẩm chất đạo đức của Khổng Tử vị trí của Khổng Tử trong hơn 2460 năm qua cũng như việc thờ cúng Ngài ở Việt Nam. Phần 2 gồm 4 trang viết theo lối khải thư, giới thiệu quá trình, mục đích của việc biên soạn sách, đặc biệt nhắc đến việc sách đã được Học bộ Tượng thư, Khâm sai đại thần… đọc duyệt), Mục lục 1 trang và chính văn(2) 40 tờ (gồm 80 trang, lối chữ khải, chia ra 8 nội dung: Học nhi (18 tiết), Tiến tu (21 tiết), Sự thân (8 tiết), Trì kỉ (34 tiết), Tiết vật (24 tiết), Quan nhân (26 tiết), Xử thế (24 tiết), Vi chính (27 tiết). Đặc biệt là, qua việc tìm hiểu Lời tựaLời bạt của công trình này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự tiếp thu Luận ngữ ở Việt Nam cũng như vị trí vai trò của Luận ngữ trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam.

So với các công trình chuyên khảo về Luận ngữ thì đây là quyển sách có quy mô khá khiêm tốn. Nhưng, như tiêu đề của nó, sách là tập hợp những gì tinh hoa nhất trong Luận ngữ và được các bậc khoa cử danh tiếng đương thời giới thiệu. Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu tìm hiểu Lời tựaLời bạt của quyển sách.

1. Lời tựa

Phần này có 250 chữ, được viết theo lối chữ thảo rất nghệ thuật do Tế tửu Đặng Mộng Long, tự Văn Thụy, hiệu Mã Phong Tử phụng đề.

Phiên âm: Luận ngữ tinh hoa tự

Đạo tại thiên địa gian, như nhất nguyên chi khí, vị thường tức dã. Luận ngữ nhị thập thiên, vưu thánh ngôn chi tinh túy dã. Kì ngôn hỗn nhiên, nhi ư thế đạo nhân tâm chi quan hệ, diệc thường thống hạ châm biếm, như sở vị “bất nghĩa chi phú quí”, “bất nhân chi lễ nhạc”, “hoạn đắc hoạn thất”, xích chi vi “lậu phu”, “sắc lệ nội nhẫm”, tỉ chi “du đạo”, vị thường bất thâm thiết nhi trước minh dã. Tẩu(3) thụ Khổng giới, vị năng hữu hạnh yên. Trình Tử bất vân hồ? Luận ngữ vị độc thời, thị thử nhân, độc liễu hậu, hựu thị thử nhân, tiện thị bất hội độc. Kim hạ nhuận nguyệt, Tư nghiệp Ưng Quân Hầu trích thành thử biên, thành dục san phiền tựu giản, vị hậu học tân lương dã. Phê thị biên giả, dĩ chi tỉnh thân, dĩ chi khắc kỉ, diệc vô bất khả. Tẩu qui điền, hạnh đắc thỉnh, vưu ư học giới hữu dư vọng yên. Cẩn tự. Duy Tân bát niên nhuận nguyệt chính trung tiết. Tứ Giáp Thìn đệ nhị giáp Tiến sĩ bị chú tế tửu Mã Phong tử Đặng Mộng Long Văn Đoan phụng đề.

Dịch nghĩa:

Lời tựa quyển Luận ngữ tinh hoa

Đạo trong trời đất như nhất nguyên khí(4), chưa hề ngừng nghỉ. Người thiện học sẽ tự đoạt được nó. Luận ngữ gồm 20 thiên, nêu rõ tinh túy lời dạy của Thánh nhân. Lời ấy tuy mộc mạc tự nhiên nhưng trong mối quan hệ với thế đạo nhân tâm luôn dẫn đường chỉ lối. Ví như điều gọi là “Giàu sang mà bất nghĩa”, “Lễ nhạc mà bất nhân”, “lo được lo mất” thì đều bị chê là “Lậu phu”(5); còn như kẻ bên ngoài tỏ vẻ cương nghị nhưng trong lòng yếu đuối nhu nhược thì gọi là “du đạo”(6). Những lời ấy bao giờ cũng chiếu soi một cách sâu sắc. May mắn được đón nhận lời dạy của Khổng Tử, nhưng chưa chắc đã có đức hạnh đâu. Trình Tử đã chẳng từng nói sao? Khi chưa đọc Luận ngữ là con người này, đọc rồi lại vẫn là con người này, chứng tỏ là không biết đọc vậy. Nay đang lúc tháng nhuận, Tư nghiệp Ưng Quân Hầu muốn trích dẫn Luận ngữ in thành sách mong được làm hoa tiêu cho người hậu học. Còn người viết phần này nhân đó mà tỉnh thân, giữ mình. Từng chữ từng câu của thánh nhân đều có tác dụng, trẻ nhỏ học để lớn lên phát huy, ngày sau đều có thể được như ông Triệu Trung Lệnh vận dụng Bán bộ Luận ngữ(7) hoặc như ông Lý Văn Chính viết Chung thân. Nay đã đến tuổi vui thú điền viên, được mời viết những dòng này, thật là điều may mắn vậy.

Kính cẩn ghi lại Tiết chính trung, tháng nhuận năm Duy Tân thứ 8, Đặng Mộng Long , tự Văn Thụy, hiệu Mã Phong Tử, đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn giữ chức Tế tửu phụng đề.

2. Lời bạt thứ nhất: gồm 293 chữ, được viết theo lối hành thảo.

Phiên âm:

Độc Luận ngữ tinh hoa bạt hậu

Khổng Tử vi cổ kim chi đại giáo dục gia, sinh bình cách ngôn tải tại Luận ngữ, phàm học vấn tiến tu, sự thân trì kỉ, tiếp vật quan nhân, xử thế vi chính, chư đại đoan, nhất nhất cai bị. Kỳ ngôn hỗn nhi bất kích, thường nhi bất quái, cao đẳng khả dĩ ngữ, hạ đẳng diệc khả dĩ ngữ, vưu học giả chi nghi tiên tiễn lý dã. Cố nhị thập thiên trung, đương thời kí giả tùy thuật sở đồng, hậu chi học giả, tòng vị hữu tích loại trích biên. Tỉ tiện khảo lãm, kim văn minh phong hội, Luận ngữ phiên dịch hành ư hoàn cầu giả đa. Ngã quốc học giới phương tân, nhi thánh ngôn tinh túy tập thành điều thứ, thường khuyết như dã. Chuyết thường hữu chí nhi vị đãi, thị thảo chi hạ, Thích Hiếu Hậu Ưng Quân Hầu thủ tư biên dĩ thị, phê độc tái tứ, khoát nhiên viết: Tiên đắc ngã tâm hĩ. Ưng Quân Hầu Thương Sơn đại gia phái dã, tư hựu phân chưởng thành quân, năng dĩ kì gia học thi ư quốc, tư yên vị hậu học chỉ tân lương, dao thị tước túy thư anh, bác ước công phu, tuần tự dĩ tiến, thân thể nhi lực hành chi, tắc tư biên bất vi vô trợ. Thử cố hữu tâm tân học giả chi sở tự úy, phi độc chuyết nhất nhân tư ngôn dã. Thị vi bạt.

Thời đương Duy Tân kỉ nguyên Giáp Dần nguyên tiết, Giáp Thìn khoa phó nguyên Tham biện nội các sự vụ Hàn lâm Bội tinh Tạ Thúc Đĩnh Ấu Tô thị thư ư Kim Mai sảnh chi đông hiên.

Dịch nghĩa:

Lời bạt Luận ngữ tinh hoa

Khổng Tử là nhà giáo dục lớn từ cổ chí kim, lời dạy lúc sinh bình của ngài được ghi chép trong Luận ngữ. Phàm những việc hệ trọng như học tập tu dưỡng, giữ mình, thờ cha mẹ, quan sát nhận xét việc đời, đối nhân xử thế, làm chính trị đều nhất thiết phải học Luận ngữ. Lời của sách mộc mạc không gây kích động, gần gũi không xa lạ, bậc cao nhân có thể nói mà người hạ đẳng cũng có thể bàn. Đặc biệt, sách là nội dung bắt buộc trước tiên đối với người đi học. Xem 20 thiên Luận ngữ thì nhận thấy rằng người đương thời mỗi người có sự ghi chép riêng, còn học giả về sau cũng chưa có ai biên tập phân loại để tiện cho việc khảo cứu. Nay xã hội đã văn minh, Luận ngữ được dịch và lưu truyền trên thế giới khá nhiều. Cái học của nước ta còn mới mẻ, nên việc biên tập tinh hoa lời dạy của thánh nhân một cách có thứ tự vẫn còn để trống. Lòng mong muốn nhưng chưa đạt, nay được Hiếu Hậu Ưng Quân Hầu cho xem sách này, phê đọc nhiều lần, bỗng nhiên vỡ ra: Thật đúng ý ta rồi. Ưng Quân Hầu là phái đại gia Thương Sơn, nay chia ra khắp nơi để có thể mang cái học vấn của nhà mình phổ cập ra cả nước, cần mẫn chỉ dẫn bến bờ cho người hậu học, quả là đã từng bước công phu chiết lọc tinh túy. Việc làm chắc chắc có hữu ích cho đời. Điều đó là cảm nghĩ chung của người có tâm với việc học chứ chẳng phải của riêng ta. Lấy nội dung trên làm lời bạt.

Đầu năm Giáp Dần niên hiệu Duy Tân, Phó nguyên khoa Giáp Thìn, tham biện nội các sự vụ, Hàn lâm Bội tinh Tạ Thúc Đĩnh viết ở đông hiên nhà Kim Mai.

Điều thú vị là quyền sách có hai Lời bạt do hai người viết, thoạt nhìn có vẻ như bản in có sai sót, nhưng đọc kĩ thấy nội dung nhất quán, tuy có đôi chỗ bị mờ rất khó nhận mặt chữ nhưng người đọc vẫn có thể nắm bắt được nội dung.

Phiên âm: Luận ngữ tinh hoa bạt hậu

Thánh đản (bát nguyệt nhị thập thất nhật) hậu, đắc đồng sự Hiếu Hậu Ưng Quân xuất thị Luận ngữ tinh hoa nhất tập, thị thư tôn kì sở tri, thuật nhi bất tác, vấn kì mục, đắc kì môn, hữu thủy hữu tốt, khu dĩ biệt hỹ, học nhi thời tập chi pháp ngữ, cải chi vi quí, tiểu tử tri sở dĩ tài, kính tín tiên nhiên hậu nãi hiếu hữu, thi ư hữu chính, đa văn; trạch nhi tòng chi, dĩ ước. Trí giả tiễn hỹ. Mỗ dã bất mẫn, hữu văn, vị chi năng hạnh. Ngô đa tòng sự ư tư, dụng trọng nhi đạo viễn, tiên nan nhi hậu hoạch, kì thứ hồ? Văn dĩ hội hữu, đức tất hữu lân, phi viết năng chi, nguyện học.

Duy Tân bát niên xuân chính nguyệt vọng tiền, Quốc tử Tĩnh Thạch Nguyễn Văn Trình cẩn bạt.

Dịch nghĩa:

Nhân dịp kỉ niệm ngày sinh Khổng Tử (27/8), được đồng sự là Hiếu Hậu Ưng Quân cho xem tập sách Luận ngữ tinh hoa. Sách này nêu cao tri thức của người biên soạn, truyền thuật mà không sáng tác. Hỏi mục đích, biết ngọn nguồn, sách có đầu có cuối, phân chia rất rõ ràng. Theo câu nói Học nhi thời tập chi(8), sửa chữa sai lầm mới là điều quí. Học trò tự biết trau dồi, kính tín rồi hiếu hữu, đem sức ra phục vụ đất nước; nghe nhiều, chọn điều tốt mà theo, tự làm chủ mình. Bậc trí giả vốn đã hiếm. Nếu nhưng không mẫn cán, nghe nhiều cũng chưa chắc có thể làm được. Tôi học tập theo đó rất nhiều, trọng dụng mà đạo thì xa, chịu gian nan trước để thu hoạch sau. Như thế còn vướng mắc gì chăng? Dùng văn hội tụ bạn, sống đạo đức ắt có láng giềng, vẫn chưa làm được, nguyện học vậy.

Trước ngày rằm tháng Giêng năm Duy Tân thứ 8 (1914), Nguyễn Văn Trình tự Tĩnh Thạch viết bạt.

Như vậy từ những nội dung ngắn gọn súc tích trên, chúng ta thấy rằng tác giả Lời tựa đánh giá rất cao đạo Nho và Luận ngữ. Ông cho rằng những lời tinh túy của thánh nhân như kim chỉ nam trong thế đạo nhân tâm, chỉ cho người ta tránh mang tiếng “lậu phu”, “du đạo” một cách sâu sắc. Đặng Mộng Long dẫn lời của Trình Tử, nhấn mạnh rằng đọc Luận ngữ mà không thay đổi chính mình để trở thành người tốt hơn đồng nghĩa với việc chưa biết đọc sách thánh hiền. Ngay như bản thân người viết tựa cũng nguyện qua đó mà tiếp tục tỉnh thân, giữ mình; còn đối với trẻ nhỏ nhờ đọc Luận ngữ tinh hoa mà có hi vọng sau này trở thành người có ích cho xã hội.

Tác giả Lời bạt thứ nhất cung kính đứng ở góc độ người học đánh giá Khổng Tử là nhà giáo dục vĩ đại, và Luận ngữ là quyển sách bắt buộc phải học để làm người. Tạ Thúc Đĩnh cho biết đến năm Duy Tân thứ 8 (1914) thì Luận ngữ đã được dịch và lưu hành phổ biến ở nhiều nước. Trong khi đó, Luận ngữ tinh hoa là công trình chữ Hán đầu tiền trích tuyển sắp xếp Luận ngữ theo điều mục ở Việt Nam. Đặc biệt ông cho biết người làm công việc này thuộc phái Thương Sơn danh giá đã dày công tinh tuyển lời Thánh nhân mong làm tân lương cho người hậu học.

Tác giả Lời bạt thứ hai cho biết cơ duyên tiếp cận sách và đánh giá cao quyển Luận ngữ tinh hoa, nêu ra những nội dung cốt lõi của Luận ngữ và nguyện học theo.

Như vậy, Lời tựaLời bạt của sách ngoài việc giới thiệu một công trình trích tuyển Luận ngữ tiêu biểu bằng chữ Hán còn khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của Luận ngữ trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam, chỉ ra hướng học tập và nghiên cứu Luận ngữ được hiệu quả và khoa học hơn.

 

Chú thích:

1-Tịnh ngôn (并言): 2 nội dung đặt song song, đều do người biên soạn viết.

2-Chính văn (文): phần nội dung của sách

3-Tẩu (走): Hà Án chú: tẩu là từ tự khiêm 何注:走,自謙之詞 .

4-Nhất nguyên chi khí (一元之氣): khí (năng lượng) khởi đầu của vạn vật, nguyên tố đầu tiên sinh ra sự sống.

5-Lậu phu (鄙夫): kẻ kém hèn.

6-Du đạo (窬盜): kẻ trộm (du: leo qua tường).

7-Tức là ông Triệu Phổ, tướng nhà Tống, nói rằng: "Ta dùng một nửa bộ Luận ngữ giúp vua Thái Tổ lấy được thiên hạ, nửa bộ Luận ngữ giúp vua Thái Tôn dựng được nền thái bình".

Học nhi thời tập chi: học và thường xuyên thực hành những điều đã học./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (110) 2012; Tr.50-53)

Trần Tiến Khôi
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm