VI | EN
Hai nguồn sản sinh và các mẫu chữ niên hiệu ngụy tạo trong thác bản văn bia (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (78) 2006; Tr.40-47)
tchn78

HAI NGUỒN SẢN SINH VÀ CÁC MẪU CHỮ NIÊN HIỆU NGỤY TẠO TRONG THÁC BẢN VĂN BIA

NGUYỄN VÃN NGUYÊN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1. Hai nguồn khuôn mẫu sản sinh niên đại ngụy tạo

Chữ Hán Nôm phổ biến trên thác bản luôn là loại chữ được in rập từ những chữ khắc chìm trên bia, tức chữ trắng trên nền mực đen. Do đó, để có những chữ ngụy tạo niên đại trên thác bản, không thể dùng bút viết mà buộc phải in rập ra từ những khuôn chữ khắc chìm.

Một câu hỏi đặt ra là, vậy khuôn mẫu để in ra những chữ niên đại ngụy tạo đó có xuất xứ từ đâu?

Khi nghiên cứu những dòng chữ niên đại ngụy tạo, chúng tôi không khỏi chú ý đến một hiện tượng là có một số dòng niên đại với câu chữ cố định xuất hiện lặp đi lặp lại nhiều lần trên các thác bản khác nhau với tần số xuất hiện khá cao.

Ví như dòng niên đại: "Lê Cảnh Hưng nguyên niên tam nguyệt cát nhật", xuất hiện 11 lần (Hình 1); (*)

Dòng niên đại: "Lê Chính Hòa thập nhất niên đông nguyệt cát nhật" xuất hiện 17 lần(Hình 2);

Dòng niên đại: "Lê triều Cảnh Hưng tam thập cửu niên lýõng nguyệt cát nhật" xuất hiện 3 lần(Hình 3) .

Sự trùng lặp nhiều lần một dòng niên đại giống nhau về ngày tháng năm, nhất là lại xuất hiện trên những thác bản bia của các địa phýõng khác nhau là một biểu hiện không bình thường. Đem đối chiếu những thác bản này với nhau, ta phát hiện ra các dòng niên đại đó không chỉ trùng lặp nhau về nội dung câu chữ mà nhìn vào hình thức, chúng cũng còn hoàn toàn giống nhau cả về kiểu chữ và kích cỡ.

Không chỉ xem xét với cả một dòng niên đại, mà đi sâu hơn nữa, khi lấy hai chữ ghi niên hiệu trên các thác bản làm đơn vị so sánh, ta tiếp tục phát hiện ra những tần số xuất hiện càng đặc biệt cao hơn, nhưcác chữ ghi niên hiệu: “Cảnh Hưng” (Hình 4) xuất hiện 41 lần; “Chính Hòa” (Hình 5) xuất hiện 47 lần; “Vĩnh Trị” (Hình 6) xuất hiện 39 lần; “Vĩnh Thịnh” (Hình 7) xuất hiện 14 lần; v.v...

Dường như những hình chữ niên hiệu trên những thác bản khác nhau này được in ra từ cùng một khuôn mẫu cố định nào đó nhằm mục đích ngụy tạo.

Sẽ có hai giả thiết đặt ra: hoặc là các mẫu chữ niên đại này được lấy từ những tấm bia đời Lê có sẵn nào đó, hoặc là chúng được in từ những khuôn mẫu tự tạo.

Để xác định nguồn gốc của các khuôn mẫu này, chúng tôi đã tiến hành giám định tất cả những thác bản có mang những chữ niên đại kể trên, cốt để tìm ra một niên đại bia thực sự thuộc đời Lê. Nhưng kết quả là niên đại của hầu hết số thác bản này đều là ngụy tạo. Hầu nhý không có thác bản nào trong số đó thực sự là vãn bia đời Lê, hay nói cách khác, có lẽ không hề có những hình chữ như thế trên bia đời Lê để ngườ sưu tầm lấy làm khuôn cho việc ngụy tạo[1].

Vì thế, chúng tôi phỏng đoán rằng đã có một số khuôn mẫu được chế riêng để in ra những niên đại ngụy tạo. Bởi vì ngoài mẫu niên đại "Lê Chính Hòa..." ở thác bản No279 còn tạm để tồn nghi ra, tất cả những mẫu khác còn lại đều đã xác định được là ngụy tạo.

Hõn nữa, nếu để ý so sánh thì có thể nhận thấy rõ ràng có sự tương đồng về thý pháp giữa các mẫu chữ niên đại ngụy tạo trên thác bản với chữ viết tay của bản thân người sưu tầm. Ở dòng ghi chú xuất xứ sưu tầm viết bên lề của các thác bản bia thuộc tỉnh Hưng Yên, chữ Hýng viết tay hoàn toàn mang phong cách và đường nét thống nhất với chữ Hưng ở mẫu niên đại Cảnh Hưng ngụy tạo (Hình 8).

Phải chãng chính bằng nét bút đó đã viết ra những mẫu chữ niên đại nhất định, rồi khắc chìm lên một thứ vật liệu cứng, có thể là đá, gỗ, thậm chí chỉ bằng đất sét phơi khô. Với những khuôn chuẩn bị sẵn này, thác bản sau khi in rập từ bia ở các địa phương mang về đem đặt áp lên trên, căn chỉnh cho đúng vị trí khoảng trắng đã cố ý chừa sẵn từ trước, rồi in rập điền vào đó là sẽ có được niên đại ngụy tạo.

Nhưđã nêu ở bài trước, tình hình ngụy tạo niên đại chỉ chủ yếu xuất hiện ở thác bản của bốn tỉnh Hà Đông, Hưng Yên, Hải Dương và Nghệ An thuộc ký hiệu từ N01 đến N05000. Phân tích những khuôn mẫu ngụy tạo, chúng tôi còn phát hiện ra hiện tượng giống như một qui luật, là một số mẫu chữ niên đại ngụy tạo cố định chỉ hiện diện ở thác bản bia của hai tỉnh Hà Đông và Hưng Yên mà không xuất hiện ở thác bản bia của tỉnh Hải Dương và Nghệ An, trong khi một số mẫu chữ niên đại ngụy tạo khác lại chỉ tồn tại trên thác bản bia của tỉnh Hải Dương và Nghệ An mà không thấy có ở thác bản bia của hai tỉnh Hà Đông và Hưng Yên. Điều này gợi ý cho chúng tôi dựa vào những thông tin ở dòng ghi chú của người sưu tầm ghi lại trên các thác bản để tìm hiểu một vài chi tiết về việc sưu tầm in rập thác bản văn bia do EFEO tổ chức tiến hành trước đây. Qua đó biết rằng trong giai đoạn sưu tầm 5000 thác bản bia đầu tiên, việc sưu tầm triển khai trên phạm vi trải rộng ở hơn một chục tỉnh trong nước, do một số nhân viên (hoặc cộng tác viên) được cử đi tiến hành in rập thác bản tại các địa phương, trong đó có vị X phụ trách sưu tầm ở hai tỉnh Hà Đông và Hưng Yên, vị Y phụ trách sưu tầm ở hai tỉnh Hải Dương và Nghệ An. Sự phân công địa bàn sưu tầm này hoàn toàn trùng khớp với qui luật xuất hiện mẫu chữ ngụy tạo nêu trên, điều đó đã chứng tỏ X và Y chính là hai nguồn độc lập tạo ra khuôn mẫu để in ra các mẫu chữ niên đại ngụy tạo cho thác bản bia. (Hình 9).

 

Thông qua điều tra lấy mẫu, đối chiếu so sánh, chúng tôi đã xác lập được các kiểu mẫu niên đại ngụy tạo của hai nguồn này, cụ thể như sau:

2. Mẫu chữ ngụy tạo của nguồn X:

Nguồn X có 5 mẫu chính, được ký hiệuNX1, NX2, NX3, NX4 và NX5:

- Mẫu NX1: gồm một dòng niên đại (Lê Cảnh Hưng nguyên niên tam nguyệt cát nhật).

- Mẫu NX2: dòng niên đại 和十(Lê Chính Hòa thập nhất niên đông nguyệt cát nhật)

- Mẫu NX3: hai chữ niên hiệu (Vĩnh Trị);

- Mẫu NX4: hai chữ niên hiệu (Hoằng Định);

- Mẫu NX5: hai chữ niên hiệu (Vĩnh Hựu).

Các mẫu chữ niên đại ngụy tạo của nguồn này (xem Hình 10) chỉ thấy xuất hiện trên thác bản bia thuộc hai tỉnh Hà Đông và Hýng Yên.

Trong năm mẫu chính của nguồn X, riêng đối với hai mẫu NX1 và NX2, ngoài những trường hợp được sử dụng toàn bộ như một dòng niên đại ngụy tạo hoàn chỉnh ra, nó còn được trích ra từng đoạn câu chữ để in ghép xen kẽ vào dòng niên đại trên bia gốc, thay thế cho bộ phận chữ cần che dấu của dòng niên đại vốn có của bia, hoặc kết hợp với một bộ phận của mẫu chữ ngụy tạo khác hình thành nên rất nhiều kiểu niên đại ngụy tạo khác nhau.

Ví dụ từ dòng niên đại mẫu NX1, ba chữ "Lê Cảnh Hưng" được trích ra để ngụy tạo niên hiệu cho 8 thác bản khác nhau (như các số No856, 1180, 1403); riêng hai chữ niên hiệu "Cảnh Hưng" cũng được sử dụng cho 23 thác bản (nhưNo1807, 1831, 2727, 3474, 3475); đoạn ngày tháng và năm thứ "nguyên niên tam nguyệt cát nhật" cũng thấy xuất hiện ở 3 trường hợp ngụy tạo khác (các thác bản No1834, 2706, 3325). (Hình 11).

Bằng cách này, từ hai mẫu NX1 và NX2 đã tạo ra một số mẫu ngụy tạo phái sinh:

- Mẫu NX1 phái sinh ra NX1a, NX1b và NX1c (Xem Hình 12).

- Mẫu NX2 phái sinh ra NX2a, NX2b và NX2c (Xem Hình 13).

3. Mẫu chữ ngụy tạo của nguồn Y:

Nguồn Y có 6 mẫu chính, được kí hiệu là NY1, NY2, NY3, NY4, NY5 và NY6 (xem Hình 14).

Các mẫu của nguồn này được phát hiện trên thác bản bia ngụy tạo của hai tỉnh Hải Dương và Nghệ An, trong đó:

- Mẫu NY1: là dòng niên đại (Lê triều Cảnh Hưng tam thập cửu niên lương nguyệt cát nhật).

- Mẫu NY2: là dòng niên đại 黎朝景興十年五月十五日(Lê triều Cảnh Hưng thập ngũ niên ngũ nguyệt thập ngũ nhật).

- Mẫu NY3: là dòng niên đại: (Lê triều Vĩnh Thịnh tam niên chính nguyệt sơ cát nhật).

- Mẫu NY4: hai chữ niên hiệu (Bảo Hưng);

- Mẫu NY5: hai chữ niên hiệu (Chính Hòa);

- Mẫu NY6: là dòng niên đại (Hoàng triều Vĩnh Thịnh thập tam niên tam nguyệt sơ nhị nhật lập).

Tương tự như nguồn X, các mẫu ngụy tạo niên đại của nguồn Y cũng có hiện tượng phái sinh, trong đó:

- Mẫu NY1 phái sinh ra mẫu NY1a và mẫu NY1b (Hình 15);

- Mẫu NY2 phái sinh ra mẫu NY2a và mẫu NY2b (Hình 16);

- Mẫu NY3 phái sinh ra mẫu NY3a và mẫu NY3b (Hình 17);

- Mẫu NY6 phái sinh ra mẫu NY6a (Hình 18).

Tổng cộng lại, từ các mẫu chữ niên đại của 2 nguồn ngụy tạo, ta có thể khái quát xác định ra được 24 mẫu chữ niên đại chủ yếu thường thấy xuất hiện trên thác bản ngụy tạo niên đại.

Tuy có đến 24 kiểu mẫu chữ khác nhau, nhưng chắc chắn cũng chỉ cần có 11 khuôn chữ chính được tạo ra của cả hai nguồn là đủ để in rập nên các kiểu niên đại ngụy tạo đa dạng trên thác bản.

Ngoài những mẫu chữ chủ yếu có tần số xuất hiện nhất định nêu trên, trong quá trình điều tra thực tế ta còn gặp một số mẫu chữ ngụy tạo khác của cả hai nguồn, nhýng chỉ xuất hiện lẻ tẻ không quy luật, ít khi thấy lặp lại ở thác bản thứ hai. Qua thống kê, những mẫu loại này phân tán xuất hiện cả ở hai nguồn. Nguồn X có 35 trýờng hợp và nguồn Y có 18 trường hợp. Trong số đó, chúng tôi đã xác định được một số trường hợp niên đại ngụy tạo là in rập lại từ chữ mẫu trên tấm bia khác.

Ví như mặt thác bản ngụy tạo ghi niên hiệu “Chính Hòa vạn vạn niên chi nhị thập ngũ trọng hạ cốc đán số” (No4198), sau khi đối chiếu so sánh có thể xác định là được in lại từ dòng niên đại của bia có thác bản No4200 (Hình 19). Tương tự, dòng niên đại ngụy tạo “Cảnh Hưng tứ thập niên cửu nguyệt cát nhật trên thác bản” (No1784) là lấy từ bia thác bản No1795 (Hình 20); dòng niên đại ngụy tạo “Lê triều Cảnh Hưng chi Mậu Tí niên lương nguyệt bi kí” của thác bản No1888 là lấy từ trán bia thác bản No1862 (Hình 21) v.v...

Đặc điểm của kiểu ngụy tạo này là mẫu chữ được in rập từ bia luôn bao gồm cả một dòng niên đại hoàn chỉnh, mỗi mẫu niên đại lấy từ bia thường chỉ in ra một lần ở một thác bản ngụy tạo niên hiệu, đồng thời chúng tôi cũng còn có nhận xét rằng thác bản của bia cung cấp mẫu niên đại và thác bản ngụy tạo niên đại thường có kí hiệu đãng ký tương đối gần nhau, chứng tỏ chúng đều thuộc cùng 1 lần (hoặc 1 đợt) sưu tầm và đăng kí nhập kho. So với các dạng ngụy tạo khác thì cách ngụy tạo theo kiểu "copy" dòng niên đại trên bia ít được sử dụng.

Danh sách các mẫu ngụy tạo của cả hai nguồn cùng với số lần xuất hiện của chúng trên thác bản cụ thể được liệt kê trong phụ bảng kèm theo ở cuối bài.

Sự xuất hiện các mẫu chữ niên đại ngụy tạo trên thác bản

Mẫu chữ ngụy tạo

Số lần xuất hiện

Kí hiệu thác bản có xuất hiện mẫu chữ ngụy tạo (No)

NX1

11

975; (1059, 1060); 1125; 1782; 2037; (2242, 2243, 2244, 2245); 2726; 3327; (3337, 3338); (3556, 3557, 3558); 3569;

NX1a

8

(856, 0857); 1180; 1403; 2264; 3073; 3087; (3276, 3277); 3326;

NX1b

23

286; 1120; 1134; 1143; 1144; 1479; 1485; 1807; 1831; 2727; 3475; 3474; 3483; 3501; 3516; 3516; 3539; (4396, 4429); 4426; 4719; 4747; 4748; (4755, 4756);

NX1c

3

(1832, 1833, 1834, 1835); 2706; 3325;

NX2

17

279; (883, 0884); 994; 1040; 1058; 1061; (1189, 1190); 2709; 3086; 3328; (3339, 3340); (3506, 3507); (3506, 3507); (3553, 3554, 3555); (4185, 4186); 4732; 4737;

NX2a

10

1149; 1537; 1776; 2254; 2311; 2708; 3075; (3484, 3485); 3566; (3733, 3734);

 

NX2b

 

24

23; (026, 0027); 278; 974; 1158; (1288, 1289); 1413; 1664; (1692, 1693); (2038, 2039); (2040, 2041); (2042, 2043); (2233, 2234); 3089; 3090; 3318; 3541; 4118; 4417; 4428; (4726, 4727); 4729; 4731; 4754;

NX2c

4

979; (2719, 2720); 3290; (3869, 3870);

 

 

NX3

 

 

39

22; 285; 934; 976; 977; 981; 1106; 1119; 1123; 1137; 1141; 1147; 1148; 1182; 1196; 1401; 1407; 1536; 1481; 1535; (1832, 1833, 1834, 1835); 2112; (2265, 2266); (2292, 2293); 2706; 2728; 3074; 3085; 3091; 3092; 3093; (3278, 3279); 3329; 3325; 3473; (3542, 3543); (3572, 3573, 3574, 3575); (4721, 4730); (4749, 4750);

 

NX4

 

18

978; 1136; 1484; 1484; (2216, 2217); (2699, 2700); (2719, 2720); 3094; 3290; (3335, 3336); 3576; (3544, 3545, 3546, 3547); (3869, 3870); (4190, 4191); (4421, 4422, 4423, 4424); 4427; 4740; 4745;

NX5

7

(877, 0878); 979; 1408; 3088; 4420; (4715, 4751); (4734, 4735);

NY1

3

2426; (2430, 2431); (2834, 2835, 2836, 2837);

NY1a

2

2652; (2818, 2819, 2820, 2821);

NY1b

8

(2628, 2629); (2638, 2639); (2640, 2641); (2653, 2654); (2655, 2656); (2657, 2658); (2671, 2672); (2826, 2827);

NY2

2

(2394, 2395, 2396, 2397); (2411, 2412, 2413, 2414);

NY2a

3

(2405, 2406); (2407, 2408); 2427;

NY2b

1

(2421, 2422);

NY3

2

(2392, 2425); (2846, 2847);

NY3a

5

(2409, 2410, 2428, 2429); (2650, 2651); (2665, 2666); 2822; (2840, 2841);

NY3b

7

(2659, 2660); (2661, 2662); (2663, 2664); (2667, 2668, 2669, 2670); (2816, 2817); (2828, 2829); (2830, 2831);

NY4

4

2823; (2832, 2833); (2838, 2839, 2850, 2851); (2848, 2849);

NY5

2

(2902, 2903); 2942;

NY6

2

2928; (2950, 2951);

NY6a

1

2925;


Ghi chú:

Hiện vẫn còn một trường hợp thác bản No279 có mang dòng niên đại "Lê Chính Hòa thập nhất niên đông nguyệt cát nhật", nhưng do nội dung văn bia quá thiếu thông tin nên chưa thể xác định được niên đại thực sự của văn bia này là thuộc đời Lê hay muộn hơn.


Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (78) 2006; Tr.40-47

Nguyễn Văn Nguyên
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm